VI | EN
17. Tác phẩm của Tự Đức và các nhà thơ hoàng tộc triều Nguyễn - đề tài cần quan tâm nghiên cứu
tb07

TÁC PHẨM CỦA TỰ ĐỨC VÀ CÁC NHÀ THƠ HOÀNG TỘC TRIỀU NGUYỄN, ĐỀ TÀI CẦN QUAN TÂM NGHIÊN CỨU

PHAN ĐĂNG

Đại học Khoa học Huế

 

Tự Đức là niên hiệu, miếu hiệu là Dực Tông, ông tên thật là Nguyễn Phúc Thì, còn có tên là Hồng Nhậm, là con thứ hai của Nguyễn Miên Tông tức vua Thiệu Trị, sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (22.9.1829), mất ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi (19.7.1883).

Tự Đức là người thông minh, hiếu học, giỏi thơ văn. Ông từng tự viết trong Khiêm cung ký: "Lúc mới chừa tóc, mẹ ta bảo hãy tìm thầy để học tập, ngay khi đang học vỡ lòng ta đã làm được chúc đối, nhưng ngâm vịnh thì nào đã biết gì đến thanh luật…thuở bé học khá sáng, các loại sách vỡ lòng cấp tiểu học thì chỉ cần nửa ngày đã thuộc cả quyển… Còn như ứng chế thơ phú, ấy là việc bình thường. Có lần người (chỉ Thiệu Trị) giữa bữa cơm cũng sai buông đũa để ngâm vịnh, lại còn sai bọn cung tần bưng đồ tứ bửu bày ngay chỗ ngồi cho ta tự lựa lấy mà dùng… Có khi đang giữa tiệc rượu có tấu nhạc ca múa như thế cũng bảo ta làm thơ tức sự… Thật ra lúc ấy ta mới bắt đầu học tứ thư, kinh thi kinh thư hiểu còn chưa trọn, thơ nhiều khi làm chưa nên câu…may thay ứng đối nhanh nhẹn nên được yêu thương quá đặc biệt"(1). Nhưng ông lại là người ít nói, ít giao thiệp, chỉ yên phận sống trong cung nên không am hiểu nhiều về thời cuộc, nhất là thời cuộc trong nước và thế giới thời bấy giờ. Mặt khác ông cũng là người có thể chất yếu đuối, thường bệnh tật như ông tâm sự: "Ta vốn bẩm sinh thể chất yếu đuối, lúc mới sinh ra, mẹ ta ốm đau hàng mấy tháng mới khỏi, vú nuôi ta lại không được cẩn thận sạch sẽ, mẹ ta bảo ban mà chẳng nghe, vì sợ ta bị tối tăm nên mới lên ba đã vội ngăn không cho bú nữa, rồi một mình mẹ ta tự tay bồng ẵm lấy. Ta từ đó ốm đau cứ kéo dài và đã từng nguy cấp, mẹ ta sớm chiều ôm ấp hết sức khó nhọc" (Khiêm cung ký), cũng có thể do thể trạng như vậy nên ông trở nên rụt rè, mặc cảm dẫn đến cố chấp, thậm chí là yếu đuối.

Trong 37 năm làm vua, Tự Đức cùng đất nước đã trải qua bao nhiêu biến cố quan trọng: ngay khi vừa lên ngôi, ông đã phải đối phó với việc Hồng Bảo định nổi dậy vì không được truyền ngôi, việc này cũng gây nhiều dư luận bất lợi cho bản thân ông và uy tín của triều đình; 10 năm sau, ngày 01.9.1858 quân Pháp bắn vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược của phương Tây ở nước ta. Ban đầu Tự Đức đã ra lệnh quân dân Quảng Nam tìm cách đánh chặn quân Pháp, nhưng chỉ mới trận đầu, Tổng thống quân vụ Lê Đình Lý hy sinh, Tự Đức điều động Nguyễn Tri Phương mang quân tinh nhuệ từ lục tỉnh ra trợ chiến, người Pháp lại bỏ Quảng Nam vào chiếm Nam bộ. Trước thế lực quân Pháp, ông đã dần dần nhượng bộ, cho đến khi ông mất (1883), nước ta đã rơi vào tay người Pháp. Mặt khác, trong thời gian ông trị vì, hàng trăm cuộc nổi dậy của dân chúng chống lại triều đình; năm 1866 Đoàn Hữu Trưng chỉ huy công nhân công trường Vạn Niên đánh vào tận cung điện khiến ông suýt chết. Chế độ phong kiến Việt Nam lúc này đang suy vong nhanh chóng, nông nghiệp đình đốn, dân số tăng nhanh, ruộng đồng bị hoang hóa, mất mùa, thiên tai liên tiếp trong lúc sưu thế ngày càng cao, nhân dân khốn khổ phải bỏ đi xiêu tán. Công thương nghiệp không phát triển được vì chính sách “bế quan toả cảng”, thêm vào đó là nạn tham quan ô lại… Trước tình hình rối ren như vậy, Tự Đức không tìm được lối thoát, chỉ biết vận dụng những gì ông học được trong sách vở mà quên rằng những điều đó đã không còn thích hợp với tình hình đất nước cũng như cục diện thế giới thời bấy giờ nữa.

Phải nói rằng Tự Đức vốn thông minh, là một nhà văn lớn của thế kỷ XIX, ngoài trách nhiệm là một ông vua cần mẫn với công việc, ông còn dành nhiều thời gian để trước tác, số lượng tác phẩm của ông rất đồ sộ. Qua số tác phẩm của ông, người đọc dễ dàng hiểu được tâm trạng của ông. Tự Đức luôn ước ao trở thành một ông vua giỏi để xây dựng một đất nước thái bình thịnh trị, nhưng ước mơ ấy suốt đời ông vẫn không có được, ngược lại, hoàn cảnh và cách giải quyết của ông đã bị người đời khen chê không nhất quán. Tất cả những điều ấy đã làm cho ông luôn âm thầm đau khổ, ông từng tâm sự trong Khiêm cung ký: "Điều ta vẫn băn khoăn là việc học chưa thành, chí chưa thoả, hư danh chẳng xứng với thực tội, thể chất lại yếu đuối không đủ sức đảm đương việc lớn. Như nay, ngoài thì bờ cõi bị mất chưa dành lại được, trong thì giặc giã hoạn nạn chưa yên, việc nối dõi lại chậm chạp gian nan, khó tìm được người thì biết lấy ai đảm đương công việc".

Là một hoàng đế nhưng ông luôn tự nhận mình là người thất bại về mặt công danh, từ đó ông muốn thực thi nhân đức hầu tự an ủi được phần nào. Cũng trong Khiêm cung ký, ông viết: "Trải qua các đời vua, chẳng thiếu gì người hay kẻ dở, nhưng lấy công danh mà nói thì Hán Văn không bằng Đường Thái, lấy nhân đức mà nói thì Đường Thái kém xa Hán Văn…ta đâu dám coi nhẹ Đường Thái, chỉ thầm ước bắt chước Hán Văn…". Một trong những hành động nhằm thi hành nhân đức đó là việc Tự Đức coi trọng và chăm lo việc học hành khoa cử, ông đã cho cải cách quy chế thi cử vào những năm 1850, 1858, 1876. Do có mối quan tâm đặc biệt của nhà vua nên thời Tự Đức đã có nhiều nhà thơ nhà văn nổi tiếng khiến ông được người đời hết lòng ngưỡng mộ như Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Miên Thẩm, Miên Trinh… Mặt khác, ông còn rất quan tâm đến các công trình về sử học, địa lý… Ông đã ra chỉ dụ cho quốc sử quán biên soạn các bộ sách lớn như Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam nhất thống chí… là những bộ sách có giá trị lớn cho đến hôm nay.

Có thể Tự Đức đã nhận thức được trách nhiệm của mình trước lịch sử, lỗi lầm của mình trước nhân dân nên ông đã dành nhiều tâm huyết cho việc trước tác may ra chuộc lại được phần nào, ít ra cũng tự an ủi và giải toả được những đớn đau phiền muộn của chính mình. Với tư cách là một nhà văn, nhà nghiên cứu, Tự Đức đã có những đóng góp lớn cho văn hoá dân tộc, tác phẩm của ông vừa là bức tranh về một thời đại, vừa là tiếng lòng của một nhà thơ hoàng đế khi tự thấy mình bất lực trước bao biến động to lớn và nhanh chóng của thời đại. Thơ ông chính là nỗi niềm của ông, nghiên cứu thơ ông cũng là cơ hội để nhìn lại con người, tâm hồn một nhà thơ, một vị hoàng đế mà lời khen chê từ trước đến nay vẫn còn bất nhất.

Như đã nói, ngoài cương vị ông vua với bao công việc, Tự Đức cũng nổi tiếng là một ông vua cần mẫn với công việc, những tài liệu do quốc sử quán triều Nguyễn để lại đã cho thấy cường độ làm việc của ông rất lớn, ông đọc hết các tấu sớ từ nội triều đến ngoại triều, thậm chí các vụ việc mà các cấp địa phương không xử lý được cũng được ông quan tâm xem xét và giải quyết chu đáo. Tự Đức còn dành nhiều thì giờ để viết, số lượng tác phẩm của ông rất đồ sộ, thuộc nhiều lĩnh vực, điều đó thể hiện ở ông một kiến thức sâu rộng, một nhà văn đáng trân trọng. Tác phẩm của ông gồm cả hai loại: chữ Hán và chữ Nôm.

Nhìn chung, việc hình thành, phát triển và sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học hoàn toàn mang tính tự phát, giai cấp phong kiến luôn xem thường và “dị ứng” với nó, trong đó triều Nguyễn là một trong những triều đại tiêu biểu về việc này. Đành vậy, riêng Tự Đức, một ông vua hay chữ, ngoài rất nhiều tác phẩm viết bằng chữ Hán, ông đã để lại một số tác phẩm bằng chữ Nôm

"Mê gì hơn đánh tổ tôm,

Mê ngựa Hậu bổ, mê Nôm Thuý Kiều".

Các tác phẩm Nôm của ông hiện còn là:

1. Luận ngữ thích nghĩa ca, là tập sách dịch nghĩa cuốn Luận ngữ, một tác phẩm quan trọng trong bộ Tứ thư của Nho gia ra thơ Nôm. Mục đích phổ biến rộng ý nghĩa của Luận ngữ để mọi người có cơ hội hiểu biết một tác phẩm quan trọng của Nho giáo.

2. Việt sử diễn âm, là loại sách lịch sử được tác giả diễn ra tiếng Việt nhằm phổ biến lịch sử dân tộc đến mọi tầng lớp nhân dân.

3. Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca, là một loại tự điển Hán Nôm, sách dạy chữ Hán bằng nghĩa Nôm, được viết theo thể lục bát. So với các bộ sách có công dụng như thế trong học thuật thời phong kiến thì đây là bộ sách có nhiều ưu điểm: ngoài việc tác giả sắp chữ nghĩa theo thể lục bát với 4572 câu, một thể thơ thông dụng và phổ biến của người Việt, bộ sách còn thể hiện sự phong phú về từ và còn được sắp xếp thành các môn loại (kham dư loại, nhân sự loại, chính hoá loại, khí dụng loại, thảo mộc loại, cầm thú loại trùng ngư loại) khá tiện cho việc tra cứu.

Bên cạnh các tác phẩm Nôm vừa nêu, Tự Đức còn có nhiều bài thơ Nôm với bút pháp tinh tế, nhẹ nhàng như bài “Khóc Bằng phi” rất được người đời ngưỡng mộ.

So với tác phẩm Nôm, tác phẩm chữ Hán của Tự Đức lớn hơn nhiều, đó cũng là điều tất nhiên. Ông đã viết bằng nhiều thể loại, nhiều chủ đề thuộc nhiều lĩnh vực. Qua tác phẩm chữ Hán, chúng ta sẽ dễ nhìn thấy ông là một người có kiến thức uyên bác, bàn đến vấn đề nào cũng chu đáo, lại mang tinh thần khoa học rất cao. Có thể kê như sau:

4. Đạo biện, là tập sách tác giả bàn về chữ ĐẠO. Ông đem tất cả các khái niệm ‘đạo” của nhiều nhà triết học, nhiều tôn giáo ra bàn luận, cuối cùng ông đi đến kết luận chỉ có “đạo” của thánh hiền mới chính xác và thiết thực với cuộc sống, từ đó ông khuyên mọi người hãy tu dưỡng theo “đạo” thánh hiền để làm người và xây dựng cuộc sống, xây dựng tổ quốc.

5. Ngự chế thi (phụ tạp văn), bộ này gồm hai phần: phần chính gồm thơ và các bài chiếu, dụ, châm khuyên các quan nên thanh liêm. Phần phụ có các bài viết về điều lệ thi hương, dụ cấp tiền cứu trợ thiên tai ở các tỉnh Nam Định, Bắc Ninh, Hưng Yên…

6. Ngự chế thi tập, là tập thơ viết về nhiều đề tài như vịnh nhân vật lịch sử Trung Quốc, vịnh thời tiết bốn mùa. Phần phụ chép các bài dụ của vua Thiệu Trị về việc tôn húy, thái hậu, thái hoàng thái hậu, việc học việc thi.

7. Ngự chế Việt sử tổng vịnh, là tập thơ lớn gồm 14 tập, do Nguyễn Mai biên tập, Miên Thẩm kiểm duyệt, tổng cộng gồm 212 bài thơ vịnh về các nhân vật lịch sử và sự kiện của lịch sử Việt Nam, trong tác giả vịnh về nhiều loại người như đế vương, hoàng hậu, anh hùng, gian hùng… điểm đặc biệt đầu mỗi bài thơ tác giả còn ghi tóm tắt tiểu sử nhân vật hoặc các sự kiện được đề cập trong bài ấy.

8. Tự Đức cơ dư tự tỉnh thi tập, đây là tập thơ gồm 650 bài, trong đó tác giả tự viết về mình, thơ tự trách, vịnh sử và cảnh vật.

9. Tự Đức ngự chế thi, gồm 12 tập, đây là tập thơ tập hợp nhiều chủ đề, gồm những bài cảm tác hoặc ngâm vịnh, vịnh sử, tạp vịnh, thơ mừng tặng, thơ khuyên răn các quan.

10. Tự Đức ngự chế văn, tác phẩm này gồm ba phần: Ngự chế văn sơ tập (2 tập), Ngự chế văn nhị tập (3 tập) và Ngự chế văn tam tập (4 tập). Đây là tập gồm những bài dụ, luận, châm, phú, vịnh, tán, câu đối, biểu, ký, đề các bài văn sách thi đình.

11. Tự Đức thánh chế văn tam tập, là bộ sách gồm các bài dụ về việc dùng người hiền tài, khuyên các quan chăm lo công việc, dụ tấn phong các hoàng thân, dụ cứu chẩn thiên tai ở các tỉnh miền Bắc, biểu mừng mẹ tròn 70 tuổi.

12. Thiệu Trị Tự Đức chiếu dụ, gồm một bài di chiếu của vua Thiệu Trị, 46 bài chiếu dụ của Tự Đức về các việc mừng thọ, truyền ngôi, thi cử, nông nghiệp, cầu hiền, khuyên thần dân, tổ chức quân đội, dẹp loạn…

13. Ngự chế thi ngũ tập, gồm 92 bài thơ vịnh cảnh vật.

14. Ngự chế thi phú, là tập thơ phú gồm các bài thơ vịnh về nhân vật lịch sử, thắng cảnh, bài ký về cửa Thuận An, các bài phú viết về núi sông, thổ sản…

15. Ngự chế thi, là tập thơ xướng hoạ giữa tác giả với các văn thần.

16. Từ huấn lục, là tập sách chép lại các lời dạy của người xưa.

17. Khâm định đối sách chuẩn thằng, là bộ sách viết về phương pháp biên soạn, hiệu đính và chú thích sách.

Bằng nhiều loại khác nhau, tác phẩm của Tự Đức đã cho thấy ông không chỉ là một nhà thơ, nhà văn mà còn là một nhà nghiên cứu về ngôn ngữ, về lý luận, về lịch sử… Đồng thời phải nói rằng Tự Đức là người giỏi chữ nghĩa, văn chương của ông đầy dẫy điển tích, điển cố, chữ nghĩa cao siêu thể hiện một kiến thức uyên thâm. Cũng qua tác phẩm, người đời sau còn thấy rõ ông chính là người thuộc lớp cuối cùng mang nặng tư tưởng Nho giáo trước khi nước ta tiếp cận với tư tưởng và văn hoá phương Tây.

Phải nói rằng văn học trung đại Việt Nam thế kỷ XIX đã phát triển đến mức rực rỡ từ nội dung đến hình thức. Dù chế độ phong kiến đang suy vong, thơ nói riêng và văn chương Việt Nam nói chung vẫn làm tròn sứ mệnh cao cả của mình là phản ánh hiện thực, thể hiện suy tư của nhà văn về con người, về thời đại một cách sắc sảo. Trước tình hình mới, thơ đã không lệ thuộc vào sự suy vong của chế độ phong kiến mà tự mình có hướng đi mới, vững chắc và tràn đầy sinh lực, thoả mãn nhu cầu phản ánh, nhu cầu thưởng thức của xã hội. Việc thơ chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hoá dân gian và thấm nhuần tư tưởng của dân tộc đã là một minh chứng. Thơ Nôm do đó đã phát triển một cách rầm rộ, truyện thơ và ngâm khúc với bao tác phẩm có giá trị cao như một cống hiến xuất sắc của văn học giai đoạn này.

Cũng từ đầu thế kỷ XIX, trùng hợp với sự ra đời của triều Nguyễn, việc in ấn, xuất bản và nhu cầu thưởng thức văn chương của xã hội đã phát triển mạnh, đây là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của văn chương nói chung và thơ nói riêng. Một bộ phận tác giả đã in được tác phẩm của mình nên mức độ phổ biến tác phẩm cũng như phạm vi tác dụng xã hội của văn chương đã bước sang một thời kỳ mới : Văn chương và công chúng đã có mối quan hệ mật thiết và tự thân văn chương cũng không phải cái gì quá xa lạ, quá sang trọng và xa xỉ đối với xã hội, ý nghĩa của văn chương đã được xã hội tiếp nhận rộng rãi và đã có tác dụng tích cực.

Mặt khác, các vua Nguyễn, ngoại trừ Gia Long, người đặt viên gạch đầu tiên cho triều Nguyễn và suốt thời gian trị vì ông chỉ lo tập trung xây dựng và củng cố vương triều của mình, còn lại đều là những người ham thích văn chương, họ đã dành nhiều thời gian để sáng tác, biên soạn, họ tuyển chọn các văn thần có tiếng hay chữ để lo chuyện biên soạn sách vở về lịch sử, địa lý, văn chương có giá trị lớn. Bản thân các vị vua như Minh Mệnh, Thiệu Trị, đặc biệt là Tự Đức đều rất tích cực tham gia sáng tác. Trong bối cảnh đó, các văn thần, trí thức cũng được khích lệ, họ đã tham gia sáng tác rất nhiều. Hội thơ Mặc Vân thi xã được hình thành, quy tụ nhiều nhà thơ có tiếng của triều Nguyễn, trong đó có nhà vua, anh em Miên Thẩm, Miên Trinh… là những ông hoàng thơ nổi tiếng một thời. Hội thơ này dù từng bị Cao Bá Quát chê: "Ngán thay cái mũi vô duyên, Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ An !", chẳng qua là do tính khí kiêu mạn của ông, nhưng khi vào làm quan ở Huế, Cao cũng được vua Tự Đức và các ông hoàng thơ, các thành viên của Mặc Vân thi xã đánh giá rất cao về tài văn chương của ông và ông đã trở thành người bạn thơ của hội thơ này. Tương truyền vua Tự Đức cũng từng khen Cao rằng: "Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán, Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường". Có thể lời đánh giá này cũng nhằm đề cao thời đại mình, nhưng cũng không phải là ngoa. Chừng đó đủ thấy không khí sinh hoạt văn chương thời Nguyễn, cụ thể là thời Tự Đức. Phải nói rằng thời này văn học dân tộc nói chung đã có nhiều nhà thơ để lại nhiều tác phẩm bất hủ. Ngoài đại thi hào Nguyễn Du đã ra đi từ 1820, những nhà thơ khác như Tự Đức, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu, Miên Thẩm, Miên Trinh, Tương An, Mai Am, Huệ Phố, Hồng Sâm, Nguyễn Khuyến…đã góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của văn học dân tộc ở thế kỷ XIX. Thơ của họ phản ánh đầy đủ mọi sinh hoạt xã hội, thể hiện suy nghĩ của những người trí thức luôn trăn trở trước vận mệnh đất nước và dân tộc, trước tình thế mới của đất nước cũng như tình cảm cá nhân của họ trước cuộc đời.

Từ xưa, vua chúa Việt Nam và người trong hoàng gia đều làm thơ, thơ của họ, dù cách nhìn, quan niệm về xã hội và cuộc sống, cách suy nghĩ có thể khác ít nhiều so với trí thức chân chính và quần chúng tùy theo từng bối cảnh lịch sử nhất định, nhưng với triều Nguyễn, chúng ta không nên đặt họ đứng ra ngoài quỹ đạo của văn học dân tộc. Bởi vì trong số họ, có nhiều vị vua, ông hoàng bà chúa đã hòa chung nhịp đập của trái tim dân tộc, họ cùng vui buồn, cùng suy nghĩ như bao người dân nước Việt, họ cùng sống chết với vận mệnh quốc gia và cũng đã từng làm nên những trang sử oai hùng không thể nào quên.

Phải bình tâm để nói rằng, chúng ta chưa quan tâm đầy đủ và thiếu khách quan trước những đóng góp của các vua Nguyễn và hoàng thân nhà Nguyễn về mặt văn học cũng như nhiều lĩnh vực khác. Điều đó cũng dễ hiểu bởi có một thời chúng ta chỉ nhìn nhà Nguyễn như những người đầy tội lỗi, vô hình trung chúng ta bỏ sót một mảng nghiên cứu đáng ra phải được đặc biệt quan tâm. Nay nhìn lại số lượng tác phẩm mà các vua Nguyễn và các nhà văn trong hoàng tộc Nguyễn để lại làm cho chúng ta không khỏi ngạc nhiên. Đó là một khối lượng tác phẩm đồ sộ, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau với cách nhìn, quan niệm và phong cách rất phong phú, ghi dấu một thời đáng lưu tâm trong quá trình phát triển của văn chương dân tộc.

Ngoài số lượng và tên tác phẩm của vua Tự Đức như đã nêu ở phần trên, các vua Nguyễn thế kỷ XIX như Minh Mệnh, Thiệu Trị cũng để lại bao nhiêu tác phẩm có giá trị:

1. Tác phẩm của Minh Mệnh (1791-1840): Ngự chế tiễu bình Bắc kỳ nghịch phỉ thi tập; Ngự chế tiễu bình Nam kỳ nghịch phỉ thi tập; Ngự chế thi sơ tập; Ngự chế thi tam tập; Ngự chế thi tứ tập; Ngự chế văn sơ tập; Ngự chế văn nhị tập; Minh Mệnh chiếu dụ…

2. Tác phẩm của Thiệu Trị (1807-1847): Ngự chế cổ kim thể cách thi pháp tập; Ngự chế văn sơ tập; Ngự chế văn nhị tập; Hoàng huấn cửu chương; Thiệu Trị di chiếu; Ngự chế thi sơ tập; Ngự chế thi tam tập; Ngự chế thi tứ tập, Thiệu Trị văn quy…

Bên cạnh các vua Nguyễn, con em trong hoàng gia cũng để lại một khối lượng tác phẩm rất lớn:

3. Nguyễn Miên Bật (1825-1847): Hân Nhiên thi tập.

4. Nguyễn Miên Bửu - Tương An quận vương (1820-1854): tác phẩm chữ Hán: Khiêm Trai thi tập, Khiêm Trai văn tập, do em là Hòa Thạnh quận vương san định và khắc in. Tác phẩm chữ Nôm: Hoài cổ ngâm, Trăm thương.

5. Nguyễn Miên Cư (1830-1854): Công Thảo viên thi, tập này chính tay Tùng Thiện công đề tựa và cho khắc in.

6. Nguyễn Miên Định (1808-1886): Minh Mệnh cung từ; Minh Tĩnh ai phương thi tập.

7. Nguyễn Miên Ngung (1829 - ?): Mạn Viên thi tập.

8. Nguyễn Miên Thanh (1830-1877): Thuận An thi; Quân Đình thi thảo; Đào Trang thi tập.

9. Nguyễn Miên Thẩm - Tùng Thiện vương (1819-1870): Bắc hành thi tập; Hà Thượng tập; Thương Sơn thi tập (54 quyển: 2022 bài); Thương Sơn thi thoại; Thương Sơn từ tập; Thương Sơn ngoại tập; Thương Sơn văn di; Thi tấu hợp biên; Tĩnh y ký; Thức cốc biên; Lão sinh thường đàm; Nạp bị tập (19 quyển); Học giá chí; Tinh kỳ tập; Lịch đại đế vương thống hệ đồ; Thi kinh diễn nghĩa ca; Độc ngã thư sao; Nam cầm phổ; Lịch đại thi tuyển; Lịch đại thi nhân tiểu sử…

10. Nguyễn Miên Trinh - Tuy Lý vương (1820-1897): Vĩ Dã hợp tập (Vĩ Dã thi tập: 6 quyển; Vĩ Dã văn tập: 5 quyển; Tuy Lý công tự truyện: 1 quyển); Nữ phạm diễn nghĩa; Hoà lạc ca (cùng viết với Miên Thẩm và Miên Bửu).

11. Nguyễn Hồng Sâm ( ? - 1883): Di hiên; Hý mạc; Trúc Lâm đạo; Nam Bố sơn.

12. Nguyễn Hồng Y (1833 - ?): Hậu uyển tập xạ; Thị học tụng; Tích Ung canh ca hội tập.

13. Nguyễn Trinh Thận - Mai Am nữ sĩ (thế kỷ XIX): Diệu Liên thi tập.

14. Nguyễn Tĩnh Hòa - Huệ Phố nữ sĩ (1829-1882): Huệ Phố thi tập.

Trên đây chỉ điểm qua tác phẩm của những người trong hoàng tộc nhà Nguyễn ở thế kỷ XIX, chừng đó thôi cũng đủ cho chúng ta thấy khối lượng tác phẩm và sức đóng góp của họ chắc chắn không phải nhỏ. Cũng nhìn vào đây chúng ta sẽ không khỏi ngạc nhiên khi thấy khối lượng tác phẩm của các vua Nguyễn: Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức rất đồ sộ, họ không những sáng tác thơ văn mà còn viết về nhiều lĩnh vực, trong đó vua Tự Đức nổi lên không chỉ là một nhà văn mà còn là nhà nghiên cứu, là một học giả với những đóng góp lớn lao vào kho tàng di sản văn hoá dân tộc.

Vậy mà từ trước đến nay, việc nghiên cứu, giới thiệu và thẩm định giá trị những tác phẩm của các vị vua Nguyễn cũng như các nhà thơ trong hoàng tộc nhà Nguyễn còn rất lác đác, đang ở mức độ dè dặt. Một số tác phẩm của Minh Mệnh, Tự Đức dù đã được một số nhà nghiên cứu giới thiệu nhưng vẫn ở mức khiêm tốn, những tác phẩm được giới thiệu chưa phải là tiêu biểu, đủ để có thể đánh giá tác giả của nó một cách đầy đủ, chu tất. Với các nhà thơ trong hoàng tộc nhà Nguyễn cũng vậy. Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu, gần đây có thêm Mai Am, Huệ Phố, dù đã được một số học giả quan tâm, có tác giả được quan tâm khá sớm, nhưng cũng chỉ dừng lại ở chỗ giới thiệu cuộc đời sự nghiệp, đánh giá tổng quát về sự nghiệp sáng tác của họ, chưa thực sự đi sâu để rút ra những kết luận cần thiết cho việc xác lập vai trò, vị trí cũng như những cống hiến của các nhà thơ này trong lịch sử văn học dân tộc.

Đã đến lúc chúng ta cần quan tâm nghiên cứu dòng văn học hoàng tộc nhà Nguyễn. Nếu cần phải hỏi vì sao? thì chắc đã có rất nhiều cách trả lời. Tất nhiên trước mắt chưa thể cùng lúc mà làm hết được, chúng ta có thể chọn ra một số tác giả nổi bật, cần thiết mà trước hết là tác phẩm của Minh Mệnh, Thiệu Trị, đặc biệt là Tự Đức, bởi vì đây là tác phẩm của các vị vua, tiêu biểu về nhiều mặt của một thời đại và tác phẩm của họ lại có giá trị về nhiều lĩnh vực khác nhau. Sau đó đến các ông hoàng thơ nổi tiếng như Miên Thẩm, Miên Trinh, Miên Bửu, Miên Cư, Hồng Sâm... và dần dần, trong một thời gian không lâu chúng ta cố gắng giới thiệu và nghiên cứu đầy đủ các tác giả thuộc hoàng tộc nhà Nguyễn. Được như thế thì chúng ta sẽ có một bộ toàn tập trước tác của các tác giả hoàng tộc nhà Nguyễn. Điều đó không những thể hiện trách nhiệm của chúng ta với các thế hệ kế tiếp mà quan trọng hơn là có điều kiện để đánh giá đúng mức, khách quan và khoa học về di sản văn hoá để lại của các ông vua, ông hoàng triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng của lịch sử dân tộc, trên nhiều lĩnh vực mà lĩnh vực nào cũng thiết thực và rất cần cho tri thức dân tộc hôm nay.

 

Chú thích:

(1) Những đoạn trích dịch của Phan Hứa Thụy: Khiêm cung ký trong bài này đều lấy từ bản dịch, Sông Hương số 2 và 3/1991./.

Phan Đăng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm