16. Các tư liệu Hán Nôm ở lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ (TBHNH 2001)
CÁC TƯ LIỆU HÁN VĂN Ở LĂNG VÀ ĐỀN THỜ KINH DƯƠNG VƯƠNG, LẠC LONG QUÂN - ÂU CƠ
Bảo tàng Bắc Ninh
Bất cứ ai khi dở cuốn sách Địa chí Hà Bắc do Ty Văn hoá Thông tin – thư viện tỉnh Hà Bắc xuất bản năm 1982, ngay từ những trang đầu tiên là một hình ảnh về lăng Kinh Dương Vương - đây chính là lăng mộ của các anh hùng mở nước – thuỷ tổ dân tộc. Để tìm hiểu một cách toàn diện về một vùng đất cổ và phong phú như vùng Á Lữ này, thì phải hiểu nó một cách thấu đáo, kỹ càng. Để phát huy, khai thác những vốn cổ truyền thống, nhằm phục vụ cho công cuộc xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ngày hôm nay.
Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, biết bao nhiêu sự tàn phá, huỷ hoại của thiên nhiên và của chính con người. Nhưng giờ đây khu lăng mộ và đền thờ vẫn còn đó, tôn nghiêm và hùng vĩ bên hữu ngạn sông Đuống. Đây là khu di tích rất tiêu biểu của Bắc Ninh còn được giữ gìn đến ngày nay. Nó đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong sự hình thành và phát triển đất nước, con người nước Nam. Nó là bằng chứng, là tư liệu lịch sử, là nơi để giáo dục truyền thống cho mọi người và giúp mọi người hiểu sâu sắc về tổ tiên.
Vì những lẽ đó, mặc dù các nguồn tư liệu còn rất hạn chế, song việc tìm hiểu vấn đề Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ vẫn ngày càng trở thành một đòi hỏi cấp bách và cũng tạo ra không ít hứng thú trong quá trình tìm hiểu để sáng tỏ nhiều vấn đề liên quan đến Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ.
Hiện nay, trong các thư tịch cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc ghi chép về Kinh Dương Vương, họ Hồng Bàng nói chung có một số lượng đáng kể. Các tác giả Nguyễn Linh trong bài Vài suy nghĩ về việc tìm hiểu thời đại Hồng Bàng (Nghiên cứu lịch sử, số 100 tháng 7 năm 1967). Hoàng Hưng trong bài Thời đại Hùng Vương trong thư tịch xưa (Nghiên cứu lịch sử, số 123 tháng 6 năm 1969) đã làm những thống kê tương đối đầy đủ. Ở đây, chúng tôi chỉ xin lưu ý một số vấn đề về việc ghi chép về Kinh Dương Vương của một số sách cổ như sau:
Các sách của Trung Quốc xưa: Giao Châu ngoại vực ký, Quảng Châu ký... đều không ghi nhận họ Hồng Bàng với tư cách là một dòng vua có thế thứ trị vì một đất nước có tên gọi rõ ràng, có cương vực cụ thể.
Các thư tịch cổ Việt Nam ghi chép về Kinh Dương Vương và họ Hồng Bàng mà hiện nay chúng ta được biết, đều là những sách được làm ra sớm nhất là từ thế kỷ 14 như: Việt điện u linh (1329); Việt sử lược khoảng 1377... Do đó khoảng cách thời gian giữa thời đại được mệnh danh là thời kỳ họ Hồng Bàng với thời điểm làm sách là quá xa. Thực chất của sự ghi chép về thời kỳ lịch sử này của các sử gia phong kiến rất có thể là sự ghi lại những truyền thuyết về họ Hồng Bàng như lời của sử gia Ngô Sĩ Liên “dĩ nghi, tồn nghi”.
Sách Việt sử lược chỉ ghi ngắn gọn về thời kỳ Hùng Vương như sau: “Đến thời Trang Vương nhà Chu (692 – 682 TCN) ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương, đóng đô ở Văn Lang. Phong tục thuần hậu chất phác, chính sự dùng nối kết nút – truyền được 18 đời, đều gọi là Hùng Vương” (trang 14 bản dịch).
Sách Đại Việt sử ký toàn thư phần Ngoại kỷ có riêng kỷ họ Hồng Bàng, nhưng cũng chỉ ghi rất vắn tắt.
Đó là các sách ghi về thời kỳ của họ Hồng Bàng. Lâu nay, mỗi người dân Bắc Ninh nói riêng về nhân dân cả nước nói chung đều đã biết đến truyền thuyết về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ. Nhiều người đã được đến viếng thăm, chiêm ngưỡng khu di tích. Nhiều người chưa một lần được đến thăm khu di tích. Để cho khách tham quan và các nhà nghiên cứu hiểu rõ những vấn đề liên quan đến Lăng và Đề thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ, chúng tôi xin tham góp một vấn đề liên quan đến khu di tích này. Đó là các tài liệu chữ Hán hiện có ở Lăng và Đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ.
Cũng xin được thưa trước, bất cứ ai khi nghiên cứu về di sản văn hoá nói chung, di sản văn hoá Hán Nôm nói riêng đều nhận thấy chúng là loại chữ viết đặc biệt thường được viết rất đẹp và đều do các bậc túc nho soạn và viết nên. Hơn nữa, xét về phương diện nội dung, ý nghĩa thì càng không thể thiếu vắng sự hiện diện của chúng đối với các di tích. Đặc biệt quan trọng như khu di tích này. Chúng có thể giúp cho mọi người có một tầm nhìn và cảm nghĩ thấu đáo hơn khi đến vãng cảnh khu di tích được coi là “chốn tổ” của Việt Nam.
1. Khu lăng mộ Kinh Dương Vương
Khu này nằm ở ngoài đê sông Đuống, trên một diện tích đất rất rộng khoảng trên 4000m2. Thực ra khu lăng mộ này mới được xây dựng lại trên nền mộ cũ. Bởi vì vào khoảng năm 1949, lăng mộ cũ đã bị thực dân Pháp phá huỷ hoàn toàn và mãi đến năm 1971 mới được tu dựng lại. Điều đáng chú ý là tại đây vẫn còn lưu giữ được tấm bia đá có kích thước 108cm x 0,45cm, trán bia trang trí hình lưỡng long chầu nguyệt, xung quanh trang trí hoa dây cách điệu, phía dưới là hình sóng nước. Trong lòng bia được khắc tổng cộng 19 chữ. Chính giữa là bốn chữ “Kinh Dương Vương lăng” cỡ chữ 10cm x 10cm, chữ khắc chìm và đẹp, bia có niên đại năm Minh Mệnh 21 (1840). Đọc trong sử cũ. Sách Đại Nam thực lục chính biên cho biết: “Đúng vào mùa xuân năm 1840 này, mà Minh Mạng đã ban ra ân điển 18 điều, trong đó điều 4 nói rõ: “Lăng tẩm đế vương các triều đại có hỏng nát chỗ nào thì thuê dân sửa chữa, lại lập bia chí, cấm dân hái củi ở đấy”.
Như vậy, ta thấy các triều đại trước đã rất quan tâm đến việc tu sửa lăng tẩm của các đế vương và năm đó Kinh Dương Vương là một trong những lăng được tu sửa.
Phía trước cửa lăng mộ có hai ban thờ bằng gạch. Phía trên ban thờ bên phải có hai chữ “Hữu vũ”, ban thờ bên trái có 2 chữ “Tả văn”.
Trong khu lăng có một số câu đối, đại tự được viết như sau:
Hán Việt: - Bất vong.
Tạm dịch: Không quên.
Ý nói cho ta là không bao giờ được quên hoặc sao nhãng chốn tỏ của mình. Phải luôn luôn hướng về cội nguồn và nhớ ơn tổ tiên.
Hán Việt: Nam bang thuỷ tổ.
Tạm dịch: Ông tổ đầu tiên của nước Nam.
Hán Việt: “Lập thạch kỷ công Nam thánh tổ
Phong phần tố tích Bắc thần tôn”.
Tạm dịch: Lập bia là để ghi lại công đức thánh tổ nước Nam
Đắp mộ là để nhớ lại dấu tích thần tôn đất Bắc.
Còn có tài liệu ghi vế 2 của câu đối này là:
“Phong phần quang đức Việt nhi tôn”
Tạm dịch: Đắp mộ cho đức rạng rỡ với con cháu người Việt.
Hán Việt: Việt Nam sơ đầu xuất,
Thần Nông tứ thế phân
Tạm dịch: Ông tổ Việt Nam chính là từ đây,
Cháu 4 đời của Thần Nông chia ra.
Có tài liệu ghi vế 2:
Hồng Bàng vạn đại xương.
Tạm dịch: Họ Hồng Bàng muôn đời thịnh vượng.
Hán Việt: Đức Giang kim lăng miếu,
Nghĩa Lĩnh cổ kinh thành
Tạm dịch: Bên dòng sông Thiên Đức nay còn khu lăng miếu,
Ở núi Nghĩa Lĩnh xưa là khu kinh thành.
Hán Việt:
Vạn cổ giang sơn ân hồn tổ.
Nhất khâu phong vũ ngật hồng bi.
Tạm dịch:
Từ vạn đời cả nước Nam chịu ơn sâu ngọn nguồn tiên tổ;
Một nấm mồ nhỏ, trải bao mưa gió vẫn sừng sừng một tấm bia to.
Ngoài phần này, ở trước lăng phía ngoài có một bia “hạ mã” chất liệu bằng đá xanh cao 65cm, rộng 55cm, dầy 10cm, phần bia là 65cm x 35cm, trán bia trang trí hình hổ phù ngậm chữ thọ, hai chân khuỳnh rộng, phía dưới là những đám mây, xung quanh và trong lòng bia đều trang trí hoa dây cỡ chữ 19cm x 19cm khắc nổi.
Tấm bia “hạ mã” dựng ở phía trước khu lăng, xưa kia dù công hầu hay khanh tướng, dù võng lọng hay ngựa xe hễ đi qua khu lăng mộ này đều phải xuống đi bộ, ít nhất là hết địa phận của lăng. Thế đủ biết Lăng Kinh Dương Vương có địa vị tôn nghiêm tới chừng nào.
2. Đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ
Xưa kia nhân dân Á Lữ tôn thờ ba vị này ở ba nơi như: đình là thờ Kinh Dương Vương, đền trong là thờ Lạc Long Quân và đền ngoài thờ Âu Cơ. Vào năm 1949 tất cả ba khu di tích này đã bị phá, sau đó nhân dân địa phương đã rước ba vị về thờ ở khu Văn chỉ vào năm 1949 và đến ngày này chính là khu Văn chỉ xưa.
Do bị phá huỷ như vậy, đến nay trong đền chỉ còn lại một vài bộ hoành phi, câu đối. Mặc khác về nội dung cũng rất hạn chế và bị trùng lập nhau, một số bộ hoành phi và câu đối giữa lăng và đền. Do sau này ta sao chép từ lăng và đền.
a. Hoành phi:
Hán Việt: Nam bang thuỷ tổ
(Dòng họ Nguyễn Đình cung tiến)
Hán Việt: Nam tổ miếu.
Tạm dịch: Đền thờ ông tổ nước Nam.
Còn lại: Thần truyền thánh kế.
và Đông A khải thánh.
b. Câu đối:
Hán Việt: Việt Nam hoàng đồ, vạn lý giang sơn đế tạo thuỷ,
Hồng bàng đế trụ, thiên thu hà lạc tú linh chung.
Tạm dịch: Cương vực Việt Nam, núi sông vạn dặm vốn tạo dựng từ đầu.
Họ Hồng Bàng đế vương gìn giữ, ngàn năm còn để lại tiếng linh thiêng.
Hán Việt: Chính khí hạo nhiên khung nhưỡng tại,
Minh uy xán nhược nhật tinh lâm.
Tạm dịch: Chính khí vẫn còn rạng rỡ ở đất này,
Uy linh xán lạn hơn cả mặt trời dọi xuống.
Hán Việt: Phụ đạo thiên niên quốc,
Âu Cơ bách noãn bào.
Tạm dịch: Đạo người cha hàng ngàn năm vẫn là đạo của đất nước.
Mẹ Âu Cơ mãi mãi là mẹ sinh tra trăm trứng.
Hán Việt: Việt Nam sơ đầu xuất.
Thần Nông tứ thế phân (đã dịch nghĩa ở phần trước)
Hán Việt: Thái cực nhất nguyên thiên địa thuỷ.
Viêm giao Bàn cổ đế chủ tiên.
Tạm dịch: Thái cực là khối nguyên khí chia ra thì trời đất là trước nhất,
Thời Bàn cổ đất Viêm giao hình thành có đế chủ và tiên.
Hán Việt: Bách nam vận sự truyền sơn hải,
Nhất tộc nghiêm từ trĩ cổ kim.
Tạm dịch: Trăm con trai phụng sự đi mở vận lan truyền khắp sông núi,
Một họ thờ nơi đền thiêng, sừng sững suốt cổ kim.
Hán Việt: Thiên tải cương thường kiêm quốc gia hưng thịnh,
Thập bát Hùng đồ giai miếu duệ sở di.
Tạm dịch: Nghìn năm đạo cương thường để xây dựng nền hưng thịnh nước nhà,
Dòng dõi mười tám đời vua Hùng còn để lại các miếu thờ trong khắp nước non.
Ngoài ra trong đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ còn 15 đạo sắc phong, trong đó có niên đại như sau:
1. Phong ngày 11 tháng 8 năm Gia Long thứ 9 (1810)
2. Phong ngày 15 tháng 7 năm Minh Mệnh thứ 2 (1821)
3. Phong ngày 1 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842)
4. Phong ngày 19 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 2 (1842)
5. Phong ngày 15 tháng 10 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846)
6. Phong ngày 3 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 6 (1846)
7. Phong ngày 20 tháng 2 năm Tự Đức thứ 3 (1850)
8. Phong ngày 3 tháng 10 năm Tự Đức thứ 3 (1850)
9. Phong ngày 24 tháng 11 năm Tự Đức thứ 33 (1880)
10. Phong ngày 11 tháng 7 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887)
11. Phong ngày 11 tháng 10 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887)
12. Phong ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909)
13. Phong ngày 25 tháng 1 năm Khải Định thứ 9 (1924)
14 + 15. Phong ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924).
Qua tài liệu chữ Hán hiện còn ở khu di tích lăng mộ và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ, đã cho chúng ta biết đại lược như vậy. Thực quả là ít ỏi. Tuy vậy, còn rất nhiều tài liệu khác có thể khai thác được ngay trong phạm vi quanh đó, có thể sưu tầm thêm nữa để cho di tích ngày một khang trang, sầm uất, để góp phần tạo nên một hệ thống di tích lịch sử – văn hoá toàn diện của vùng Thuận Thành. Đó là hệ thống các di tích có giá trị, phản ánh lịch sử dân tộc từ buổi mở đầu dựng nước, rồi liên tục những thời kỳ huy hoàng tiếp theo như: chùa Dâu và hệ thống chùa thờ Tứ pháp, thành Luy Lâu, đền và lăng Sĩ Nhiếp, ba pho tượng đá chùa Linh Ứng, Đình tranh và làng tranh Đông Hồ, đình Đồng Đông, chùa Bút Tháp, nhà thờ họ Nguyễn Gia, chùa Xuân Quan, đình Đông Cốc...
Với việc giới thiệu các tư liệu chữ Hán ở lăng và đền thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân - Âu Cơ là nhằm để giới thiệu một cách hệ thống cho quảng đại quần chúng được biết, để hiểu rõ thêm về truyền thống dựng nước của các vua Hùng, nơi được coi là “chốn tổ” của đất Việt và đây cũng là một việc làm thể hiện ý thức “uống nước nhớ nguồn” rất đáng trân trọng.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.119-129