18. Bia Văn chỉ tổng Tỳ Bà
BIA VĂN CHỈ TỔNG TỲ BÀ
NGUYỄN VĂN ĐÁP
Ban Quản lý di tích tỉnh Bắc Ninh
Tổng Tỳ Bà xưa thuộc huyện Lang Tài, tỉnh Bắc Ninh gồm các xã: Tỳ Bà, Duyên Dương, Mỹ Duệ, Bà Khê, Văn Xá, Phú Văn, Hương Chỉ, Phương Xá, Tĩnh Xá, Điện Xuyên và Ngọc Thượng. Nay là toàn bộ phần đất của xã Phú Hòa, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Căn cứ vào truyền thuyết và đặc điểm cư trú tên gọi thì đất Phú Hòa có con người đến sinh cơ lập nghiệp từ đầu thời Lý (TK.XI). Trải qua nhiều cơn binh hỏa, người dân nơi đây đã lưu tán đi các nơi, đến khi thanh bình, họ lại về quê hương bản quán sinh sống. Hầu hết các làng xã thuộc tổng Tỳ Bà trước đây đều nằm ven bờ sông Văn để tiện cho việc canh tác, đánh bắt tôm cá và sinh hoạt hàng ngày.
Dưới chế độ thi cử chữ Hán, các làng xã thuộc tổng Tỳ Bà trước đây có rất nhiều người theo học chữ Thánh hiền và đỗ đạt cao. Qua đợt khảo sát vừa qua tại xã Phú Hòa chúng tôi thấy hầu hết các làng trong xã đều có 1 văn chỉ để làm nơi cho Hội Tư văn sinh hoạt. Hàng tổng có chung một văn chỉ gọi là Văn chỉ tổng Tỳ Bà. Hàng năm vào các ngày Đinh của tháng trọng Xuân (tháng 2) và ngày Đinh của tháng trọng Thu (tháng 8) Hội tư văn ra văn chỉ để làm lễ tế Chu Công, Khổng Tử, Tứ phối, Thập triết thất thập nhị hiền và các vị tiên Nho tiên Hiền của làng xã và tổng. Đến nay các văn chỉ thuộc hàng xã xưa, nơi còn nơi mất, nơi chỉ còn lại dấu tích như các văn bia ghi lại, nơi chỉ là bình địa hoặc có nơi các công trình khác được xây dựng lên...
Qua đợt khảo sát này chúng tôi quan tâm nhất là tấm bia Tỳ Bà văn chỉ bi ký (bia ghi Văn chỉ tổng Tỳ Bà). Bia này hiện nay được đặt ở trước cửa đình làng Phú Văn. Thân bia dẹt, hình chóp gồm 4 mặt, kích thước 95 x 57cm, trên bia không trang trí hoa văn. Lòng bia khắc toàn chữ Hán, chữ chân phương, dễ đọc. Trên bia không ghi niên đại dựng bia, nhưng qua nghiên cứu về kiểu dáng bia, kiểu chữ và số người được ghi khắc trong bia chúng tôi đoán định bia được dựng vào nửa đầu thế kỷ XIX. Bia do Tú tài Nguyễn Sĩ Hào người Phú Văn, Tú tài Nguyễn Hữu Doãn người Bà Khê, Xuân giáp trưởng Cai tổng Phương Danh Huy người Bà Khê, Thu giáp trưởng Cai tổng Bùi Đình Trinh người Hương Chi cùng toàn tổng phụng kiến.
Nội dung bia cho biết: “... Bản tổng ta từ xưa có tiếng là đất văn hiến, trải qua các triều đại đều có các vị Tiên hiền Tiến sĩ tiếp nối sự nghiệp quan trường, tiếng thơm để lại muôn đời cho hậu thế”... “Xin được cẩn thuật lại thứ tự khoa danh, chức sắc, họ tên, các điền lệ, các khoản để ghi lâu dài vào bia đá”...
Mặt trước của bia ghi đầy đủ 26 vị khoa bảng, chúng tôi xin dịch như sau:
1. Khoa thi năm Mậu Tuất, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ, làm quan đến chức Hiến sát sứ người xã Văn Xá là Ngô tướng công, tự Sở Ngọc.
2. Khoa thi năm Tân Mùi, đỗ Đệ tam giáp Tiến sỹ, làm quan đến chức Thị lang người xã Văn Xá là Nguyễn tướng công tự Hữu Quan.
3. Khoa thi năm Giáp Tuất, đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm quan đến chức Hộ bộ Thượng thư, phụng mệnh đi sứ phương Bắc, tước Văn Hà hầu, người xã Phú Văn là Đoàn tướng công, tự Sự Đức.
4. Khoa thi năm Canh Thìn đỗ Đệ tam giáp Tiến sĩ, làm quan đến chức Giám sát ngự sử, tước Tòng Nghĩa bá, người xã Văn Xá là Nguyễn tướng công tự Tranh.
5. Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân Hữu Hiệu điểm, người xã Nội Duệ là Nguyễn tướng công, tự Khắc Minh, hiệu Đôn Lương.
6. Tri phủ phủ Kiến Xương làm quan đến chức Mậu lâm lang, người xã Tỳ Bà là Nguyễn tiên sinh
7. Thí tướng sĩ Lang huấn đạo, người xã Phú Văn là Nguyễn quý công tự Khắc Nhân.
8. Tri huyện huyện Hoa Khê, làm quan chức Cẩn sự tá lang, người xã Phú Văn là Nguyễn quý công tự Công Thuần.
9. Tri huyện huyện Sơn Minh, làm quan chức Cẩn sự tá lang người xã Hương Chi là Hoàng quý công, tự Tuấn Tú.
10. Mậu lâm lang xứ Thái Nguyên, làm quan đến chức Thanh hình Hiến sát xứ ty, hiến phó, người xã Tỳ Bà là Đặng tướng công, tự Sĩ Nhâm.
11. Tri huyện huyện Sơn Minh, làm quan chức Cẩn sự lang tá lang, người xã Bà Khê là Nguyễn quý công, tự Nhạ.
12. Hiến cung đại phu xứ Sơn Nam, làm quan chức Tán trị thừa chính sứ ty tham nghị, người xã Bà Khê là Nguyễn tướng công, tự Thuân.
13. Tri huyện huyện Đại Từ, làm quan chức Cẩn sự tá lang, người xã Bà Khê là Nguyễn quý công, tự Truy.
14. Nho sinh trúng thức tả trung duẫn, người xã Tỳ Bà là Đặng quý công, tự Sùng Thị.
15. Quốc tử giám Giám sinh, người xã Bà Khê là Phương quý công, tự Hữu Trù, hiệu Triệu Cơ.
16. Thí Tướng sĩ lang giảng dụ, người xã Bà Khê là Nguyễn tướng công, tự Đức Độ, hiệu Hoàn Nghĩa.
17. Đỗ Cử nhân khoa thi Kỷ Mão, làm quan hai huyện Hoằng Hóa, Thạch Hà, tước Lương Khê tử, người xã Bà Khê là Phương tôn công, tự Phúc Thuận, hiệu Nghi Khê.
18. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Phú Văn là Nguyễn quý công, tự Nho Liêu, hiệu Thuần Chất.
19. Nho sinh Khâm thị thị nhưng Cẩn sự lang Cổ Pháp điện tự thừa, tước Đốc Trung tử, người xã Bà Khê là Phương quý công, tự Hoàng Nho, hiệu Phúc Trực.
20. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Phú Văn là Nguyễn quý công, tự Xuân Các, hiệu Ôn Nhã.
21. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Bà Khê là Phương quý công, tự Hữu Kỹ, hiệu Thế Y.
22. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Tĩnh Xá là Nguyễn quý công, tự Hữu Vương, hiệu Thành Chất.
23. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Bà Khê là Nguyễn quý công, tự Viết Tấn, hiệu Nho Nghị.
24. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Bà Khê là Nguyễn quý công, tự Đốc Bùi, hiệu Phúc Chính.
25. Phủ hiệu Hiệu sinh, người xã Phương Xá là Vũ quý công, tự Hân, hiệu Khoan Bình.
26. Triều Lê thi Tướng sĩ lang chi sự, sắc là Cai tổng, tước Cự Quang nam, người xã Văn Xá là Nguyễn công, tự Tuân, hiệu Đức Quyên.
Mặt sau và hai mặt bên, bia ghi rõ các điều lệ, các khoản mà bản tổng quy định rất cụ thể, chúng tôi xin được trích dịch như sau:
Những người đỗ Tiến sĩ bản tổng có lễ thăm hỏi gồm 1 thủ trâu, 1 mâm xôi, trầu cau, rượu để bái vọng, thưởng 20 quan tiền.
Người đỗ Cử nhân bản tổng có lễ thăm hỏi gồm 1 thủ lợn, 1 mâm xôi, trầu cau, rượu để bái vọng, thưởng 3 quan tiền.
Ngày sự lệ cúng người đỗ Tiến sỹ 1 thủ lợn, trầu cau, xôi rượu. Cử nhân 1 con gà, trầu cau, xôi rượu. Tú tài 1 buồng cau... khi 100 tuổi được cúng tế ở Văn chỉ.
Ngày Khánh lệ của các vị Tiến sĩ mỗi xã trong tổng góp tiền 50 quan, 1 bức trướng, 1 buồng cau, 1 hũ rượu. Cử nhân mỗi xã góp tiền 20 quan, 1 bức trướng, 1 buồng cau, 1 hũ rượu.
Ngày mừng thọ mỗi xã góp tiền 2 quan, câu đối 1 đôi, cau 1 buồng, rượu 1 hũ. Năm 60 tuổi trở lên có tổ chức mừng thọ mỗi xã góp tiền 60 mạch, câu đối 1 đôi, cau 1 buồng, rượu 1 hũ, chướng văn, câu đối màu đỏ...
Qua bia “Tỳ Bà văn chỉ bi ký” và các bia văn chỉ trong làng, xã thuộc tổng Tỳ Bà xưa, nay là xã Phú Hòa ta thấy Hội Tư văn ở đây ra đời khá sớm, theo một cơ cấu nhất định, vai trò của Hội Tư văn đã được khẳng định và có vị thế trong làng xã, bởi họ là người đứng ra lo việc tế thờ các bậc tiên hiền và duy trì các hoạt động về văn hóa giáo dục ở địa phương. Mặt khác các điều lệ được Hội Tư văn quy định rất rõ và cụ thể. Trong bia ghi đầy đủ họ tên của những người đỗ đạt từ đại khoa, trung khoa và tiểu khoa, nhằm khuyến khích con em trong tổng học tập, phát huy tinh thần hiếu học của các bậc cha ông đi trước.
Có thể nói, bia Văn chỉ tổng Tỳ Bà đã góp phần bổ sung tiểu sử cho một số nhà khoa bảng Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng, đồng thời cung cấp cho ta một danh mục về các vị khoa trường ở một địa phương có truyền thống văn hiến và hiếu học. Đây là một minh chứng để nói rằng đất Phú Hòa cũng là một trong những nơi sản sinh nhiều nhân tài, đóng góp vào sự phát triển chung của nền văn hiến Bắc Ninh - Kinh Bắc./.