17. Thử ghép những ô thơ chữ Hán trên đình Hương Nguyện - chùa Linh Mụ (TBHNH 2003)
THỬ GHÉP NHỮNG Ô THƠ CHỮ HÁN TRÊN ĐÌNH HƯƠNG NGUYỆN - CHÙA LINH MỤ
PHẠM ĐỨC THÀNH DŨNG
Trung tâm Bảo tàng di tích Cố đô Huế
Tọa lạc trên một ngọn đồi vững chãi, bình yên soi bóng chỗ dòng Hương uốn mình như dải lụa thẹn thùng e ấp, chùa Linh Mụ với một vẻ trang nghiêm u tịch, thanh thoát âm trầm, luôn hằn một dấu ấn diệu kỳ trong lòng du khách đến tham quan, cũng như người thập phương viếng chùa lễ Phật. Có lẽ đây là ngôi chùa cổ kính nhất của xứ sở Thần kinh - nơi luôn được xem là thủ phủ của Phật giáo Việt Nam. Nét đẹp như huyền thoại, một bề dày lịch sử ngót nửa thiên niên kỷ kinh qua bao thăng trầm, chứng kiến bao đổi thay của cuộc thế bể dâu, ngôi chùa này lại hòa lẫn trong cảnh sắc thiên nhiền sông núi kỳ thú một cách đặc hữu, thật xứng đáng là đệ nhất danh lam của miền Thuận Hóa - Phú Xuân.
Đã xuất hiện trong trước tác Ô Châu Cận Lục của tác giả Dương Văn An (viết năm 1555) với tư cách là một đại danh lam của miền “Ô Châu ác địa”, đến khi chúa Nguyễn Hoàng vào Nam, chùa Linh Mụ lại càng được sử sách nhấn sâu những dấu son cùng với nhiều giai thoại hết sức thú vị. Thời các chúa Nguyễn, chùa luôn luôn được chăm sóc, tu sửa. Đặc biệt, chúa Nguyễn Phúc Chu với đạo hiệu Thiên Túng Đạo Nhân là một người đổ nhiều công sức nhất cho việc trùng tu và khuếch triển quy mô chùa. Thế nhưng, cuối thời các chúa Nguyễn, chùa Linh Mụ đã bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Thời Tây Sơn, tình cảnh của chùa lại càng bi đát, những cơn binh hỏa đã hủy hoại hầu hết những công trình kiến trúc ở đây. Theo Phan Huy Ích là một trọng thần thời Tây Sơn, đã có lúc triều đình dùng nơi này làm đàn xã tắc. Đến thời các vua Nguyễn, với tư tưởng “cư Nho mộ Thích”, triều đình cũng bỏ ra nhiều tiền của vào việc trùng tu xây dựng lại ngôi chùa nay, và thực sự sắc phong là một trong 4 ngôi Quốc tự của Kinh đô. Năm 1831, vua Minh Mạng đã cho trùng tu cải kiến chùa với quy mô lớn, và bố cục lại các công trình kiến trúc rất chặt chẽ bề thế: các công trình chính trên trục dọc từ trước ra sau là cổng Tam Quan, điện Đại Hùng, điện Di Lặc và điện Quan Âm; hai bên sân trước điện Đại Hùng là điện Thập Vương và nhà Lôi Gia; bên phải sân sau điện Quan Âm là Tàng Kinh Các; hai bên trước cổng Tam Quan là 2 nhà lục giác lưu giữ tấm bia khắc bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu và chiếc Đại hồng chung danh tiếng… Thời Thiệu Trị, để kỷ niệm Bát tuần Thánh thọ của Bà nội là Thuận Thiên Cao Hoàng Hậu, vua cho dựng thêm nhiều công trình mới, đặc sắc nhất là tháp Phước Duyên và đình Hương Nguyện ngay trước mặt tháp.
Năm 1904, trận bão Giáp Thìn lịch sử đã tàn phá nặng nề các công trình của chùa Linh Mụ. Điện Di Lặc, Tàng Kinh Các hư hại quá trầm trọng phải triệt giải. Đình Hương Nguyện cũng không thể bảo tồn, nhưng mãi 3 năm sau - 1907, triều đình mới cho đại gia trùng tu, song chuyển toàn bộ ra phía sau, dựng trên nền cũ của điện Di Lặc. Đó là lý do đình Hương Nguyện hiện hữu ở vị trí ngày nay.
Đình Hương Nguyện là một kiến trúc xinh xắn độc đáo, thể hiện khá rõ nét tư tưởng Dịch học: Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi biến Tứ tượng, Tứ tượng hóa Bát quái… Đó cũng là một điều khá đặc biệt tồn tại trong một ngôi chùa Phật giáo. Song, vấn đề chúng rôi muốn bàn ở đây là những ô thơ chữ Hán được chạm trổ sơn thiếp trình bày lối “nhất thi nhất họa” trên hai dãy liên ba vuông vắn kích thước bất đồng, cao thấp khác nhau, nhưng gần đồng dạng trên kiến trúc đình Hương Nguyện.
Đây là những ẩn ngữ khá bí hiểm, chúng tôi mất khá nhiều thời gian song vẫn không tìm ra được quy luật bố trí của người xưa. Khung liên ba dưới (chúng tôi tạm gọi như vậy trong bài này, thực chất là gồm 4 dãy liên ba xếp thành một hình vuông đăng đối viền quanh mé trên tường nhà) gồm 24 ô thơ phân đều cho 4 mặt trước sau phải trái xen kẽ nối các ô trang trí; khung liên ba trên (cũng gồm 4 dãy liên ba xếp thành một hình vuông viền quanh mé trên của hàng cột trong) gồm 8 ô thơ xen kẽ cũng phân đều 4 mặt và trình bày kiểu “nhất thi nhất họa”. Chỉ xét các ô thơ chữ Hán, giả sử làm một phép chiếu thẳng góc lên mặt phẳng ngang, chúng ta có thể định vị các ô thơ và đánh số thứ tự từ phải sang trái, trước ra sau theo đặc thù chữ Hán như thể hiện ở Sơ đồ 1 (khung liên ba dưới thể hiện ở vành ngoài, khung liên ba trên nằm bên trong)
Sơ đồ 1
 |
Trên di tích Huế, người xưa sắp xếp các ô thơ theo nhiều phương cách khác nhau nên đánh số như Sơ đồ 1 không hẳn là chuẩn mực, xin trình bày tạm vậy để khảo xét dần dần. Qua phân tích sơ bộ (theo số lượng chữ, quy luật bằng trắc thông thường), chúng thấy được, mỗi ô thơ đều gồm 2 câu thất ngôn. Đó là thuận lợi lớn, và từ đó cách đánh số trang của chúng tôi cũng tiện theo dõi. Xin từng bước khảo xét như sau:
Khung liên ba trên (tức hình vuông trong Sơ đồ 1).
Theo thứ tự như đánh số trên Sơ đồ 1 và theo phân tích kết cấu bằng trắc, chúng ta có được các cặp câu dưới đây:
Ô 1 | 積 翠贊屼 不 計 春 虫龍 隱 伏 列 嶙 峋 |
Ô 2 | 惠 風 鐘 度 幽 林 響 空 宇 香 羅 法 海 津 |
Ô 3 | 樹 戀 慈 曇 浮 碧 落 經 穿 僧 屐 雜 紅 塵 |
Ô 4 | 聖 緣 普 濟 咸 歸 善 佛 蹟 增 光 自 有 因 |
Ô 5 | 彼 此 無 關 漢 道 恢 徇 存 古 樂 春 臺 |
Ô 6 | 齋 明 盛 服 徒 為 耳 戛 擊 鳴 球 入 妙 哉 |
Ô 7 | 膩 玉 奇 聞 通 覺 悟 浮 金 餘 響 自 登 來 |
Ô 8 | 懸 黎 度 曲 雖 相 間 總 是 優 游 壽 域 開 |
Hẳn ai cũng có thể nhận ra từ ô1 đến ô4 bài thơ Vân Sơn thắng tích, và từ ô5 đến ô8 là bài thơ Linh Quán khánh vận, nằm trong chùm thơ Thần Kinh nhị thập cảnh, đều do vua Thiệu Trị ngự chế. Hai bài thơ được xếp đúng theo thứ tự trên Sơ đồ 1, lại là hai bài thơ dễ tìm nhất trong thi phẩm của vua Thiệu Trị, đồng thời lại được giới nghiên cứu nhắc đến với tần suất cao, cái dễ dàng lại chồng chất nhiều thuận lợi !
Thật bình chỉnh cân phân, hai bài thơ trên ôm quanh vòng thái cực trang trí ngay chính giữa trần trong của ngôi đình. Một bài ca tụng Phật giáo, một bài ngợi khen Lão giáo, người xưa muốn nói lên điều gì, phải chăng dùng tư tưởng Nho giáo để điều khiển cả một thiết chế chính trị phải biết dung hoà các tôn giáo, đặc biệt là Phật giáo và Lão giáo? Hay đây là sự gửi gắm ý tưởng chiến lược của nhà cầm quyền: phải lồng giáo quyền vào trong lòng hoàng quyền? Hay tất cả chỉ ngẫy nhiên trong cảm thức mỹ học của nhà thiết kế? Hẳn nhiều cách suy đoán, duy chỉ một điều không phải luận bàn: ngôi đình thật xinh xắn, nhẹ nhàng thanh thoát, lại thêm những ô hộc thi họa chấm phá điểm tô, dù Nho, dù Phật, dù Lão, cái đẹp vẫn có riêng chân giá trị của nó mà ai cũng phải thừa nhận.
Khung liên ba trên, các ô thơ lắp đặt rõ ràng thứ lớp, hai bài thơ lại khá phổ biến, không có gì phải băn khoăn, song chúng tôi cũng xin phiên âm dịch nghĩa ở đây để tiện theo dõi ngay trong bài viết.
Vân Sơn thắng tích - ô (1-2-3-4)
Tích thúy toàn ngoan bất kế xuân,
Cầu long ẩn phục liệt lân tuần.
Huệ phong chung độ u lâm hưởng,
Không vũ hương la pháp hải tân.
Thụ luyến từ đàm phù bích lạc,
Kính xuyên tăng kịch tạp hồng trần.
Thánh duyên phổ tế hàm quy thiện,
Phật tích tăng huy tự hữu nhân.
(Núi non phủ đầy cây xanh đã quá lâu đời,
Trập trùng lớp lớp như con rồng nằm nép.
Theo gió lành tiếng chuông truyền đến chốn rừng thanh tĩnh,
Hương thơm trên không đã bao trùm khắp bến pháp.
Mây lành quấn quýt trong cây và nổi giữa trời cao,
Guốc của tăng nhân xuyên qua những lối đi lạc vào cõi hồng trần.
Duyên của Thánh ban khắp cho người quy về nẻo thiện,
Nhờ nhân lành mà cảnh chùa xưa càng thêm rực rỡ).
Linh Quán khánh vận - ô (5-6-7-8)
Bỉ thử vô quan Hán đạo khôi,
Tuấn dân tồn cổ lạc xuân đài.
Trai minh thạnh phục đồ vi nhĩ,
Kiết kích minh cầu nhập diệu tai.
Nhị ngọc kỳ văn thông giác ngộ,
Phù kim dư hưởng tự đăng lai.
Huyền Lê độ khúc tuy tương gián,
Tổng thị ưu du thọ vực khai.
(Việc dựng quán chẳng liên quan đến việc khôi phục Đạo gia thời Hán,
Mà chỉ vì theo ý dân trong thời thịnh trị thích tồn cổ.
Trai giới, áo quần tề chỉnh, chỉ cần làm như vậy,
Đánh khánh ngọc lên thật là huyền diệu thay.
Tiếng ngọc linh hoạt nghe diệu kỳ như đạt đến giác ngộ,
Tiếng kim (chuông) nổi lên là đạt đến sự mong cầu.
Điệu đánh tiếng khánh tuy có gián đoạn,
Nhưng nói chung đưa con người đến cõi lâu đài.).
Khung liên ba dưới:
Như trên đã giới thiệu, khung này cả thảy có 24 ô thơ chữ Hán. Cũng chỉ sơ bộ xét trên số lượng chữ và quy luật bằng trắc, chúng tôi xác định mỗi ô đều có hai câu thơ thất ngôn - đó là một thuận lợi. Vậy, tổng cộng là 48 câu. Xin được dùng phương pháp loại trừ để “đánh tỉa” dần các đối tượng.
Hai bài vận xâm 侵 và vận chi 支
Đầu tiên, chúng tôi xét vận của các cặp câu. Tất nhiên, vận nào xuất hiện với số thấp nhất thì xét trước. Xoay một vòng từ trái sang phải, tuần tự từ ô1 đến ô24, chúng ta có 2 bộ vận xuất hiện ít nhất. Đó là vận xâm 侵 thuộc Hạ bình thanh và vận chi 支 thuộc Thượng bình thanh, chỉ xuất hiện ở 4 ô.
Thứ nhất: vận xâm 侵 gồm các chữ thâm 深, khâm 欽, lâm 林, tâm 心, câm 今, có ở câu thơ ở ô7, ô8, ô21, ô22. Cụ thể:
Ô 7 | 化 神 竹 響 鐘 聲 逗 妙 到 花 香 氣 味 深 |
Ô 8 | 震 旦 乾 坤 常 自 在 慈 祥 勝 蹟 永 崇 欽 |
Ô 21 | 色 空 不 必 辨 禪 林 善 念 如 如 佛 即 心 |
Ô 22 | 八 正 圓 通 楞 性 定 七 能 了 悟 去 來 今 |
Thứ hai: vận chi 支 gồm các chữ bi 悲, thì 詩, quy 規, tri 知, suy 推, xuất hiện ở những câu thơ ở ô3, ô4, ô19, ô20. Cụ thể:
Ô 3 | 西 方 設 教 主 慈 悲 南 海 飛 來 為 濟 時 |
Ô 4 | 棒 喝 眾 生 歸 善 念 經 傳 萬 化 入 良 規 |
Ô 19 | 世 心 不 向 心 燈 照 物 性 難 量 性 地 知 |
Ô 20 | 感 應 玄 玄 通 妙 處 虛 無 色 相 就 中 推 |
Thứ đến, xét niêm luật của một bài thất ngôn (bát cú hay tứ tuyệt), chỉ những điều sơ đẳng về hình thức như vận, bằng trắc, đối; hay quy luật ngữ nghĩa phá - thừa, thực, luận, thúc - kết; chúng tôi quyết định ghép các bài thơ trong các ô hộc trên, theo thứ tự như sau:
Bài vận xâm 侵, ghép theo thứ tự các ô (21-22-7-8) hình thành một bài thất ngôn bát cú hoàn chỉnh về niêm luật và nội dung. Bài vận chi 支, ghép theo thứ tự các ô (3-4-19-20), cũng được một bài thất ngôn bát cú hoàn chỉnh. Xin phiên âm và tạm dịch nghĩa:
Bài vận XÂM 侵[bài 1: ô (21-22-7-8)]
Sắc không bất tất biện thiền lâm
Thiện niệm như như Phật tức tâm
Bát chánh viên thông lăng tính định
Thất năng liễu ngộ khứ lai câm
Hoá thần trúc hưởng chung thanh đậu
Diệu đáo hoa hương khí vị thâm
Chấn Đán càn khôn thường tự tại
Từ tường thắng tích vĩnh sùng khâm.
(Cửa thiền cần gì phân biện sắc với không
Thành tâm với lý lẽ của pháp tính thì tâm chính là Phật
Thông suốt được Bát chánh đạo sẽ định được lăng tính
Như bảy vị Phật đã liễu ngộ từ xưa đến nay
Tiếng chuông động rừng trúc đạt đến chỗ thần kỳ
Khí vị của hương hoa lắng sâu thật ảo diệu
Đất trời Phật quốc vốn thường tĩnh tại
Thắng tích từ bi và tốt lành này mãi mãi được tôn sùng).
Bài vận chi 支[bài 2: ô (3-4-19-20]
Tây Phương thiết giáo chủ từ bi
Nam Hải phi lai vị tế thì
Bổng át chúng sanh quy thiện niệm
Kinh truyền vận hóa nhập lương quy
Thế tâm bất hướng tâm đăng chiếu
Vật tính nan lường tính địa tri
Cảm ứng huyền huyền thông diệu xứ
Hư vô sắc tướng tựu trung suy.
(Phật lập giáo ở Tây Phương lấy từ bi làm chủ
Nay truyền đến Nam Hải vì tế độ chúng sanh
Dùng gậy đánh, la hét (phép luyện thiền) đưa chúng sanh về nẻo thiện
Truyền Kinh để giáo hoá vạn loài vào chốn tốt lành
Vì tâm của người đời bất định nên lấy tâm sáng của Phật mà chiếu
Vì tính của vật khó lường, lấy tính của Ngài bao la như đất mà hiểu
Thật huyền diệu cảm ứng đến mất mọi nơi
Từ đó, nghiệm thấy được mọi sắc tướng đều hư vô).
Đến đây, khung liên ba dưới của chúng ta đã được “tỉa” đi 1/3, xin vẽ lại để tiện theo dõi.
Sơ đồ 2:
Khảo xét một vòng tuần tự như cũ, chúng tôi thấy được có 8 ô thơ theo vận bộ chân 真 và 8 ô thơ theo vận bộ đông 東, đều thuộc Thượng bình thanh.
Hai bài vận chân 真
Về vận bộ chân 真, có các ô 1, 2, 5, 6, 9, 10, 11, 12. Cụ thể:
Ô 1 | 兜 率 天 高 自 降 神 涅 盤 正 果 許 多 因 |
Ô 2 | 道 成 大 覺 初 周 世 教 入 中 都 後 漢 人 |
Ô 3 | 祥 微 貴 地 協 天 人 丹 獲 金 臺 煥 一 新 |
Ô 5 | 真 以 智 明 推 善 慧 名 因 情 立 廣 能 仁 |
Ô 6 | 妙 證 圓 明 端 寶 相 化 流 清 淨顯 金 身 |
Ô 10 | 願 弘 法 力 群 生 遂 般 若 幾 緣 得 本 真 |
Ô 11 | 經 繙 貝 葉 談 玄 教 座 踊 蓮 花 說 法 身 |
Ô 12 | 佛 日 增 輝 光 四 大 國 恩 長 在 闡 三 輪 |
Thật khó tách bạch rạch ròi về ngữ nghĩa để sắp xếp từng bài, vì tất cả các câu thơ đều đậm sắc màu Phật giáo. Chúng tôi tạm tiến hành như sau:
- Xét vận của các ô, tách được ô1 và ô5 là 2 cặp phá đề và thừa đề của 2 bài thơ khác nhau.
- Xét ngữ nghĩa, chú trọng vào nguyên tắc thúc và kết của 2 câu cuối, và xét niêm của 2 câu này: không đối, chúng tôi đặt riêng ô10 và ô12, xác định được đó là 2 cặp câu thúc và kết của 2 bài.
- Dựa vào nhận định chủ quan khi phân tích nội dung và hình thức của 4 ô thơ còn lại, chúng tôi phân lập được ô2 và ô6 là 2 cặp thực của 2 bài thơ khác nhau; và ô9 và ô11 là 2 cặp luận.
Vậy, đến đây chúng tôi đã có 2 cặp phá - thừa, 2 cặp thực 2 cặp luận và 2 cặp thúc - kết của 2 bài thơ khác nhau. Thế nhưng, nếu xét logic thông thường, với kết quả vần phân lập được (tức 4 cặp phá - thừa, trực, luận, thúc - kết), chúng ta có đến 8 cách tổ hợp, tương ứng với việc hình thành 16 bài thơ khác nhau (!?). Tức các tổ hợp: (1-2-9-10 và 5-6-11-12); (1-2-9-12 và 5-6-11-10); (1-2-11-10 và 5-6-9-12); (1-2-11-12 và 5-6-9-10); (1-6-9-10 và 5-2-11-12); (1-6-9-12 và 5-2-11-10); (1-6-11-10 và 5-2-9-12); (1-6-11-12 và 5-2-9-10).
Nói vậy cho hết lý để tăng thêm phần gian nan của công việc, thực ra, rất may đây là 2 bài thơ theo 2 luật bằng trắc khác nhau (một bài luật bằng vận bằng, một bài luật trắc vận bằng), nên khi phân lập được 4 cặp phá - thừa, thực, luận, thúc - kết, thì chỉ có một cách duy nhất để ghép. Cụ thể, 2 bài thơ phải ghép theo thứ tự như sau: Bài 1, ô (1-2-9-10); bài 2, ô (5-6-11-12). Xin tạm phiên âm dịch nghĩa như sau:
Bài 1 bộ chân 真[bài 3: ô (1-2-9-10)]
Đâu suất thiên cao tự giáng thần
Niết bàn chính quả hứa đa nhân
Đạo thành đại giác sơ Chu thế
Giáo nhập trung đô hậu Hán nhân
Diệu chứng viên minh đoan bửu tướng
Hóa lưu thanh tĩnh hiển kim thân
Nguyện hoằng pháp lực quần sinh toại
Bát nhã cơ duyên đắc bổn chân.
(Phật là vị thần giáng xuống từ cung Đâu Suất trên trời cao
Nhờ bao nhiêu nhân lành mà chứng quả niết bàn
Thành đạo trở nên bậc đại giác vào đầu thời Chu
Giáp lý của Phật truyền vào kinh đô của thời Hậu Hán
Ngài đã chứng quả trọn vẹn hiện ra tướng quý
Truyền sự giáo hoá thanh tĩnh hiển hiện thân vàng
Nguyện đem pháp lực ban khắp cho chúng sanh toại nguyện
Nhờ cơ duyên Bát nhã mà đạt được chân lý cội nguồn).
Bài 2 bộ chân 真[bài 4: ô (5-6-11-12)]
Tường trưng quý địa hiệp thiên nhân
Đan hoạch kim đài hoán nhất tân
Chân dĩ trí minh thôi thiện huệ
Danh nhân tình lập quảng năng nhân
Kinh phiên bối diệp đàm huyền giáo
Tọa dũng liên hoa thuyết pháp thân
Phật nhật tăng huy quang tứ đại
Quốc ân trường tại xiển tam luân
(Nơi đây tỏ rõ là chốn đất thiêng hòa hợp giữa trời và người
Chùa được dựng lên tô điểm thêm mới mẻ rực rỡ
Thực sự là dùng trí sáng suốt để khơi nguồn trí tuệ
Danh nghĩa thì vì tình (đối với chúng sanh) mà ban phát lòng nhân
Kinh viết lên lá bối luận đàm giáo lý vi diệu
Chỗ ngồi đã nở hoa sen khi thuyết pháp thân
Ánh sáng của Phật càng rực sáng soi khắp tứ đại
Ân của nước ban mãi để xiển dương đạo tam luân).
Hai bài thơ trên, theo chủ quan của chúng tôi, là 2 bài thất ngôn bát cú hoàn toàn chuẩn mực. Trong cách phân lập, quả có những bước chỉ dựa vào suy xét nội dung một cách chủ quan, song thành tâm mà nói, chúng tôi rất tin tưởng vào kết quả tìm được. Thế nhưng, nếu được ai đó chỉ cho những sai lầm, thì xin được mang lòng hàm ân của một người được khai nhãn khai tâm.
Sơ đồ 3: Hai bài vận đông 東
Đến đây, đình Hương Nguyện chỉ còn lại 8 ô thơ như thể hiện ở Sơ đồ 3, thảy đều mang vận nhất đông一東. Tuần tự từ phải sang trái, chúng ta có được những cặp câu sau:
Ô 13 | 端 嚴 爽 豈 帝 城 東 俯 徇 輿 情 建 梵 宮 |
Ô 14 | 降 吉 慈 曇 常 絢 彩 明 徵 慧 日 正 初 紅 |
Ô 15 | 萬 化 瑤 源 皇 覺 妙 千 秋 金 碧 國 恩 洪 |
Ô 16 | 願 弘 福 果 群 生 遂 佛 日 增輝 帝 道 隆 |
Ô 17 | 御 製 清 淨 虛 無 妙 莫 窮 何 關 顯 晦 色 歸 空 |
Ô 18 | 奎 光 照 耀 重 新 煥 寶 絡 慈 悲 大 廊 充 |
Ô 23 | 檀 香 霑 染 千 方 外 樾 蔭 裟 婆 萬 宇 中 |
Ô 12 | 於 我 本 非 崇 闡 教 為 民 但 願 福 龐 洪 |
Các ô thơ mang bộ vận nhất đông 一東trên, cũng xét lần lượt theo các nguyên tắc âm vận, đối niêm của một bài thất ngôn đường luật:
- Từ vận của các ô thơ, rút ra 2 ô 13 và 17 là hai cặp phá - thừa của 2 bài thơ khác nhau (có thêm từ Ngự chế 御製lại càng khẳng định).
- Từ ngữ nghĩa, chúng tôi đoán chữ bị mất ở ô 16 là chữ quần 群, đồng thời chú trọng vào nội dung thúc - kết cùng niêm của các cặp, rút ra được ô16 và ô24 là 2 cặp thúc - kết của 2 bài thơ khác nhau.
- Hai cặp thực, luận ở đây cũng không quá khó để tách biệt, vì nội dung 2 bài thơ rất khác nhau. Dễ dàng nhận ra một bài tả một ngôi chùa cụ thể ở phía đông Kinh thành, qua đó thể hiện tâm trạng của người “chăn dân”, rằng bản thân vốn không muốn khuếch trương Phật giáo, song vì dân (mà xây dựng chùa) nguyện cầu phước quả cho thấm khắp; một bài thì ngợi ca giáo lý của Phật giáo, đồng thời lồng sự huyền diệu của Phật vào trong ân điển của nước, ánh sáng của Phật giáo trong đạo của vua… Từ đó, thêm quy luật thực - luận, chúng tôi tách được ô14 và ô23 là 2 cặp thực luận của bài đầu (ngợi ca ngôi chùa); ô18 và ô15 là cặp thực luận của bài sau (ca tụng Phật giáo).
- Hai bài trên, một bài luật bằng vận bằng, một bài luật trắc vận bằng, nên càng củng cố thêm cho bước phân tích nội dung ngữ nghĩa.
Cuối cùng, xin ghép thành 2 bài thơ như sau:
Bài đầu (tả ngôi chùa): theo thứ tự ô (13-14-23-24)
Bài sau (ca ngợi Phật giáo): theo thứ tự ô (17-18-15-16)
Xin phiên âm và dịch nghĩa như sau:
Bài đầu [bài 5: ô (13-14-23-24)]
Đoan nghiêm sảng khải đế thành đông
Phủ tuấn dư tình kiến Phạm cung
Giáng cát từ đàm thường tuấn thể
Minh trưng huệ nhật chính sơ hồng
Đàn hương triêm nhiễm thiên phương ngoại
Việt ấm sa bà vạn vũ trung
Ư ngã bổn phi sùng xiển giáo
Vị dân đản nguyện phước bàng hồng.
(Đoan nghiêm sừng sững trấn mặt đông Kinh thành
Nghĩ đến niềm tin của dân mà cho dựng chùa ở đây
Mây lành thường rực rỡ bao phủ chùa, thể hiện điềm lành
Ánh sáng trí tuệ chính hướng đông nẩy nở, tỏ rõ mầu nhiệm
Hương thơm đạo Phật thấm khắp ngàn phương
Bóng mát từ bi đã che chở khắp vũ trụ
Với ta, vốn không phải muốn khuếch trương Phật giáo
Chỉ vì mong mỏi cho dân được phước quả lớn lao (mà cho dựng chùa)
Bài sau [bài 6: ô (17-18-15-16)]
Ngự chế
Thanh tĩnh hư vô diệu mạc cùng
Hà quan hiển hối sắc quy không
Khuê quang chiếu diệu trùng tân hoán
Bửu lạc từ bi địa khuếch sung
Vạn hoá diêu nguyên hoàng giác diệu
Thiên thu kim bích quốc ân hồng
Nguyện hoàng phước quả [quần] sinh toại
Phật nhật tăng huy đế đạo long.
(Đạo Phật vốn thanh tĩnh hư vô và ảo diệu vô cùng
Chẳng cần quan tâm giữa cái hiện hay ẩn, vì sắc cũng là không
(Thêm) ánh sáng văn chương chiếu rực rỡ, giáo lý ngày càng mới mẻ
Đức từ bi của Phật pháp càng mở rộng khôn cùng
Sự huyền diệu của Phật giáo là văn hóa vạnloại đến gốc nguồn
Ân sủng của nước thật lớn lao đối chốn thiền lâm mãi ngàn năm
Nguyện mong cho chúng sanh được phúc quả lớn lao
Ánh sáng Phật giáo càng rực rỡ để vương đạo càng thịnh vượng.)
Như vậy, từ 32 ô thơ chữ Hán sắp xếp không theo thứ tự, chúng tôi đã phân lập thành 8 bài thơ thất ngôn bát cú đường luật. Tuy kết quả là những bài thơ hay, sắc sảo về ngôn ngữ, uyên thâm về triết lý, chặt chẽ về niêm luật, song phương pháp làm còn dựa nhiều vào suy luận chủ quan, nên thực tình không dám khẳng định là hoàn toàn đúng. Giả như, các ô thơ trên nguyên thuỷ hàm chứa một số bài tứ tuyệt, rõ ràng chúng tôi không có cách gì biện minh. Tất nhiên, nếu làm một phép đánh đố, rằng với bằng ấy ô thơ có bao nhiêu khả năng có thể xảy ra, thì sẽ có vô cùng nhiều đáp án. Ở đây, chúng tôi chỉ nêu thử một cách làm dựa vào niêm luật song cũng dựa nhiều vào suy luận, để đưa đến một kết quả mà theo chủ quan của chúng tôi thì hữu tình, hữu lý và hay nhất. Xin trưng cầu lời chỉ bày của những người quan tâm lãnh vực này.
Một vài nghi vấn
Giả sử cách làm của chúng tôi hoàn toàn đúng, xin đặt thêm một vấn đề nhỏ: những ô thơ trên được đặt theo quy luật nào? Chúng tôi vẽ lại sơ đồ vị trí của từng bài thơ để tiện theo dõi (tất nhiên chỉ xét khung liên ba dưới mà thôi).
Sơ đồ 4
Bài 1: ô (21-22-7-8) Bài 2: (3-4-19-20)
Bài 3: ô (1-2-9-10) Bài 4: ô (5-6-11-12)
Bài 5: ô (13-14-23-24) Bài 6: (17-18-15-16)
(Thể hiện trên sơ đồ 1 là cặp phá - thừa, số 2 là cặp thực, số 3 là cặp luận, số 4 là cặp thúc - kết)
Chúng tôi đã suy ngẫm khá nhiều song vẫn không tìm được quy luật sắp xếp nào của người xưa. Thực tình, ngay từ đầu chúng tôi có nghĩ đến những ô thơ trên đã bị ghép nhầm. Tất nhiên, khi khởi thủy xây dựng đình Hương Nguyện dưới thới Thiệu Trị thì khả năng nhầm lẫn khó có thể xảy ra. Song, như trên đã giới thiệu, cơn bão Giáp Thìn đã làm đình Hương Nguyện sụp đổ, đến 3 năm sau (1907) mới được dựng lại trên nền cũ của điện Di Lặc, khi lắp ráp lại có thể nhầm chăng ? Khả năng này có thể xẩy ra, nhưng suy đoán vẫn còn dè dặt, vì lẽ nào làm lại một công trình có chạm khắc thơ văn tằng tổ của đương kim hoàng thượng mà triều đình dám thực hiện một cách cẩu thả (?). Hơn nữa, bấy giờ chữ Hán vẫn là văn tự chính thức, bên thi công (không phải bên B đâu, Bộ Công làm đấy !) đều là những người có trình độ rất cao về chữ nghĩa Thánh hiền, có thể để những sai sót ấy được chăng ?
Có một lần tu sửa nào đó trong thời gian sau này mà chúng ta chưa biết đã làm sai lệch tất cả chăng? Chúng tôi cũng có nghĩ đến khả năng này, song le, nếu vậy thì lần tu sửa ấy đã tháo dỡ hoàn toàn đến từ ô biên ba đố bán Khả năng này nghe chừng cũng khó xảy ra, vì khó có một hư hại nào khiến người ta phải làm đến mức như vậy.
Những điều dẫn trên, chúng tôi cố gắng tránh quy kết cái sai thuộc về người xưa. Đó cũng là nguyên tắc làm việc của chúng tôi. Ngoài ra, tuy không tìm ra quy luật sắp xếp các ô thơ một cách tổng quát, chúgn tôi rất lưu tâm đến một số chi tiết:
- Không còn dấu vết của một bài thơ nào lắp đúng cả? Cái sai quá “toàn diện” khiến cho chúng tôi luôn luôn nghi vấn. Cẩu thả đến vậy sao ?
- Các cặp phá - thừa và thực trong cùng một bài thơ luôn luôn đi liền nhau.
. Các cặp luận và thúc - kết trong cùng một bài thơ luôn luôn đi liền nhau
- Xét riêng các cặp “phá - thừa và thực” và “luận và thúc - kết” thì luôn luôn đi đúng trình tự từ phải sang trái, nói cách khác là đều vòng ngược chiều kim đồng hồ.
Nếu cái sai trong lắp đặt “toàn diện” đến mức như chúng ta đã thấy mà lại giữ được những quy luật (tuy không phải là quy luật chi phối toàn bộ) như vừa nêu, há không phải là điều quá hi hữu sao? Cho nên, một khả năng mà chúng tôi thường nghĩ nhiều đến là, phải chăng người xưa muốn đặt lệnh chỗ hoàn toàn như trên để “vấn thế” mà thôi (?!). Đối với kẻ sĩ ngày xưa, chuyên tâm học tập chữ nghĩa Thánh hiền, mười năm đèn sách, một bụng kinh luân, việc hiểu điều “vấn thế” của người xưa nào đâu khó khăn như bọn hậu sinh thiển học như chúng tôi ngày nay. Suy luận như vậy, thì khả năng “vấn thế” có thể xảy ra.
Ấy vậy, giả thiết “vấn thế” cũng khó đứng vững khi có người đặt lại vấn đề: tại sao người xưa không “vấn thế” luôn ở khung liên ba trên? (?!). Hà cớ gì ở đó lại sắp xếp mạch lạc rõ ràng đến vậy ? Vì vậy, đến bây giờ chúng tôi vẫn chưa đặt được một giả thiết nào có sức thuyết phục cả.
Tất nhiên, bàn thêm vậy gọi là nói cho trọn kiến giải của mình. Phần nghi vấn về quy luật xếp đặt các ô thơ ở khung liên ba dưới vừa bàn, thật ra chỉ nằm trọn trong điều kiện: “giả sử kết quả ghép thơ của chúng tôi là hoàn toàn chính xác”. Nếu cách làm và kết quả của chúng tôi không được thừa nhận, thì nói gì đến phần này.
Chung quy, nếu 24 ô thơ ở khung liên ba dưới thực sự là các mảnh vỡ của 6 bài bát cú thì chúng tôi tin rằng kết quả đưa ra là hoàn toàn đúng. Còn bằng như, các ô trên là các phần của những bài tứ tuyệt chung một chủ đề, hay trộn lẫn giữa tứ tuyệt và bát cú thì sai lầm của chúng tôi cũng là điều dễ hiểu. Tuy vậy, xác suất là những bài tứ tuyệt cũng không phải là lớn, vì phải hội đủ quá nhiều điều kiện khách quan. Ví dụ, kết quả phân lập là một bài bát cú hoàn chỉnh, chặt chẽ; nếu thực chất đây là 2 bài tứ tuyệt, thì 2 bài ấy phải chung một nội dung, chung một phong cách, và một bài phải tuân thủ hoàn toàn phần niêm luật thất ngôn bát cú còn lại của bài kia… Hai bài tứ tuyệt được làm một cách ngẫu nhiên, có thể ghép lại để thành một bài bát cú chỉnh chu, xác suất ấy thật quá nhỏ.
Tất nhiên, khả năng sai lầm của chúng tôi vẫn khá lớn, mục đích bài viết cũng chỉ giới thiệu phong cách “nhất thi nhất họa” độc đáo trên kiến trúc Huế, và nêu cụ thể chữ nghĩa 32 ô hộc để mọi người tham khảo. Cách làm, cách ghép và phiên âm dịch nghĩa hằn còn quá thô thiển, trình bày ra cũng chỉ trưng cầu sự góp ý của mọi người, chúng tôi không có tham vọng gì hơn.
Hiện chúng tôi đang tư vấn cho công cuộc trùng tu lại tổng thể kiến trúc của chùa Linh Mụ với quy mô lớn. Những điều nêu lên trong bài viết cũng là một vấn đề cần giải quyết triệt để phục vụ cho sự nghiệp bảo tồn. Nhân các diễn đàn, chúng tôi đưa các vấn đề ra cũng nhằm tranh thủ ý kiến và chỗ sở tri của mọi người để có thể tư vấn chuẩn xác cho công tác bảo tồn di tích chùa Thiên Mụ. Không có tham vọng gì lớn, chỉ là mượn hoa cúng dường Phật, nếu thất thố xin niệm tình đại xá.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.130-152