15. Giới thiệu một số Châu bản thời Nguyễn với việc chăm sóc sức khỏe vua Gia Long
GIỚI THIỆU MỘT SỐ CHÂU BẢN THỜI NGUYỄN VỚI VIỆC CHĂM SÓC SỨC KHỎE VUA GIA LONG
NGUYỄN THỊ DƯƠNG
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Có một nguồn tài liệu vô cùng sống động và có giá trị đối với các nhà nghiên cứu lịch sử song có lẽ do có đặc trưng đặc biệt nên không dễ dàng tham khảo được: đó chính là Châu bản. Châu bản là những “văn bản chính thức của nhà nước bao gồm các sắc, dụ, chiếu, chỉ do Hoàng đế ngự phê bút son và các tờ tấu, sớ, biểu, trình... do các tỉnh hoặc các bộ, viện, nha ở trung ương trình lên Hoàng thượng duyệt lãm”... Dưới thể chế chính trị phong kiến trung ương tập quyền, nhà vua là người có quyền tối cao và đưa ra quyết định về mọi vấn đề của đất nước. Mọi văn bản hành chính từ dưới đưa lên cũng đều phải được nhà vua đọc duyệt. Chính vì thế châu bản là một kho tàng sử liệu phong phú và đáng tin cậy trong việc nghiên cứu lịch sử về mọi mặt như kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, tư tưởng, phong tục, y học... mặc dầu số châu bản hiện còn chỉ là một con số khiêm tốn so với số châu bản vốn có.
Nguyễn Ánh (Gia Long 1762- 1819) là người đã sáng lập ra triều nhà Nguyễn - triều đại phong kiến cuối cùng và cũng là dài nhất trong lịch sử Việt Nam. Sau 18 năm ở ngôi, vào năm 1819 do bệnh trọng, ông qua đời ở tuổi 58. Đọc những bộ sử quan trọng về triều Nguyễn, như Đại Nam thực lục, thấy có đôi ba chi tiết nói về sự việc này. “Ngày Bính Tý [tháng 11] vua không được khỏe, Hoàng Thái tử vào chầu”..., “Ngày Kỷ Hợi, vua ốm nặng”, “Ngày Đinh Mùi, vua băng ở điện Trung Hòa thọ 58 tuổi”(1). Tuy nhiên có một nguồn tài liệu của triều đình- đó là châu bản triều Gia Long, trong đó có phần Ngự dược nhật ký (ghi chép về việc dùng thuốc của vua) đã cung cấp khá nhiều thông tin xung quanh việc chăm sóc sức khỏe cho Gia Long từ lúc ông nhuốm bệnh cho tới khi qua đời. Thiết nghĩ đây là một tài liệu hữu ích, chúng tôi xin được giới thiệu về văn bản này(2).
1. Về xuất xứ nguồn gốc văn bản
Phần Ngự dược nhật ký này nằm trong tập 5 của châu bản triều vua Gia Long(3), gồm cả thảy 94 tờ, chữ Hán hơi đá thảo viết trên giấy dó, phần nhiều các tờ đều có đóng ấn của triều đình “Hoàng thái tử thủ tín” và có ấn của các Ngự y hoặc các vị quan có liên quan. Tờ đầu có ghi: “Gia Long Kỷ Mão, Ngự dược tự chính nguyệt chí thập nhị nguyệt cộng cửu thập tứ trang, nội hậu tứ trang vị hữu châu đề châu bảo” (Năm Gia Long Kỷ Mão (1819), ghi chép về việc dùng thuốc của vua từ tháng giêng đến tháng 12, tổng cộng 94 trang, trong đó bốn trang sau chưa có châu phê, đóng ấn). Cụ thể các văn bản này được chép từ ngày 15 tháng giêng đến ngày 15 tháng 12 năm Gia Long 18.
2. Về nội dung văn bản
Gồm những bản tấu, khải chủ yếu do Thái y viện dâng (có 2 tờ Khải do Dinh Quảng Đức dâng) chép về việc các Ngự y ở Viện Thái y Ngự dược theo dõi và dâng thuốc điều trị bệnh cho vua Gia Long (cũng có một vài vị quan khác dâng thuốc), hầu hết đều có Châu phê. Một số còn ghi rõ tình trạng mạch vua mỗi ngày. Đơn thuốc có ghi rõ thành phần, liều lượng và phần lớn có ghi cách dùng.
3. Một vài nhận xét
3.1. Các bài thuốc được dâng
Các bài thuốc được sử dụng đan xen các ngày gồm
- Bát vị hoàn, Bát vị thang: (được sử dụng trong 28 ngày, 49 lần, có ngày uống hai lần trưa tối hoặc sớm tối, đặc biệt từ ngày 14/11 đến ngày 5/12), Bổ trung ích khí (1 lần), Dị công thang gia vị (1 lần), Nhân sâm dưỡng vị (3 lần), Hồi nguyên ẩm (5 ngày, 6 lần), Hồi nguyên cao (2 ngày, 2 lần), Hương sa lục quân (1 lần), Lục vị hồi dương ẩm (1 ngày, 1 lần), Lý trung thang (21 lần), Lý trung gia phụ tử (13 lần), Sâm phụ (2 lần), Thận khí gia giảm (1 lần), Thất vị thang (20 ngày, 36 lần), Thọ tỳ tiễn (24 ngày, 24 lần, vào buổi trưa), Thuốc bôi ngoài (2 lần), Hồng Thăng đan (1 lần), Trà gừng (2 ngày 2 lần), Tứ quân tử (2 ngày, 2 lần), Vị quan tiễn (19 ngày, 24 lần).
Trong đó, các phương thuốc được dâng lên nhiều nhất là Bát vị (sắc hoặc hoàn (25 ngày) Thọ tỳ tiễn (24 ngày), Lý trung thang (21 ngày), Thất vị thang (20 ngày), Vị quan tiễn (19 ngày). Có ngày 3 bài thuốc được dâng lên vua (thường do hai Ngự y trong Thái y viện cùng dâng song cũng có trường hợp như ngày 16 tháng 10 Nguyễn Tiến Hậu và Đoàn Văn Hòa mỗi người dâng một đơn riêng (tuy cùng một bài thuốc Vị quan tiễn song chỉ khác nhau về liều lượng một vị thuốc mà thôi). Khoảng từ tháng giêng tới tháng 4, đơn thuốc tập trung vào các thang Bát vị gia giảm, Lý trung thang (gia vị) và Nhân sâm dưỡng vị. Khoảng từ tháng 5 tới tháng 9, đơn thuốc hỗn tạp hơn (Hương sa lục quân, Lý trung thang, Trà gừng, Tứ quân tử, Thất vị thang, Thọ tỳ tiễn, Bổ trung ích khí, Vị quan tiễn). Tháng 10 tập trung vào Vị quan tiễn, Lý trung thang; mấy ngày cuối tháng 10 chủ yếu dùng Thất vị thang và Thọ tỳ tiễn. Tháng 11 từ ngày 1 tới ngày 13 chỉ dùng hai bài Thất vị thang (sáng, chiều) và Thọ tỳ tiễn (trưa); từ ngày 14 trở đi đổi sang Bát vị hoàn (sáng, chiều) và Thọ tỳ tiễn hoặc Lý trung thang (trưa). Tháng 12 dùng các bài Bát vị, Lý trung, Hồi nguyên ẩm, Hồi nguyên cao, Lý trung gia phụ tử, Thận khí, Sâm phụ, và hai bài thuốc cuối cùng ghi trong Ngự dược nhật ký là Lục vị hồi dương ẩm và Tứ quân tử (gia vị).
Nhìn vào bảng phụ lục 4 ta thấy các đơn thuốc gần như không phải dùng liên tục hàng ngày (tháng giêng ghi hai ngày, tháng 2: 2 ngày, tháng 3: 1 ngày, tháng 4: 4 ngày; tháng 5: 2 ngày, tháng 6: 3 ngày, tháng 7: 1 ngày, tháng 8: 4 ngày, tháng 9: 3 ngày, tháng 10: 23 ngày; tháng 11: cả tháng; tháng 12: 14 ngày). Với việc ghi chép như trên cho thấy bệnh tình vua Gia Long trầm trọng hơn hẳn từ tháng 10 (vì số ngày kê đơn nhiều lên, nhiều ngày liên tiếp nhau và lượng dùng cũng tăng lên, nhà vua phải dùng thuốc cả ba buổi sáng, trưa, chiều. Đặc biệt tháng 11 có ghi đơn thuốc cho cả tháng).
3.2 Về các Ngự y chăm sóc sức khỏe cho vua
Nhật ký Ngự dược cũng ghi rõ tên một số ngự y kê đơn thuốc cho vua như Ngự y phó Đoàn Đức Hoảng (có chỗ ghi là Ngự y chính), Ngự y chính Nguyễn Tiến Hậu, Ngự y chính Đoàn Văn Hòa. Trong các đơn thuốc thường ít nhất ghi tên hai ngự y dâng thuốc cho vua (từ tháng giêng tới tháng 8 là Nguyễn Tiến Hậu với Đoàn Đức Hoảng, còn từ tháng 9 trở đi công việc do Nguyễn Tiến Hậu với Đoàn Văn Hòa đảm nhiệm. Có lúc một mình Nguyễn Tiến Hậu kê đơn. Từ tháng 10 trở đi, cứ một ngày Nguyễn Tiến Hậu thì một ngày Đoàn Văn Hòa, luân phiên kê đơn (lúc này bắt đầu ghi chép lại việc bắt mạch). Những ngày cuối một mình Nguyễn Tiến Hậu đảm nhiệm việc dâng dược.
Ngoài ra còn có một số vị quan khác không thuộc Thái y viện cũng dâng thuốc như Nguyễn Ngọc Huy dâng thuốc bôi ngoài da trị ngứa (ngày 20/1), Nguyễn Tiến Bảo dâng thuốc bôi ngoài da (ngày 20/1), Nguyễn Văn Thành (Tống Sơn, Hà Trung) dâng bài thuốc viên (ngày 2/2), Cai bạ dinh Quảng Đức, Trần Vân Đại (hầu mạch và kê bài Lý trung gia phụ tử, Bát vị).
3.3. Về bệnh trạng sức khỏe vua Gia Long và sự chăm sóc của các Ngự y
Qua những bài thuốc mà các Ngự y dâng lên cho vua Gia Long có thể được phần nào bệnh tình của ông. Nhìn chung hệ tiêu hóa của vua kém, hạ tiêu hàn nên hay đầy bụng, ăn uống không tiêu, thêm nữa là tỳ thận rất kém. Trong gần một năm, các Ngự y đã dâng khá nhiều bài thuốc. Đường hướng trị liệu của các Ngự y có thể phác thảo như sau: giai đoạn đầu bổ thận dương là chính, kết hợp với lý khí; giai đoạn tiếp theo bổ tỳ vị dương là chính, sau đó lại quay sang bổ tỳ vị âm là chính, kết hợp với lý khí. Tiếp theo đó, lại quay trở về bồi bổ thận, bổ thận dương và lý khí, cuối cùng bổ thận dương và bồi bổ nguyên khí. Nhìn đại thể cách điều trị này nghiêng về bổ, lắm khi dùng nhiều vị nóng khiến cho âm hư. Ban đầu chỉ là trung khí hư suy, nhưng có lẽ do bổ dương quá nhiều nên đã phạm vị, làm cho cả dương lẫn âm đều hư, kết cục nguyên khí cũng bị suy nốt. Nhìn vào bảng phụ lục 4 ta có thể thấy, vào những ngày cuối đời vua Gia Long, các Ngự y đã phải kê dâng các thang Hồi nguyên ẩm, Hồi nguyên cao, Lục vị hồi dương ẩm, Sâm phụ song vẫn không cứu vãn nổi được tình thế.
Trong số các thang thuốc dâng lên vua thì Bát vị là bài thuốc được sử dụng với tần số lớn hơn cả. Song thang này đều có gia giảm chứ không dùng nguyên thang của Trung Quốc. Chẳng hạn nhìn vào bảng phụ lục 1 ta thấy, trong đơn thuốc ngày 15 tháng 1, sơn thù du là một vị thuốc bổ âm khá quan trọng trong thang thuốc kinh điển Trung Quốc đã bị lược bỏ; Còn trong đơn thuốc kê ngày 21 tháng 3, hai vị thuốc trong thang kinh điển của Trung Quốc đã bị lược đi: đó là mẫu đơn bì có tác dụng bổ âm và và trạch tả nhằm thông trệ. Thang thuốc được dùng nhiều thứ hai sau Bát vị là Thọ tỳ tiễn (xin xem bảng phụ lục 2). So với thang kinh điển Trung Quốc thì các thang Thọ tỳ tiễn kê trong Châu bản triều Gia Long (CBGL) chỉ bỏ có một vị là đương quy. Song liều lượng của các thành phần còn lại của thang thuốc lại quá ít so với liều lượng thang của Trung Quốc, chỉ có hoài sơn và sa sâm được dùng với liều lượng lớn hơn cả. Thang thuốc kê dâng lên vua Gia Long thiên về an thần, bổ tỳ can âm, bổ khí mà dường như quên mất bổ phần huyết. Đương quy là một vị thuốc có tác dụng bổ huyết hoạt huyết, trong thang kinh điển Trung Quốc vị này được sử dụng với liều lượng khá lớn (2 tiền, chỉ sau bạch truật- 2,3 tiền). Trong khi đó thang Thọ tỳ tiễn dâng lên vua Gia Long thì lại bị bỏ đi (đơn kê ngày 11 /11); hoặc nếu được kê thì liều lượng cũng rất ít (0,5 đồng cân, trong đơn kê ngày 25/8). Sau Bát vị và Thọ tỳ tiễn, Lý trung thang cũng được kê nhiều lần trong đơn thuốc của vua Gia Long. So với thang thuốc kinh điển Trung Quốc thì thang thuốc kê trong CBGL có sự cải thuốc một vị: đó là thay nhân sâm bằng sa sâm. Nhân sâm là vị bổ khí đầu vị nhưng các Ngự y của Gia Long đã không dùng. Không hiểu đó là do bấy giờ thiếu nhân sâm hay là vì lý do nào khác mà các Ngự y đã thay bằng sa sâm ?
Trong triều đình Thái y viện là cơ quan chuyên chăm lo sức khỏe cho Hoàng cung. Trong số châu bản triều Nguyễn hiện còn thì chỉ riêng có triều Gia Long là có nhật ký Ngự dược. Xưa nay các hoạt động của Thái y viện nói riêng cũng như về y học nói chung không được đề cập nhiều trong sử sách. Vì thế những văn bản này sẽ góp phần cung cấp thêm những tư liệu về hoạt động của Thái y viện cũng như y học Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Tiếc rằng kiến thức về y học có hạn nên chúng tôi không thể đi sâu thêm hơn. Chúng tôi chỉ có thể làm một việc đơn giản là cung cấp giới thiệu tư liệu để người đọc tham khảo(*).
Bảng phụ lục 1
So sánh bài thuốc Bát vị trong Châu bản triều Gia Long (CBGL) với thang Bát vị của Trung Quốc
Tên bài thuốc | Bát vị gia nhân sâm thang | Bát vị thang gia giảm | Bát vị hoàn tán gia giảm | |
Nguồn gốc | Thôi thị phương (Trung Quốc y học đại từ điển, tập 1, tr.77- 78) | Châu bản triều Gia Long (CBGL), bản Tấu của Thái Y viện Ngự dược ngày 15/1 năm Gia Long thứ 18 | CBGL, bản Tấu của Thái Y viện Ngự dược ngày 21/3 năm Gia Long thứ 18 | |
Thành phần, liều lượng | - Thục địa hoàng: 8 lạng(4) | - Thục địa: 0,8 đồng cân(5) (đ.c) | - Thục địa: 1 lạng | |
- Sơn dược: 4 lạng | - Hoài sơn: 2 đ.c | - Hoài sơn: 1,5 lạng | |
- Sơn thù du: 4 lạng | - Bỏ | - Du nhục: 4 đ.c | |
- Bạch phục linh: 3 lạng | - Phục linh: 7 phân | - Phục linh: 3 đ.c |
- Mẫu đơn bì: 3 lạng | - Mẫu đơn bì: 3 lạng | - Bỏ |
- Trạch tả: 3 lạng | - Trạch tả: 0,1 đ.c | - Bỏ |
- Phụ tử: 1 lạng (2 lạng) | - Phụ tử: 3 phân(6) | - Phụ tử: 2 đ.c |
- Nhục quế: 1 lạng (2 lạng) | - Nhục quế: 0,5 đ.c | - Nhục quế: 3 đ.c. |
| Thêm: - Bạch truật: 1 đ.c - Ngũ vị: 0,1 đ.c - Sa sâm: 1,5 đ.c - Liên nhục: 0,5 đ.c | Thêm: - Bạch truật: 7 đ.c - Ngũ vị: 1 đ.c - Sa sâm: 1 lạng (Có thang cũng các thành phần như trên còn có thêm Táo nhục và Trắc bách diệp (ngày 10/2) hoặc Táo nhục với Bổ cốt chỉ (ngày 7/7) |
Công dụng, cách dùng | 1. Chủ trị mệnh môn hỏa suy và thận hư. 2. Mệnh môn hỏa suy và tỳ hư hoặc tiện đường thực thiểu nan hóa cập ngược lao... | | Hoàn tán trộn với bột Hoài sơn, viên nhỏ như hạt đỗ xanh, mỗi lần uống 3 đồng cân với trà xanh lúc đói | |
| | | | | | |
Bảng phụ lục 2
So sánh bài thuốc Thọ tỳ tiễn kê trong CBGL với bài Thọ tỳ tiễn của Trung Quốc
Tên bài thuốc | Thọ tỳ tiễn | Thọ tỳ thêm vị (sắc) | Thọ tỳ thêm vị sắc | |
Nguồn gốc | Trương Cảnh Nhạc phương (Trung Quốc y học đại từ điển, tập 4 tr.3745, 3746) | Châu bản triều Gia Long (CBGL), bản Tấu của Thái Y viện ngày 25/8 năm Gia Long thứ 18 | CBGL, Khải của Thái Y viện ngày 11/11 năm Gia Long thứ 18 | |
Thành phần, liều lượng | - Bạch truật: 2,3 tiền | - Bạch truật: 1 đ.c | - Bạch truật: 1,5 đ.c | |
- Đương quy: 2 tiền | - Đương quy thân (0,5 đ.c, sao hạ thổ) | - Bỏ | |
- Cam thảo (nướng) 1 tiền | - Chích thảo: 1 chút | - Chích thảo: 1 chút | |
(- Toan táo nhân: 1,5 tiền) | - Toan táo: 0,5 đ.c | - Toan táo: 0,3 đ.c |
(- Viễn chí: 3, hoặc 5, hoặc 7 phân) | - Viễn chí: 0,3 đ.c | - Viễn chí: 0,2đ.c |
- Bào khương: 1,2 tiền | - Gừng nướng: 0,1 đ.c | - Bào khương: 0,2 đ.c |
- Sơn dược: 2 tiền | - Hoài sơn: 2 đ.c | - Hoài sơn: 2 đ.c |
- Nhân sâm: 1,2 tiền (cấp giả tùy chứng đa gia) | - Sa sâm: 2 đ.c | - Sa sâm: 2 đ.c |
- Liên nhục (bỏ lõi, sao) 20 chiếc | - Liên nhục: 0,3 đ.c | - Liên nhục: 0,3 đ.c |
| - Hoàng kỳ: 0,5 đ.c | - Hoàng kỳ: 1 đ.c |
| | - Ô mai: 1 quả (đơn do Nguyễn Tiến Hậu dâng) Trong thang ngày 11/11 của Đoàn Văn Hòa dâng thì có thêm Thăng ma sao (0,1 đ.c), những ngày sau thì lại bỏ Ô mai, thăng ma và thêm Ngũ vị (như các thang ngày 16, 18, 19/11) |
Công dụng | Trị tỳ hư bất năng nhiếp , huyết, khiến trung khí khuy hãm, thần hồn chẳng yên, đại tiện thoát huyết bất năng chỉ, phụ nhân vô hỏa, băng lâm đới hạ... | | | |
Cách dùng | Sắc lấy nước uống | Nước 4/3 bát, sắc lấy 6 phần uống lúc đói. | Nước 1,5 bát sắc lấy 6 phần uống xa bữa ăn. | |
| | | | | | |
Bảng phụ lục 3
So sánh bài thuốc Lý trung thang kê trong CBGL với bài Lý trung thang của Trung Quốc
Tên bài thuốc | Lý trung thang | Lý trung thang thêm vị | Lý trung thang thêm vị | |
Nguồn gốc | Thương hàn luận phương (Trung Quốc y học đại từ điển, tập 3, tr.2603) | Châu bản triều Gia Long (CBGL), bản Tấu của Thái y viện ngày 21/3/ năm Gia Long 18 | CBGL, bản Tấu của Thái y viện ngày 4/4 năm Gia Long 18 | |
Thành phần, liều lượng | - Nhân sâm: 3 lạng | - Sa sâm: 3 đ.c | - Sa sâm: 3 đ.c | |
- Bạch truật: 3 lạng, sao vàng | - Bạch truật: 1,7 đ.c | - Bạch truật: 1 đ.c | |
- Cam thảo: nướng, 1 lạng (hoặc 3 lạng) | - Chích thảo: 1 ít | - Chích thảo: 1 ít | |
- Can khương: 2 lạng (hoặc 3 lạng, ngâm) | - Gừng nướng: 3 phân | - Gừng nướng: 0,3 đ.c |
| - Phục thần: 1 đ.c | - Phục linh: 0,7 đ.c |
| - Hoàng kỳ: 7 phân | - Hoắc hương: 0,3 đ.c |
| - Táo chua: 5 phân | - Sa nhân: 0,2 đ.c |
| - Gừng tươi: 3 lát. | - Hậu phác: 0,5 đ.c |
| | (Một số ngày khác Lý trung thang còn có thêm các vị khác là Ngũ vị (ngày 18, 19/11); Ngũ vị, Quế thanh hoa (các ngày 22, 23, 25, 26,27 /11) |
Công dụng | Kiêm trị thương vị thổ huyết. | | | |
Cách dùng | Bỏ vào 8 thăng nước thanh thủy sắc lấy 3 thăng, bỏ bã, chia làm 3 lần trong ngày, uống ấm | | | |
| | | | | | |
Chú thích:
2Thực ra, trong bài Những tư liệu của các hoàng đế An Nam và lịch sử Việt Nam của học giả người Pháp Paul Boudet viết trong Tập san Đô thành hiếu cố (Les Archives des Empereurs d’Annam et l’histoire annamite (Paul Boudet) Bulletin des amis du view Hue, No 3 (tháng 7-9) năm 1942, tr.229- 259) đã phần nào đề cập tới văn bản Ngự dược này, nhưng chỉ giới thiệu 2 đơn thuốc (có cả ảnh trong phần phụ lục) của phần Ngự dược mà thôi.
(*) Bài viết đã nhận được sự chỉ dẫn của Nghiên cứu viên Nguyễn Văn Nguyên, Viện Nghiên cứu Hán Nôm về nguồn tư liệu và sự chỉ bảo kiến thức chuyên môn của Lương y, Dược sĩ Bùi Thị Trường cùng Thầy thuốc ưu tú, Tiến sĩ Phạm Viết Dự. Nhân đây, chúng tôi xin chân thành cảm ơn.
Trung Quốc y học đại từ điển, Vũ Tiến Tạ Quan biên toản. Thương vụ ấn thư quán./.