VI | EN
18. Phát hiện bia thời Mạc ở huyện Thuận Thành, Bắc Ninh (TBHNH 2004)
TBHNH 2004

PHÁT HIỆN BIA THỜI MẠC

Ở HUYỆN THUẬN THÀNH - BẮC NINH

NGUYỄN VĂN ĐÁP

Bảo tàng Bắc Ninh

Trong thời gian vừa qua, chúng tôi đi khảo sát, nghiên cứu hồ sơ di tích có về đình Đoài, nay thuộc thôn Đoài, xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một ngôi đình có kiến trúc cổ và đẹp - nơi tín ngưỡng văn hóa tiêu biểu của nhân dân địa phương, nơi thờ 3 vị thành hoàng là 3 anh em Chu có công phù Lê diệt Mạc.

Công trình được khởi dựng vào khoảng thế kỷ XVI và đã qua nhiều lần tu bổ sửa chữa. Đến nay công trình thờ tự này vẫn có kiến trúc quy mô đồ sộ theo kiểu chữ công (I), kết cấu vì theo kiểu giá chiêng, đắp vẽ tài nghệ, bày đặt các đồ thờ tự tôn nghiêm. Mảng chạm ở các bức cốn trong trong đình chủ yếu là đề tài tứ linh, tứ quý, chạm nổi công phu. Gian giữa của đình còn có một bức cửa võng chạm lộng khá tinh xảo, nét chạm sắc nhỏ và tinh tế được sơn son thếp vàng lộng lẫy. Đặc biệt còn một tấm bia đá được đặt ở phía tây của tòa tiền đường, đó là bia Trùng tu đình bi ký, niên đại Đoan Thái 2 (1587). Bia do Xá sinh Nguyễn Duyên Hài soạn. Đề lại huyện Nghi Dương là Vũ Văn Đẩu viết chữ, thợ khắc đá là Phạm Nho.

Bia gồm 2 mặt, kích thước 91x58cm, trán bia chạm mặt trời, mây lửa, diềm bia trang trí hoa dây cách điệu, toàn văn chữ Hán, kiểu chữ chân, nét chữ khắc nhỏ, nông, đến nay có một số chữ bị mờ, gồm 25 dòng, khoảng hơn 700 chữ. Chúng tôi xin tạm dịch toàn văn như sau:

Mặt 1: Bia ghi trùng tu đình

Đình là nơi cầu an cầu phúc của toàn dân. Ấy vậy! trải qua nhiều năm tháng, đình đã bị hư nát. Các quan viên bản xã già trẻ, trên dưới, bàn việc tu sửa lại, khốn nỗi tiền tài hết sức khó khăn, chưa biết lấy ở đâu.

Bấy giờ có quan Vũ an vệ thần dũng tả sở chánh vũ uý Vũ Kỳ là bậc đức độ, tiền của đều hơn người, xin bỏ 38 lạng bạc của nhà để mua gỗ, gạch nguyên liệu để chữa đình. Giao ước với dân làng hàng năm vào tiết nhập tịch cầu phúc, làng dành cho một sập ở bên tây đình để Vũ Kỳ ngồi xem ca hát. Đến khi Vũ Kỳ trăm tuổi về già, bản xã đời đời nhập tịch sẽ kế thỉnh tự, hiệu Vũ Kỳ về đình phối hưởng cùng Thành hoàng, các giáp luân phiên hương lửa thờ cúng.

Sau đó lại có quan Lệnh tể ở huyện Yên Thế là Trúc Hiên tiên sinh, cùng người thân trong nhà là Nho sinh Nguyễn Chí Thiện thấy rõ công đức to lớn của cha, cũng là dịp hiếu, liền cùng đem của nhà 38 quan tiền để cho bản xã chữa đình, xin với dân làng cho Trúc Hiên tiên sinh làm Hậu thần, trong những ngày Kỳ phúc được đời đời cúng tế.

Ngày 7 tháng 10 năm Diên Thành 7 (1584).

Công trình làm xong quy mô như cũ.

Để mãi mãi đời sau được biết bèn mua đá xanh tạc bia để lại.

Đoan Thái năm thứ 2 (1587) mùa xuân ngày tốt.

Quốc tử giám Xá sinh Nguyễn Duyên Hài soạn.

Đề lại huyện Nghi Dương Vũ Văn Đẩu viết chữ.

Ngọc thạch tượng, tượng khắc Phạm Nho khắc đá.

Mặt 2:

Xã Mão Điền, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An. Các quan trong hạt và ông Vũ Quang là người làm thuế vùng ta… gồm An Ninh bá Nguyễn Quang Đằng, Hùng Đô bá Nguyễn Phác, Đô Thắng bá Nguyễn Sầm, Tổng chánh Nguyễn Văn Đỗng, Xã trưởng Ngô Duy Tú…

Giáp đương cai Nguyễn Ban, Nguyễn Văn Yêm, Nguyễn Khắc Tố, Nguyễn Văn Hạng, Nguyễn Hữu Anh, Nguyễn Vô Cạnh, Cao Vị, Trần Nho Huy, Trần Văn Nỗ, Nguyễn Hạt, Nguyễn Thế Tuy, Nguyễn Kỳ, Nguyễn Quang Kiến, Trần Văn Đắc, Nguyễn Tư, Nguyễn Dũ, Vũ Vô Địch, Cao…, Nguyễn Văn Chuy, Cao Sỹ Lân, Nguyễn Thời Cử, Cao Sỹ Luyện, Nguyễn Thùy Củng, Nguyễn Quế, Nguyễn Ninh, Nguyễn Phú Thuế, Cao Thừa Sủng, Nguyễn Khí v.v…

Thấy đình làng ta siêu hỏng, nên có kế hoạch sửa chữa. Nhưng tiền của lại rất thiếu thốn. Thời ấy trong làng có ông Vũ uý Vũ an vệ thần dũng tả sở Vũ Kỳ tuổi cao, đức độ, tiết kiệm tiền tài nên nhà dư dật, xin đem của nhà 38 lạng bạc cùng cả làng mua gỗ tốt để chữa đình.

Với sự nhiệt tình và khiêm tốn của ông, nên cả làng có giao ước riêng hàng năm ngày Kỳ phúc để một sập cao mời ông Vũ Kỳ ngồi xem ca hát. Khi ông trăm tuổi hàng năm làng nhập tịch đều tưởng niệm ông Vũ Kỳ, cả chức hiệu ở chỗ thường ngồi khi sinh thời. Và các giáp lần lượt thờ cúng.

Nếu về sau trong làng có người nào lỗ mãng coi thường thì phải tạ làng 1 con trâu 16 vò rượu, nếu làng phạt mà không chịu chấp hành thì sẽ bị dẫn giải đến trước cửa quan để xét xử như quy ước.

Ngày 22 tháng 7 năm Diên Thành 7 (1584).

Ruộng quan điền của xã đã có tiền lệ để lại. Về sau ban phụng kiểm không chấp nhận số thuế như thường lệ. Thời ấy có ông Trúc Hiên tiên sinh cùng với Vũ Kỳ, Vũ Quảng dụng tâm, xuất lực tra xét lệ cũ, rồi cùng Thôn trưởng là Lê An Tập kêu lên cửa quan. Hai ty Thừa, Hiến đã về khám thật tại xã. Sau khi chuẩn trừ các hạng đất ở ao, chuôm, đất tam bảo, tha ma thì số ruộng quan điền của xã có trên 100 mẫu, hàng năm phải nộp 48 thạch thóc, đúng như ngạch cũ.

Thời ấy nhờ có ông Trúc Hiên tiên sinh làm quan coi xét việc hòa giải, theo dõi hơn 30 năm đều công nhận làng ta hàng năm nộp tô thuế đầy đủ, không để thiếu và không gây phiền hà với quan trên.

Nhân đó những tín thí có ruộng riêng cúng vào các từ sở cũng đều được miễn thuế. Những người công đức đều được ghi lại để lưu truyền mãi cho các thế hệ sau./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.154-157)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm