VI | EN
19. Hệ thống bia ở cụm di tích đình-đền-chùa làng Phú Thị (Gia Lâm, Hà Nội) (TBHNH 2004)
TBHNH 2004
HỆ THỐNG BIA Ở CỤM DI TÍCH ĐÌNH - ĐỀN - CHÙA

LÀNG PHÚ THỊ (GIA LÂM, HÀ NỘI)

BÙI XUÂN ĐÍNH

Viện Dân tộc học

Làng Phú Thị, tên Nôm là làng Sủi, nay thuộc xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội; đầu thời Nguyễn là một xã thuộc tổng Kim Sơn, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Đây là một làng cổ, có truyền thống hiếu học và khoa bảng, với 10 người đỗ đại khoa, hơn 20 người đỗ trung khoa thời phong kiến. Phú Thị còn là trung tâm của hương Thổ Lỗi (tức hương Siêu Loại thời Lý, quê hương của Nguyên phi Ỷ Lan - người phụ nữ nổi tiếng thời Lý, được thờ tại đình, đền và chùa làng (mang tên Đại Dương Sùng Phúc tự) nằm liền kề nhau còn được bảo tồn đến ngày nay. Những yếu tố trên đây là cơ sở để Phú Thị sớm có một hệ thống văn bia khá phong phú. Trước đây, một bộ phận số bia này tập trung trước cửa chùa, một số khác nằm trong các nhà dân. Cuối năm 2001, Ban Quản lý di tích của làng cùng các dòng họ đã đóng góp tiền của để dựng nhà bia; đồng thời quy tập các tấm bia nằm trong dân về đây. Hiện tại Nhà bia có 14 tấm, trước cửa đình còn 2 tấm và sau chùa còn một tấm. Tổng cộng tại khu di tích đình - đền - chùa có 17 tấm bia. Phần lớn số bia này đã được Trường Viễn đông Bác cổ Pháp dập, thác bản hiện còn lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đây là nguồn di văn Hán Nôm rất quý giá. Ngoài giá trị trang trí nghệ thuật, các bia còn chứa đựng nhiều tư liệu lịch sử quý, góp phần tìm hiểu nhiều mặt về xã hội, lịch sử, văn hóa làng Phú Thị và lịch sử đất nước qua các giai đoạn lịch sử.

I. Phân loại các bia theo nội dung (theo di tích)

A. Bia ở đình, chùa và đền

Gồm 14 bia (theo trình tự thời gian lập bia, bia không rõ niên đại để sau cùng)

1- Cúng dưỡng điền bi (Thác bản bia lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu N.3155)

Mặt trước của bia lập ngày 24 tháng hai năm Đoan Thái thứ tư (1589)(1), nói về vị Hương lão xã Phú Thị Nguyễn Phỉ, tự Trường Thọ cùng vợ, con gái, con rể cúng 5 sào vào chùa Đại Dương thờ bà Ỷ Lan Hoàng Thái hậu. Số ruộng (có ghi diện tích từng thửa) giao cho đương cai cày cấy lo cúng lễ.

Người soạn văn bia là Phụng trực đại phu, Chiêu văn quán Nho sinh Nguyễn Vinh; người khắc bia là Nguyễn Ích Diệu quê ở xã Gia Đức, huyện Thủy Đường, phủ Kinh Môn là Lực sĩ ở Vệ Chiêu vũ.

Mặt sau của bia khắc ngày 13 tháng Năm, năm Đức Long thứ ba (1631). Nội dung nói về bà Triết vương cung tần Lê Thị Ngọc Mang, hiệu Chân Từ Hòa ở phủ chúa Trịnh, người xã Quế Tân, huyện Võ Giàng (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) cùng con là Thiếu bảo Diệu Quận công Trịnh Nha mua ruộng cúng vào chùa Đại Dương. Ngoài ra còn có một số người khác cúng ruộng vào chùa, tổng cộng là 3 mẫu 4 sào 8 thước.

2. Tam quan án đường hương đình bi ( No.3166)

Bia tạo năm Đinh Mùi niên hiệu Hoằng Định đời vua Lê Kính Tông (1607). Bia một mặt, khổ 0,68x1,3m, gồm 29 dòng (dòng ít nhất 50 chữ, dòng nhiều nhất 58 chữ), ước toàn văn khoảng 1200 chữ, song không ghi người soạn, người viết và người khắc chữ.

Nội dung bài văn bia ghi họ tên, chức tước những người công đức tiền của để sửa tòa thượng điện và tạc tượng chùa, như Tín quan Phó tướng Việt Quận công Trịnh Hoàng, Trịnh tần Hoàng Thị Ngọc Đệ - phu nhân của Thượng phụ Bình An vương Trịnh Tùng.

3- Cúng Phật sản bi (N. 3161)

Bia 1 mặt, khổ 0,65x1,15m, chạm mặt trời, rồng, hoa lá. Bia được lập ngày 15 tháng Hai năm Quý Dậu niên hiệu Đức Long, đời vua Lê Thần Tông (1633), không ghi người soạn, người viết và người khắc.

Toàn văn chữ Hán, gồm 17 dòng (dòng ít nhất 2 chữ, dòng nhiều nhất 35 chữ), ước toàn văn khoảng 400 chữ rõ nét. Nội dung ca ngợi thế đất và cảnh đẹp của chùa Đại Dương Sùng Phúc, là “thắng cảnh bậc nhất của nước Việt Nam”; một số Cung tần ở phủ Chúa Trịnh đứng đầu là bà Đào Thị Ngọc, quê ở xã Thượng Miên, huyện Tây Quan, phủ Thái Bình góp 9 dật bạc và 160 quan tiền để tu bổ chùa.

4- Công đức tạo san bi (N. 3169)

Bia tạo năm Dương Hòa thứ hai, đời vua Lê Thần Tông (1636), khổ 1,00x1,75m, chạm rồng, mặt trời, hoa dây, Mặt trước gồm 20 dòng (dòng ít nhất 3 chữ, nhiều nhất 34 chữ), ước toàn văn khoảng 340 chữ, không ghi người soạn, người viết và thợ khắc chữ. Nội dung nói về việc trong xã Phú Thị có bọn gian ác bày mưu kế hiếp đáp người lương thiện, đánh người già đến chết, lại vu vạ cho người. Dân xã oan ức kêu lên trên, được bà Võ Thị Ngọc Yêu là phu nhân vị Hoằng Lộc hầu, người xã Cổ Lương, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường giúp cho 14 hốt bạc tương đương 30 dật 8 lạng, trị giá 300 quan tiền sử để trang trải chi phí. Dân xã ghi nhớ ân đức to lớn này, định lệ vào ngày 10 tháng Tám lập đàn mở hội 5 ngày đêm liền và cúng giỗ những vị Hậu Phật.

Mặt sau có tiêu đề Công đức tạo san bi (N.3170), được tạo năm Phúc Thái thứ tư đời vua Lê Chân Tông (1646), gồm 29 dòng (dòng ít nhất 1 chữ, dòng nhiều nhất 34 chữ), ước toàn văn khoảng 600 chữ, không ghi người soạn, người viết và thợ khắc chữ.

Nội dung nói về việc quan viên, hương lão xã Phú Thị tôn bầu ông Thiếu khanh Văn Nghiêm tử Nguyễn Minh Đạo làm Trùm trưởng đã cúng cho chùa 1 lư hương bằng đồng, 1 tòa hương đình, 2 hương án, 2 cỗ kiệu; lại bỏ ra 100 lạng bạc để mua ruộng thờ Lý triều đệ tam đế Ỷ Lan Thái hoàng Thái hậu, Đương cảnh Thành hoàng Sùng Phúc đại vương. Ngoài ra, ông còn có 1 mẫu ruộng của cha mẹ để lại, giao cho các giáp cày cấy làm giỗ về sau.

5- Đại Dương tự bi kí (N. 3158)

Bia 1 mặt, khổ 0,47x0,68m, chạm mặt trời, hoa mây, tạo ngày tốt tháng Mười năm Dương Hoà thứ hai đời vua Lê Thần Tông (1636), gồm 14 dòng (dòng ít nhất 12 chữ, dòng nhiều nhất 23 chữ), ước toàn văn khoảng 320 chữ, rõ đẹp, không ghi người soạn, người viết và người khắc chữ. Nội dung nói về bà họ Nguyễn người thôn Ô Cách, xã Cù Sơn, huyện Yên Sơn, phủ Quốc Oai, tên thụy là Diệu Bảo, tên hiệu là Tây Trân cúng một dật bạc tốt để làm nhà tiền đường chùa Đại Dương Sùng Phúc, xã Phú Thị, một dật bạc tốt, 103 quan 5 mạch tiền sử, giao cho bản xã tậu ruộng cúng dưỡng tam bảo, muôn đời thừa tự, lưu truyền mãi mãi.

Mặt sau có tiêu đề Thiền sư huệ không điền bi (N.3157).

Bia chạm mặt trời, hoa mây, tạo ngày 1 tháng Năm năm Tân Tỵ, niên hiệu Dương Hòa thứ bảy (1641), gồm 19 dòng (dòng ít nhất 10 chữ, dòng nhiều nhất 25 chữ), ước toàn văn khoảng 300 chữ rõ đẹp, không ghi người soạn, người viết và người khắc. Nội dung nói về việc Nhà sư Nguyễn Văn Quế, giữ chức Tiến công lang Tăng thống ở Ty Tăng Lục, trụ trì ở chùa làng Phú Thị, liên tục trong nhiều năm đã cho tu bổ chùa, tạc và tô lại tượng, lại cúng ruộng vào Tam bảo để lo việc oản chuối thờ Phật, giao cho các thôn trong bản xã nhận lấy cày cấy.

6 - Đại Dương tự điền bi (N.3156)

Bia 1 mặt, khổ 0,45x0,69m. Chạm mặt trời, hoa mây, tạo năm Dương Hòa thứ năm, đời Vua Lê Thần Tông (1639), gồm 22 dòng (dòng ít nhất 2 chữ, dòng nhiều nhất 25 chữ), ước toàn văn khoảng 320 chữ rõ đẹp. Nội dung nói về việc bà Vương phủ Thái Thị Phi đổi là họ Nguyễn, tự là Huệ qua vùng đất này, biết đây là đền thờ đế vương thời Lý đã cúng 5 quan tiền, lại bỏ ra 5 dật bạc mua ruộng để gửi giỗ hàng năm cho bà. Ghi diện tích và tên các xứ đồng.

7 - Đại Dương Sùng Phúc tự ký (mặt trước), Cúng dưỡng hương hỏa điền bi (mặt sau, N. 3159-60)

Bia được đặt trên tòa sen hai tầng, rộng 70cm, cao 22cm, diềm bia mặt sau khắc cảnh chom hạc, hoa cúc; tạo ngày tốt tháng tám năm Khánh Đức thứ ba (1651).

Nội dung nói về bà Vương Phủ đệ nhị cung tần Trần Thị Ngọc Yên, người làng Cộng Vũ, huyện Ân Thi, phủ Khoái Châu, có 35 dật vàng cho quan viên hương lão cùng toàn dân Phú Thị đem về mua ruộng ở các xứ gồm 3 mẫu 4 thước theo thời giá hết 16 dật 7 lạng vàng, mua gỗ lim về xây dựng hành lang bên hữu ngôi hậu điện khu đền thờ bà Hoàng Thái hậu đời Vua Lý thứ ba, hết 10 dật vàng. Số còn lại chia đều cho mọi người trên dưới trong làng gồm 8 dật 3 lạng. Do vậy, dân làng tình nguyện xin làm tôi con, lập đàn thề ước... xin được đón rước tượng bà thờ ở trong điện lưu truyền muôn thuở. Tiếp đến kê số ruộng ở từng xứ đồng.

8 - Cấu tác điện đường bi kí (N. 3164- 3165)

Bia hai mặt, khổ 0,53x1,00m, có chạm hình Bát quái, tạo ngày 2 tháng mười năm Vĩnh Khánh thứ ba đời vua Lê Đế Duy Phường (1731), gồm 29 dòng (dòng ít nhất 1 chữ, dòng nhiều nhất 28 chữ), ước toàn văn khoảng 400 chữ. Người soạn và viết văn bia là Đề lại Đoàn Danh Tể - người trong xã. Người khắc chữ là Thợ đá xã An Hoạch Lê Đình Trọng.

Nội dung nói về vợ lẽ ông Hải Trung hầu là bà Nguyễn Thị Duyên cúng tiền cho làng sửa đền thờ bà Hoàng Thái hậu thời Lý, gồm 3 gian 1 chái và xây tường bao; lại cúng 1 mẫu ruộng để gửi giỗ. Dân làng tôn bầu bà làm Hậu và định lệ thờ cúng hàng năm. Kê tên các xứ đồng (nhưng đều bị đục bỏ).

9- Tân Mão xuân chỉnh lập bi thức (không có thác bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm)

Bia hai mặt, khổ 0,44x0,66m; diềm bia trơn, không hoa văn.

Bia được lập tháng hai năm Tân Mão niên hiệu Minh Mệnh (1831), nội dung nói về việc sửa chùa vào năm này.

10- Nam mô a di đà Phật (không có thác bản)

Bia đặt ở sau chùa, khổ lớn, hai mặt, tạo năm Bảo Đại thứ 17 (1942), chữ to đẹp, bài văn do Cử nhân Hoàng Thúc Hội người làng Hạ Yên Quyết (nay thuộc phường Yên Hòa, quận Cầu Giấy, Hà Nội) soạn. Nội dung nói về giá trị của chùa và đền Sủi, việc tu bổ chùa vào dịp này. Mặt sau liệt kê số ruộng của những người đóng góp vào chùa.

11- Tứ phối vị hậu thần bi (không có thác bản bia)

Bia một mặt, khổ 0,77x1,21m, trán bia khắc rồng chầu mặt trời bao quanh đám mây, diềm bia khắc hình hoa, lá, ô trám. Bia không ghi niên đại. Mặt trước có tiêu đề Tứ phối vị hậu thần bi (bốn vị thần cùng được thờ), song chữ bị mờ, không đọc được. Mặt sau không có chữ.

12- Trùng tu Đại Dương tự Phật tượng(không có thác bản)

Bia hai mặt, phẳng, khổ 0,68x1,08m, trán bia có hình rồng chầu mặt nguyệt, diềm là hoa văn, mây lá.

Mặt trước có tiêu đề Trùng tu Đại Dương tự phật tượng bi, nói về việc tu sửa các bức tượng Phật trong chùa. Mặt sau chữ mờ, khó đọc. Có lẽ niên đại bia ở mặt này nên không rõ.

B. Bia chung về làng và văn chỉ

Gồm 2 bia (theo trình tự thời gian lập bia).

13 - Trung nghĩa lý bi(N.3162- 63)

Bia hai mặt, khổ 0,55x0,90m, đặt trên thân rùa, chạm mặt trời, rồng, hoa lá, gồm 39 dòng (dòng ít nhất 1 chữ, dòng nhiều nhất 49 chữ), ước toàn văn khoảng 1200 chữ. Người soạn văn bia là Nguyễn Huy Cận, người làng Phú Thị, Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760). Người khắc chữ là thợ đá xã An Hoạch Lê Đình Trọng. Bia được tạo năm Cảnh Hưng thứ 25 (1764). Nội dung nói về việc năm Canh Thân (1740) có loạn lạc nổi lên, dân làng đứng lên tự vệ, giữ được yên ổn nên được vua ban chữ là làng Trung Nghĩa. Làng có nhiều người làm quan to trong triều, như Hàn lâm viện Thừa chỉ Nguyễn Huy Nhuận, Giám sát ngự sử Nguyễn Huy Dận...

14 - Gia Lâm huyện Phú Thị xã từ vũ bi (N.3167-68)

Bia văn chỉ dựng ở trước cửa đình. Bia hai mặt, khổ 0,75x1,25m, đặt trên lưng rùa, chạm rồng, mặt trời; tạo năm Cảnh Hưng thứ 24 (1763), gồm 42 dòng (dòng ít nhất 1 chữ, dòng nhiều nhất 66 chữ), ước toàn văn khoảng 1300 chữ, nhiều dòng, nhiều chữ bị mờ. Người soạn văn bia là Nguyễn Huy Cận, Tiến sĩ khoa Canh Thìn (1760), người làng Phú Thị, không ghi người viết chữ; người khắc chữ là Lê Đình Trọng, Cục phó thạch tượng.

Nội dung văn bia ca ngợi đền miếu của làng Trung Nghĩa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng 24 (1763), là nơi tôn nghiêm và là đất thi, thư, lễ, nhạc. Nơi đây đã sản sinh nhiều người tài giỏi, đỗ đạt và làm quan to. Bia kê tên 161 người thành đạt này, trong đó có Nguyễn Huy Nhuận, tước Quận công; Lâm Quận Công Cao Dương Trạc, chức Tham tụng nội các Đại học sĩ, Hộ bộ Thượng thư, Hàn lâm viện sự, Tri Kinh diên, tặng Thiếu bảo. Ngoài ra còn có các vị Nho sinh, Giám sinh, Hiệu sinh.

C. Bia từ đường và nhân vật lịch sử của làng

Gồm 3 bia (theo trình tự thời gian lập bia):

15- Từ đường bi ký (không có thác bản)

Bia một mặt, 3 cấp, khổ 0,62x0,93m, diềm bia trơn, không hoa văn.

Bia được lập ngày 8 tháng Tám (nhuận) năm Kỷ Dậu niên đại Vĩnh Khánh nguyên niên (1729). Bia có 16 hàng chữ, phần lớn bị mờ, không thể đọc được.

16- Nguyễn Công bi ký (không có thác bản bia)

Bia lập ngày 3 tháng sáu năm Tự Đức thứ 24 (1871), Người soạn văn bia là Chính bảng khoa Mậu Tuất Dương Danh Thành, người xã Khắc Niệm, huyện Tiên Du(2). Nội dung nói về tiểu sử của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hàn, thực chất về cái chết của ông vào năm Chiêu Thống nguyên niên (1787) tại Cao Bằng.

17- Nguyễn tộc bi thức(không có thác bản)

Bia một mặt, khổ 0,51x0,70m. chạm mặt trời, mây, khắc ngày 24 tháng Sáu năm Tự Đức 26 (1873), nội dung nói về lai lịch, thế thứ họ Nguyễn Xuân - dòng họ có Tiến sĩ Nguyễn Xuân Hàn (khoa Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng - 1779).

II. Một số nhận xét ban đầu về giá trị của hệ thống bia ở đình - đền - chùa phú thị

Qua phần giới thiệu nội dung 17 tấm bia còn được lưu tại khu di tích đình - đền - chùa Phú Thị có thể thấy số bia này phản ánh rất nhiều mặt của đời sống làng kinh tế, xã hội, tôn giáo, các khía cạnh lịch sử của xã hội phong kiến Việt Nam. Dưới đây chúng tôi nêu một số giá trị chính.

1. Trước hết, hệ thống bia là cứ liệu quan trọng và đáng tin cậy để lý giải vấn đề quê hương Nguyên phi Ỷ Lan (gắn với vấn đề “hương Thổ Lỗi” hay “hương Siêu Loại” - người phụ nữ nổi tiếng dưới triều vua Lý Thánh Tông và Lý Nhân Tông. Các bia số 3, 5, 7 khẳng định chùa Phú Thị có tên chữ là “Đại Dương Sùng Phúc tự”. Điều này trùng hợp với ghi chép của Việt sử lược, cho phép kết luận, “Thổ Lỗi” là từ Hán - Việt được phiên âm từ “SLủi” hay “TLủi” hay “Sủi” là từ Việt cổ, do vậy, làng Phú Thị (làng Sủi) là trung tâm của hương Thổ Lỗi hay hương Siêu Loại thời Lý; Phú Thị lại có cả một hệ thống Đình - Đền - Chùa liên hoàn thờ Nguyên phi Ỷ Lan, cho nên, Phú Thị chính là quê hương của Bà(3).

2. Hệ thống bia cho biết lịch sử phát triển của cụm di tích đình - đền - chùa Phú Thị, nhất là các lần tu bổ lớn với sự hưng công, công đức của nhiều vương phi, cung tần phủ chúa Trịnh, phu nhân một số quan lại cao cấp... Nhiều người được bầu làm Hậu Thần, Hậu Phật.

3. Hệ thống bia phản ánh nhiều mặt đời sống của làng Phú Thị, như cơ cấu tổ chức làng xã (trong đó có cả nạn cường hào làng xã ở thế kỷ XVII, xem bia số 4), sở hữu ruộng đất, phong tục, thờ cúng, truyền thống khoa bảng, các nhân vật lịch sử ...

4. Hệ thống bia còn phản ánh nhiều mặt của lịch sử đất nước có liên quan đến làng Phú Thị và các danh nhân khoa bảng của làng, cũng như các vương phi, cung tần, phu nhân các vị quan to đóng góp tiền của tu bổ đình - đền - chùa Sủi.

Chú thích:

(1) Xét: niên hiệu Đoan Thái nhà Mạc chỉ tồn tại trong hai năm (Bính Tuất - Đinh Hợi, 1586 - 1587). Năm Đoan Thái thứ tư ghi ở đây là năm Kỷ Sửu, 1589) đã là năm thứ hai niên hiệu Hưng Trị. Có lẽ người lập bia không biết được sự thay đổi niên hiệu nên vẫn dùng niên hiệu cũ.

(2) Dương Danh Thành người làng Khắc Niệm (làng Ném), huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tại kỳ thi Hội khoa Mậu Tuất đời vua Minh Mạng (1838) được lấy đỗ, nhưng vì khai lý lịch không đúng nên bị truất (theo Quốc triều hương khoa lục).

(3) Xem Lê Thị Thu Hà - Bùi Xuân Đính: Trở lại vấn đề quê hương Ỷ Lan, trong Thông báo Văn hóa Dân gian 2002, Nxb. KHXH, H. 2003, tr.1005 - 1014./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.158-167)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm