16. Phát hiện mới về tấm bia đá tại Chùa Hang, Ðồng Hỷ, Thái Nguyên (TBHNH 2004)
PHÁT HIỆN MỚI VỀ TẤM BIA ĐÁ
TẠI CHÙA HANG, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN
PHẠM THÙY DƯƠNG
Bảo tàng Thái Nguyên
Trong chuyến đi khảo sát di tích chùa Hang vào tháng 5 năm 2004 chúng tôi phát hiện hai tấm bia cổ tạc trên vách đá trong chùa. Hai tấm bia này được biết đã lâu song cho tới nay vẫn chưa có bài viết nào nghiên cứu cụ thể về nội dung cũng như tác giả và hoàn cảnh ra đời của nó. Chúng tôi đã rập và dịch cả hai tấm bia để phục vụ nghiên cứu khoa học.
Vài nét về lịch sử chùa Hang
Chùa Hang còn có tên gọi khác Tiên Lữ động là một quần thể di tích thắng cảnh bao gồm: chùa thờ vị tiên nữ trong truyền thuyết Tiên Lữ động và ba ngọn núi đá dài khoảng gần nghìn mét tại trung tâm thị trấn Chùa Hang, huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
Động chùa Hang được hình thành từ những biến động địa chất cách ngày nay hàng triệu năm, mang vẻ kỳ vĩ thu hút nhiều du khách tới thăm quan chiêm ngưỡng. Người xưa thật có con mắt tinh tường đã nhân vẻ đẹp hùng vĩ của hang mà dựng chùa bên trong, kết hợp kiến trúc thiên tạo với văn hóa tâm linh khiến di tích càng trở nên độc đáo hoang sơ vĩnh cửu.
Từ xưa tới nay nhiều bậc văn nhân nước ta đã từng ngao du tới chốn này để thưởng ngoạn cảnh đẹp, có người còn cảm hứng đề thơ lưu lại cho ngàn đời sau. Hiện nay trong hang còn hai tấm bia cổ được khắc vào vách đá, qua công tác nghiên cứu hai tấm bia đã mở ra một phát hiện có ý nghĩa về cả mặt văn học cũng như lịch sử mà chúng tôi sẽ đề cập ở bên dưới đây.
Giới thiệu về hai tấm bia
Động chùa Hang là di tích nằm trong hang, cho nên lối vào động cũng chính là lối vào chùa. Trong động bên phải có tượng hộ pháp ông Khuyến thiện cưỡi voi, bên trái tượng hộ pháp ông Trừng ác cưỡi hổ, tạo sự uy nghi linh thiêng. Tiếp theo đó là hai tấm bia ma nhai khắc trên vách động chùa bằng chữ Hán chân phương. Tấm bia tạc trên vách đá bên trái cửa vào có kích thước 60x60cm, không có diềm bia, chân bia và trán bia. Bia gồm hai phần, phần đầu bia ghi Tiên Lữ động lưu đề, nội dung là một bài thơ chữ Hán ngũ ngôn tứ tuyệt; phần sau ghi “hựu Quốc âm”, một bài thơ Nôm thất ngôn tứ tuyệt, cuối bia ghi tên tác giả là Đặng Nghiệm và niên đại “Hồng Đức Đinh Tỵ niên” (1497). Tấm bia thứ hai ở bên tay phải lối đi vào có kích thước 60x50cm được khắc trên một cột trụ đá thiên tạo. Tấm bia này cũng không có hoa văn hay diềm, trán. Nội dung bia là một bài thơ Du Tiên Lữ động tác, cuối bia ghi “Hữu Đốc Trai Vũ Quỳnh Yến Ôn”, không ghi niên đại nhưng căn cứ vào tác giả chúng ta đoán định được vào thời Lê sơ (khoảng cuối thế kỉ XV). Nội dung tấm bia này là một bài thơ tứ tuyệt ca ngợi cảnh đẹp chùa Hang và thú thanh nhàn tản vui non nước của bậc tao nhân mặc khách.
Nội dung hai tấm bia
1. Bia bên trái chùa Hang
Phần thơ chữ Hán:
a. Phiên âm
TIÊN LỮ ĐỘNG LƯU ĐỀ
Nhận trứ thiên môn trách
Khán lai quỉ tạc kỳ
Hồ tàng tiên thế giới
Du khách cụ thiên nghi
Hữu Bình địch Ă Đồng tổng tri An Việt Trúc Khê Đặng Nghiệm
b. Dịch nghĩa:
ĐỀ THƠ TẠI ĐỘNG TIÊN LỮ
Biết được ra cửa trời hẹp
Xem ra quỉ tạc lạ kỳ
Động chứa đựng thế giới thần tiên
Du khách nên đi chơi khắp
Hữu Bình địch Ă Đồng tổng tri An Việt Trúc Khê Đặng Nghiệm
Phần thơ Nôm:
Hựu Quốc âm (lại thơ Quốc âm)
Đỉnh cao ngàn trượng khỏe sơn lăng
Cá vị tinh thần bắt điển trang
Vũ huyệt ta nay tìm tót được
Đa mê thanh vỗ mé lâm tầng
Hồng Đức Đinh Tỵ niên (năm Đinh Tỵ niên hiệu Hồng Đức (1497)
2. Bia bên phải chùa Hang
Phiên âm:
DU TIÊN LỮ ĐỘNG TÁC
Động lý hữu thiên giai hóa nhật
Hồ trung vô địa bất xuân phong
Tiên gia thế giới hân kì ngộ
Minh ngã đạo tâm nhàn bảo xung
Hữu Đốc Trai Vũ Quỳnh Yến Ôn
b. Dịch nghĩa:
SÁNG TÁC KHI ĐI CHƠI ĐỘNG TIÊN LỮ
Trong động có bầu trời mỗi ngày đều thay đổi
Không có đất cũng chẳng có gió xuân
Thế giới tiên hân hoan gặp được vẻ kỳ lạ
Ngầm làm tâm ta như bộc phát nhàn nhã thư thái
Vũ Quỳnh hiệu là Đốc Trai, tự là Yến Ôn (soạn)
Đôi điều về tác giả và hai tấm bia:
Khi rập và dịch hoàn thiện hai tấm bia cổ trên chúng tôi hoàn toàn bất ngờ với kết quả thu được. Đặc biệt là việc xác định được tác giả tấm bia thứ hai: Thượng thư bộ Lễ: Vũ Quỳnh và thêm một bài thơ Nôm thời Hồng Đức, trên tấm bia thứ nhất.
Tác giả Vũ Quỳnh (1453-1497) tự là Thủ Phác và Yến Ôn, hiệu là Đốc Trai, quê làng Mộ Trạch, huyện Đường An, nay là huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Ông đỗ Hoàng giáp năm 1478, làm quan thời Lê Thánh Tông, giữ chức Thượng thư nhiều bộ: Công, Lễ, Binh, kiêm chức Tư nghiệp Quốc tử giám và Tổng tài Quốc sử quán. Vũ Quỳnh là một học giả có uy tín, một thầy giáo đạo cao đức trọng đương thời. Làng Mộ Trạch của Vũ Quỳnh nổi tiếng trên toàn đất nước ta bởi có nhiều người đỗ đạt trong các kỳ thi Tiến sĩ, đặc biệt là dòng họ Vũ mà gia đình Vũ Quỳnh không là ngoại lệ. Con trai Vũ Quỳnh là Vũ Cán đỗ Hoàng giáp năm 1502, làm quan Lễ bộ Thượng thư; con rể ông là Lê Nại đỗ Trạng nguyên (1505).
Không những là một thầy giáo, Vũ Quỳnh còn có nhiều đóng góp với học thuật nước nhà, ông là soạn giả bộ Đại Việt thông giám thông khảo. Ông còn chỉnh lí lại bộ sách Lĩnh Nam chích quái tương truyền là của Trần Thế Pháp, trong đó ông phát biểu về ý nghĩa của cả 22 truyện cổ đất Việt, thể hiện tinh thần dân tộc rất cao.
Vũ Quỳnh còn là một nhà thơ. Ông có tác phẩm Tố Cầm tập, nhưng hiện nay đã thất truyền, chỉ còn lại 3 bài chép trong Toàn Việt thi lục.
Về Đặng Nghiệm chúng tôi chưa tìm hiểu được về tác giả này.
Hai tấm bia với 3 bài thơ, trong đó đặc biệt là bài thơ Nôm, đây là một trong những bài thơ Nôm hiếm hoi còn tìm thấy trên văn bia thời Hồng Đức. Về ngôn ngữ chúng tôi chưa khẳng định là đã đọc hoàn toàn đúng phiên âm của bài thơ Nôm, tuy nhiên chúng tôi cũng đưa ra cách đọc hợp lý nhất.
Kết luận:
Qua bài viết chúng tôi giới thiệu về hai tấm bia chùa động Tiên Lữ, hai tấm bia có giá trị về sử liệu văn học rất nhiều. Kiến giải của chúng tôi chỉ nhằm công bố tư liệu về con người và thời đại cách đây đã hơn nửa thiên niên kỷ. Những gì chúng tôi biết về con người và thời đại thật chưa trọn vẹn, hy vọng sau khi thông báo Hán Nôm, chúng tôi sẽ được các bậc thức giả bổ xuyết cho những điều mà sở học của chúng tôi còn hạn hẹp, để cùng nghiên cứu đến cái đúng của khoa học./.
Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.138-142)