VI | EN
19. Mối quan hệ hai chiều Hán - Việt, Việt - Hán trong sáng tạo ngôn ngữ thơ của Nguyễn Khuyến (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

MỐI QUAN HỆ HAI CHIỀU HÁN - VIỆT, VIỆT - HÁN TRONG SÁNG TẠO NGÔN NGỮ THƠ CỦA NGUYỄN KHUYẾN

BIỆN MINH ĐIỀN

Khoa Ngữ văn- Đại học Vinh

1. Ảnh hưởng của tiếng Hán vào tiếng Việt, điều ấy đã quá rõ và từng được nói đến nhiều. Nhưng ảnh hưởng theo chiều ngược lại (từ tiếng Việt vào tiếng Hán) có không? và như thế nào? Theo Nguyễn Tài Cẩn ''Trong sự tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ bao giờ ảnh hưởng cũng xẩy ra trong cả hai chiều, có chiều đi, có chiều lại, hai bên tương hỗ tác động đến nhau(1). Khả năng này, trên phương diện lý thuyết, là rất có thể. Còn trong thực tiễn? Để thấy được điều này, dĩ nhiên phải khảo sát qua những văn bản cụ thể, tốt nhất là qua các tác phẩm văn học Việt Nam thời trung đại, nhất là tác phẩm của các tác giả “song ngữ” (vừa sáng tác bằng chữ Hán vừa sáng tác bằng chữ Nôm). Trong số những tác giả “song ngữ” ấy (tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến,v.v...), có thể nói Nguyễn Khuyến là hiện tượng đặc biệt nhất. Ông không chỉ vừa sáng tác bằng chữ Hán vừa sáng tác bằng chữ Nôm, mà còn “kép” - “liên văn bản” Hán - Nôm, nghĩa là sáng tác bằng chữ Hán xong rồi lại tự dịch ra Nôm (Việt) hoặc ngược lại. Có đến 24 trường hợp (tác phẩm) như vậy. Không dễ tìm thấy những biểu hiện độc đáo của mối quan hệ hai chiều Hán - Việt, Việt - Hán như trong sáng tác của Nguyễn Khuyến (Văn bản tác phẩm Nguyễn Khuyến, chúng tôi dựa vào cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm do Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, biên dịch, có bổ sung những bài khác của Nguyễn Khuyến mà sách này không đưa vào “vì điều kiện ấn loát” như lời Nguyễn Văn Huyền trong phần khảo luận văn bản)(2).

Đặc điểm loại hình của tiếng Hán, của thi luật Hán ngữ, từ qui luật âm vận, thanh điệu, thể loại đến nguyên tắc đối ngẫu đã từng được Vương Lực phân tích một cách tỉ mỷ trong Hán ngữ thi luật học(3) Hán ngữ cổ đại(4). Nhìn trong mối quan hệ với Hán ngữ, với thi luật Hán ngữ, từ góc độ ngôn ngữ học, các nhà nghiên cứu Việt Nam trên cơ sở những khảo sát, phân tích, đối sánh khoa học, về cơ bản đều gặp nhau trong xác định đặc điểm loại hình của tiếng Việt với những đặc trưng riêng cũng như những nét tương đồng, gần gũi với tiếng Hán (cùng một loại hình ngôn ngữ âm tiết tính, có thanh điệu...)(5). Liên quan đến vấn đề mối quan hệ giữa hai thứ tiếng Hán - Việt, nhất là trong sáng tác văn học Việt Nam thời trung đại, nhiều tác giả khác cũng đã có những khảo - luận xác thực ở một số trường hợp(6)... Riêng trường hợp Nguyễn Khuyến, nếu chú ý, nhà nghiên cứu sẽ thấy có bao nhiêu điều thú vị về mối quan hệ ảnh hưởng hai chiều Hán - Việt, Việt - Hán trong vận dụng và sáng tạo ngôn ngữ thơ.

Như đã nói ở trước, hiện tượng “song ngữ” - “liên văn bản” ở Nguyễn Khuyến thực sự là một hiện tượng độc đáo hiếm thấy. Với ưu thế và tài năng của mình trong sáng tạo những tác phẩm ''liên văn bản'', ở những trường hợp không phải là ''liên văn bản'' có nghĩa là tác phẩm hoặc là Hán, hoặc là Nôm, Nguyễn Khuyến cũng rất năng động trong xử lý mối quan hệ ảnh hưởng hai chiều Hán - Việt, Việt - Hán, tạo nên nét hấp dẫn riêng cho thơ mình. Cũng bởi vậy đọc thơ chữ Hán của ông, có thể thấy, thơ chữ Hán mà vẫn mang ''màu sắc Nôm'' (ở phong cách dân gian, ở chức năng trào phúng, ở cách kiến tạo từ ngữ...). Và ngược lại, đọc thơ Nôm của ông, vẫn có thể thấy những nét quen thuộc vốn thường là của phong cách thơ chữ Hán (uyên thâm, mực thước, kín đáo...). Vậy, thực chất mối quan hệ ảnh hưởng ấy ra sao?

2. Trước hết, xét chiều ảnh hưởng từ Hán sang Việt. Xét chiều ảnh hưởng từ Hán sang Việt qua khảo sát bộ phận thơ Nôm, ta sẽ xác định được sự hiện diện cũng như vai trò của các yếu tố Hán đối với ngôn ngữ thơ Nôm tác giả. Yếu tố tiếng Hán đầu tiên ảnh hưởng vào ngôn ngữ thơ Nôm Nguyễn Khuyến dễ thấy nhất là vốn từ ngữ gốc Hán bao gồm từ Hán Việt điển cố Hán học. Quan niệm như thế nào là từ Hán Việt, điều này đã được nhiều nhà nghiên cứu xác định rõ, trong đó có một cách nhận diện đơn giản mà đảm bảo độ tin cậy, theo Phan Ngọc là ''một âm tiết Hán Việt là một âm tiết người Việt thấy có nghĩa nhưng không thể hoạt động thành từ đơn tiết mà chỉ đóng vai một bộ phận để tạo nên những từ đa tiết''(7). Và ngược lại, ''bất kỳ âm tiết nào có thể hoạt động thành từ đơn tiết đều được xem là từ thuần Việt''. Phan Ngọc ''công thức hóa: Từ đơn tiết (hình thức) = thuần Việt (nội dung)''(8). Trên cơ sở này, Lã Nhâm Thìn xác lập: ''từ đa tiết (hình thức) = Hán Việt (nội dung)''(9). Chúng tôi đã khảo sát nó trong toàn bộ thơ Nôm Nguyễn Khuyến gồm 106 bài thơ với tổng số 974 câu thơ (khác Lã Nhâm Thìn trong Thơ Nôm Đường luật'' chỉ khảo sát ở con số 40 bài thơ Nôm Đường luật của Nguyễn Khuyến). Kết quả khảo sát của chúng tôi như sau (xin xem bảng):

 

Thể loại thơ

Tổng số

Tổng số từ

Hán Việt

Tỷ lệ câu thơ/từ

Hán Việt

 

Bài thơ

Câu thơ

Đường luật (TNBC)

Hát nói

S.T.L.B

Tuyệt cú

Ngũ ngôn bát cú

Bài luật

Lục bát

81

9

6

6

2

1

1

648

125

142

24

16

14

5

84

29

33

2

1

0

3

7,7 câu / 1 từ H.V

4,3

4,3

12,0

16,0

Tổng cộng tất cả

các thể loại.

106

974

152

Tỷ lệ chung 6,4 câu thơ/1 từ H.V

Từ kết quả này và nhìn nó trong sự đối sánh với những hiện tượng khác, có thể thấy ba đặc điểm nổi bật của từ Hán Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến.

Thứ nhất, từ Hán Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến chiếm một tỷ lệ không đáng kể, rất thấp, thấp nhất trước hết so với thơ Nôm của các tác giả song ngữ tiêu biểu như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du... (ở trường hợp Nguyễn Trãi và Hồng Đức quốc âm thi tập (HĐQATT), theo Bùi Duy Tân: ''Sơ bộ thống kê thì thấy từ thuần Việt của HĐQATT chiếm hơn 70% (khoảng 2400 từ), từ Hán-Việt chỉ non 30% (khoảng 1000 từ). Đây là những con số xấp xỉ với Quốc âm thi tập(10). Còn ở trường hợp Nguyễn Du, với Truyện Kiều, theo khảo sát của Phan Ngọc, ''số từ Hán Việt trong Truyện Kiều là 891 lượt từ với 645 từ và 32 thành ngữ 4 âm tiết''(11). Và nếu so sánh từ Hán - Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến với từ Hán - Việt trong thơ Nôm của các tác giả dường như thuần Nôm như Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Đình Chiểu, Trần Tế Xương..., thì ta cũng sẽ thấy từ Hán - Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến vẫn chiếm tỷ lệ thấp (ở đây, thực ra chúng tôi chỉ muốn so sánh Nguyễn Khuyến với các tác giả song ngữ tiêu biểu khác, cái chính là để thấy được nét riêng của Nguyễn Khuyến trong xử lý mối quan hệ ảnh hưởng giữa hai thứ tiếng Hán và Việt trong sáng tạo ngôn ngữ thơ).

Vốn Hán học của Nguyễn Khuyến, chúng ta dám chắc ông là người uyên bác, thế nhưng khi sáng tác bằng chữ Nôm, ông lại tỏ ra ''Nôm'' hơn ai hết (''Nôm'' theo hướng tinh tế) ngay từ khâu chọn từ ngữ. Có lẽ vì thế mà trong thơ Nôm của ông, từ Hán Việt chiếm tỷ lệ thấp nhất. Tuy nhiên cũng không thể không thấy rằng Nguyễn Khuyến là nhà thơ đã ở chặng cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam, có thuận lợi hơn nhiều trong ý thức ''Việt hóa'' ngôn ngữ thơ Nôm so với các tác giả trước đó, đặc biệt là Nguyễn Trãi ở thế kỷ thứ XV, khi kho từ vựng tiếng Việt còn nghèo, thiếu...).

Thứ hai, những từ Hán Việt được Nguyễn Khuyến sử dụng, đến hơn 92% là những từ quá ư quen thuộc và dễ hiểu. Hệ thống những từ này (140/152 từ) tuy là gốc Hán nhưng lại rất quen với ''cảm thức ngôn ngữ'' của người Việt. Chẳng hạn: Tri âm xin tỏ với tri âm, Tấm lòng nhi nữ không là mấy. Bực chí anh hùng lúc túng tiêu, Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ, Ân tứ dám đâu coi rẻ rúng. Vinh qui ắt hẳn rước tùng xòe, v.v... Trong số 152 từ Hán Việt có mặt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến chỉ có 12 từ - chiếm chưa đến 8% - là tương đối lạ với ''cảm thức ngôn ngữ'' của người Việt mà thôi: Khâu hác, cầm xoang, kích nhưỡng, khang cù, sinh bồn, khất ngôn, hợp ngữ, hoàng lộ, khảo khóa, quan án, minh tinh, đề chủ (Trong Truyện Kiều có khoảng một phần 6 tức gần = 17% là khó hiểu) (12). Thực ra những từ Hán Việt trên (trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến) đặt trong ngữ cảnh và chỉnh thể của cả bài thơ thì cũng không phải là đến nỗi khó hiểu.

Thứ ba, từ Hán Việt được dùng trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến là bất đắc dĩ hay nói cách khác là không thể không dùng vì lí do nghệ thuật thiết yếu của nó. Một số trường hợp ở một số bài thơ nhằm chúc tụng, phúng viếng hay viết di chúc (Văn di chúc) ông không thể không dùng một số từ Hán Việt nhất định. Còn lại phần lớn ông dùng nó vào mục đích trào phúng. Có thể nói ít ai đưa từ Hán Việt, kể cả điển cố Hán học vào thơ trào phúng thành công và sắc sảo như Yên Đổ, tiêu biểu như ở các bài Tiến sĩ giấy, Lấy Tây, Mừng ông nghè mới đỗ, Gửi ông đốc học Ngũ Sơn, Trời nói v.v... Chẳng hạn:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai...

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng

Nét son điểm rõ mặt văn khôi...

Cái giá khoa danh thế mới hời

(Tiến sĩ giấy - II)

Cái gái đời này gái mới ngoan

Quyết lòng ẩu chiến với Tây quan''...

Một bức tung hoành váy xắn ngang.

Trời đất khéo thương chàng bạch quỉ

Giang san riêng sướng ả hồng nhan

(Lấy Tây)

Trong những trường hợp trên, nếu thay những từ Hán Việt (từ in đậm) bằng những từ thuần Việt thì rõ ràng hình tượng ngôn từ các bài thơ sẽ mất hết ý nghĩa nghệ thuật thâm thúy và đích đáng của nó.

Song song với việc giảm từ Hán Việt thì việc dùng điển cố thi liệu Hán học trong thơ Nôm của ông cũng vậy. Thực ra việc sử dụng điển cố trong văn học trung đại là một việc làm thông dụng và phổ biến. Điều đáng nhấn mạnh là việc dùng điển của Nguyễn Khuyến có đặc điểm riêng nổi bật khác hẳn, rất phù hợp với phong cách nhẹ nhàng, kín đáo mà thâm thúy của tác giả. Nói chung trong cả thơ Hán và thơ Nôm, Nguyễn Khuyến ít dùng ''điển cố từ chương'' mà thường dùng ''điển cố phân hóa'' (chữ dùng của Thuỵ Khuê)(13) tức là dùng một câu văn hay một sự việc chép trong sách cũ rồi chế biến thành của mình. Cũng bởi vậy điển cố được dùng trong thơ (chữ Hán) Nguyễn Khuyến hết sức khoáng đạt, không đến nỗi bí hiểm, thách đố người đọc và đặc biệt mang hàm ý nghệ thuật sâu sắc. Chẳng hạn các điển thanh giăng (con nhặng xanh) trong bài Điệu lạc giăng (Thương con nhặng chết); điển thi thi giả trong bài Hung niên - I (Niên cơ, khước quái thi thi giả - Năm đói nhưng lạ thay có kẻ nét mặt vẫn hớn hở). Mặt hớn hở nguyên văn là ''Thi thi giả'', lấy chữ và điển trong sách Mạnh Tử nhằm ám chỉ bọn xu thời, vô liêm sỉ...

Từ thơ chữ Hán sang thơ Nôm, việc dùng điển cố Hán học của Nguyễn Khuyến càng có sự thay đổi lớn. Trước hết là thay đổi về số lượng. Trong thơ Nôm, ông dùng tất cả 51 điển cố trên tổng số 106 bài thơ. Nếu tính tỷ lệ bình quân thì cứ hai bài thơ ông mới dùng đến một điển cố, một tỷ lệ rất thấp. Thứ hai, thay đổi về sự ''chế biến'', thay đổi theo hướng ''Nôm hóa'', ''Việt hóa'' rất độc đáo. Chẳng hạn các điển nhằm mục đích trào phúng như điển "Giữ mõ làng" trong bài Gửi ông đốc học Ngũ Sơn:

"Lâu nay không gặp ngỡ xa đàng.

Ai biết rằng ra giữ mõ làng..."

"Giữ mõ làng" do điển câu ''Thiên tương dĩ phu tử vi mộc đạc'' (Sách Luận ngữ), ý là trời lấy ông Khổng Tử làm cái mõ gỗ để cảnh tỉnh người đời. Chính vì điều này mà người ta thường dùng chữ ''Mộc đạc'' để chỉ người có học vị cao, giữ chức học quan. Song ở đây còn có hàm ý trào lộng nhờ nghĩa “kép” (song quan) của “mõ làng”. Ngoài nghĩa sang trọng trên, ''mõ làng'' còn chỉ người làm đấy tớ làng - loại người bị coi thường bởi ở địa vị thấp kém nhất trong xã hội cũ. ''Mõ làng'' ngoài nhiệm vụ đi rao mõ truyền đạt cho dân các mệnh lệnh của quan trên, còn phải phục dịch cả làng khi có hội hè, đình đám, xôi thịt...''. Nguyễn Khuyến đã mỉa mai rất thâm thuý vai trò ''mõ làng'' của viên đốc học Ngũ Sơn.

Tuy nhiên điển cố trong thơ Nôm của ông chủ yếu được dùng cho mục đích trữ tình (40/51 điển cố, chiếm tỷ lệ 78,43%). Có những điển được dùng rất tài hoa, người đọc không hiểu điển vẫn có thể hiểu nội dung bài thơ, vẫn hết sức thấm thía điều mà tác giả biểu hiện. Chẳng hạn như điển "Trần Phồn treo giường, Bá Nha thôi đàn" được dịch rất thoát trong bài Khóc Dương Khuê. Bi kịch của sự cô đơn khi mất bạn như cứa vào lòng người được diễn đạt bằng những ''dấu sắc'' ôm riết, xoáy sâu, bằng các phép điệp, láy, đảo hết sức độc đáo, và đặc biệt, bằng nghệ thuật dùng điển - dịch thoát điển rất thần tình:

"Giường kia treo cũng hững hờ

Đàn kia gẩy cũng ngẩn ngơ tiếng đàn..."

Người đọc không biết đến điển (điển Trần Phồn treo giường vì giường chỉ dành riêng để đón bạn; điển Bá Nha đập đàn, không đàn nữa vì không còn tri âm khi Tử Kỳ mất) và thậm chí không cần biết đến điển vẫn có thể bị lay thức, ngậm ngùi bởi nỗi đau mất người tri kỷ(14)...

Như vậy, ảnh hưởng từ Hán sang Việt biểu hiện trong thơ Nôm Yên Đổ, xét ở phương diện từ ngữ, so với các tác giả khác, về lượng đã giảm đi rất nhiều, giảm đến mức có thể nói khó có thể giảm hơn được nữa. Về sắc thái biểu cảm và dụng ý nghệ thuật càng có sự thay đổi lớn. Nếu từ Hán Việt trong thơ Nôm của các tác giả trước đó được dùng chủ yếu nhằm tăng tính ''linh thiêng'', ''đài các'' cho các hình tượng ngôn từ (tiêu biểu nhất là ở thơ Bà huyện Thanh Quan) thì với Nguyễn Khuyến, từ Hán Việt được dùng nhiều cho mục đích trào phúng, giễu nhại, phủ định đối tượng cảm nhận.

Ngoài phương diện từ ngữ, có thể thấy ảnh hưởng từ Hán sang Việt trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến còn thể hiện trên các phương diện vần thơ, thể thơ. Về vần, đáng chú ý là hiện tượng lặp vần ở một số bài thơ Nôm của của ông. Hiện tượng này có phải là do ảnh hưởng từ Hán sang? Nguyễn Tài Cẩn (khảo sát trên cuốn Thơ văn Nguyễn Khuyến, Nxb. Văn học, 1979) phát hiện hiện tượng lặp vần ở thơ Nôm Nguyễn Khuyến có hai bài, ở thơ chữ Hán là 29 bài(15). Thực ra, hiện tượng lặp vần trong cả thơ Nôm và thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến (chúng tôi khảo sát từ cuốn Nguyễn Khuyến tác phẩm) còn nhiều hơn thế. Ở thơ Nôm, ông có đến 9 bài lặp vần, tuy nhiên nếu tính riêng thơ Đường luật dạng thất ngôn bát cú (từ đây viết tắt là ĐLTNBC) - thể thơ đòi hỏi chặt chẽ nhất về thi pháp thể loại từ bố cục đến niêm, luật, vận, đối, tiết tấu thì chỉ có 5 bài. Trừ những bài lặp vần có chủ định hoặc do đặc trưng thể loại (thể song điệp như bài Mừng anh vợ 5 vần tôi; thể thủ vĩ ngâm như bài Giễu mình chưa đỗ, vần tôi câu 1 và câu 8), v.v..., đáng chú ý nhất là 2 bài. Bài Khuyên Từ Hải hàng (lặp vần trường ở câu 1 và câu 8:

"Phút chốc đem thân bỏ chiến trường" (câu 1)...

"Há những là đây mới đoạn trường" (câu 8)

Bài Thu điếu lặp vần teo (câu 2) và (câu 6):

"Ao thu lạnh lẽ nước trong veo

Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo" (câu 2)...

"Ngõ trúc quanh co khách vắng teo" (câu 6)

Ngoài 5 bài ĐLTNBC lặp vần, trong đó có 2 bài rất đáng chú ý nói trên, có 4 bài hát nói cũng lặp vần...

Trong khi đó ở thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến có đến 56/267 bài lặp vần: trước khi về Yên Đổ, 13 bài (ĐLTNBC), sau khi về Yên Đổ, 43 bài (37 bài ĐLTNBC, 5 bài ngũ ngôn, chủ yếu là trường thiên và 1 bài tuyệt cú). Cũng có bài lặp vần cố ý, chẳng hạn bài Độc tọa dùng 5 vần phi, tuy nhiên nghĩa của 5 từ phi này là khác nhau. Như vậy ở thơ Hán có khoảng 21% bài lặp vần, tức cứ khoảng 5 bài có một bài lặp vần. Có thể thấy rằng hiện tượng lặp vần ở thơ chữ Hán là có tính phổ biến và là vấn đề ''được phép''. Bởi vì từ (vần được lặp, lặp cả phụ âm đầu) tuy đồng âm nhưng nghĩa chữ và cách viết khác nhau (chẳng hạn ở bài Ngẫu thành - I, lặp vần thiên ở câu 6: tiêu thiên (trời trong sáng) và câu 8 nhất thiên (thiên thứ nhất) hay ở bài Tuế Đinh hợi..., lặp vần quan ở câu 1 (cáo quan), ở câu 2 (cỗ áo quan), ở câu 6 quan (trông thấy) v.v...

Sự giống và khác nhau ''tế nhị'' giữa tiếng Hán và tiếng Việt, giữa truyền thống thơ Hán và truyền thống thơ Việt là vấn đề được Nguyễn Tài Cẩn rất quan tâm. Theo ông, ''trong truyền thống thơ Hán, mặt văn tự có thể nói là có phần mạnh hơn mặt ngữ âm... Cho nên xem vẫn quan trọng hơn đọc... Phải chăng vì những lí do như vậy nên các nhà thơ Hán tự cho phép mình được gieo những vần hoàn toàn đồng âm, miễn là về mặt văn tự, chúng viết thành những chữ khác nhau?''. Còn ''ở tiếng Việt, thơ ca đi theo một khuynh hướng nặng về âm, hai chữ gieo vần thường đồng vận chứ không được phép có cả phụ âm đầu giống nhau, ngay cả những trường hợp chúng dị nghĩa(16). Nhận xét và nghi vấn của Nguyễn Tài Cẩn quả là tinh tế và có cơ sở. Tuy nhiên, hiện tượng lặp vần trong thơ chữ Hán (ở đây nhấn mạnh thơ của các tác giả song ngữ) như đã nói trên không đáng lấy làm lạ lắm.

Nhưng hiện tượng lặp vần trong thơ Nôm của họ chắc hẳn có lí do, do ảnh hưởng từ thi pháp thơ Hán sang? Nguyễn Khuyến có 9 bài lặp vần, trừ 4 bài hát nói và 3 bài ĐLTNBC lặp vần có dụng ý nghệ thuật rõ ràng hoặc do đặc trưng thể loại (thể thơ thủ vĩ ngâm hoặc song điệp), có thể không chịu ảnh hưởng của sự chi phối này; còn lại 2 bài ĐLTNBC - mà là những bài nổi tiếng (chiếm tỷ lệ 2%) lặp vần, theo chúng tôi là có phần ảnh hưởng từ cách gieo vần của thơ Hán sang. Tuy nhiên sự ''lặp'' này không hề gây cản trở hay gây sự nhàm chán trong sự thụ cảm của người đọc về các bài thơ có lặp vần.

Hiện tượng lặp vần trong thơ Nôm của các tác giả song ngữ tiêu biểu trước Nguyễn Khuyến còn chiếm tỷ lệ lớn hơn nhiều. Chẳng hạn trong thơ Nôm Nguyễn Trãi (Chúng tôi khảo sát từ cuốn Nguyễn Trãi toàn tập, N.x.b Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976) có 9 bài lặp vần (không kể 1 bài ''thủ vĩ ngâm'') trên tổng số 254 bài, tỷ lệ lặp vần = 3,5% (Số bài lặp vần trong thơ Hán Nguyễn Trãi dĩ nhiên còn lớn hơn nhiều). Ở thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm (Theo cuốn Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm do Đinh Gia Khánh chủ biên, N.x.b Văn học, Hà Nội, 1997) có 12 bài lặp vần (không kể 1 bài ''độc vận'' tức lặp vần có dụng ý) trên tổng số 161 bài, tỷ lệ bài lặp vần = 7,4% (Số bài lặp vần trong thơ chữ Hán Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng mang tính ''phổ biến'' như ở thơ chữ Hán các tác giả khác). Hiện tượng lặp vần trong thơ Nôm của các tác giả song ngữ dẫu sao cũng khiến ta nghĩ đến loại tác phẩm - nói như Nguyễn Tài Cẩn - ''là sản phẩm của nhà nho, tức lớp người đã từng quen với truyền thống thơ Hán, chịu ảnh hưởng nặng nề của phong cách đó'' (17). Tuy nhiên sự chịu ảnh hưởng từ Hán sang Việt thể hiện trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến xét trên một số phương diện như đã trình bày, rõ ràng đã giảm đi rất nhiều.

3. Xét chiều ảnh hưởng từ Việt sang Hán. Trong khi chiều ảnh hưởng từ Hán sang Việt thể hiện trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến ngày một giảm đi thì chiều ảnh hưởng ngược lại, tức từ Việt sang Hán thể hiện trong thơ chữ Hán của ông ngày một tăng lên và được thể hiện một cách độc đáo. Trước hết là trên phương diện từ ngữ. Có ít nhất khoảng 20 từ, ngữ được dùng trong thơ Hán của ông rõ ràng là được ông xây dựng, kiến tạo từ ảnh hưởng của văn học dân gian Việt, ngôn ngữ Việt. Chẳng hạn như các từ hòa cước (chân lúa, chân mạ), đẩu niên (tuổi đấu) trong hai câu luận của bài Mạn hứng:

"Bố ương nô lảo tri hoà cước

Địch cốc nhân hồi dẫn đẩu niên".

(Người lão nông gieo mạ hiểu biết chân ruộng xấu tốt. Kẻ đong thóc về tuổi đấu nhiều ít. Hai câu thơ trên, ở bản Nôm - bài Cáo quan về ở nhà, ông “dịch” là:

"Thửa mạ rạch ròi chân xấu tốt

Đấu lương đo đắn tuổi non già)".

Từ xuyên diệp (được tác giả dịch thành xỏ lá), từ lạc dà (được dịch thành rơi già, đồng âm với ''dơi già'') trong hai câu luận của bài Sơn trà:

"Tầm thường tế vũ kinh xuyên diệp

Tiêu sắt thần phong oán lạc dà"

Ở bản Nôm - bài Tạ lại người cho hoa trà, hai câu trên được tác giả tự “dịch”:

(Mưa nhỏ những kinh phường xỏ lá.

Gió to luống sợ nó rơi già);

Từ thiền sư (thầy đồ ve gái - có lẽ cũng chỉ có Nguyễn Khuyến mới tạo từ bằng cách dịch ''lạ lùng'' như thế này, thiền (có bộ “trùng”) là con ve, đồng âm với từ ve gái trong tiếng Việt) trong bài Thiền sư:

"Chỉ khủng thế gian vô quả phụ

Mạc ngôn thiên hạ khiếm thiền sư !"

Ở bản Nôm, bài Thầy đồ ve gái goá, ông “dịch” là:

Ở góa, thế gian nào mấy mụ

Đi ve thiên hạ thiếu chi thầy.

Từ thỉ nhân (''ông lợn'') trong bài Hung niên - II:

"Quốc vận nhược vi gia vận ách

Đại nhân ưng tác thỉ nhân hô"

(Ví phỏng vận nước cũng tai ách như vận nhà, (thì) những hạng “ông lớn” đều đáng gọi là “ông lợn” cả). Đại nhân - thỉ nhân (trong tiếng Hán làm gì có từ “thỉ nhân”?, từ này chỉ có thể được tạo lập trên cơ sở của tiếng Việt), “ông lớn” - “ông lợn”, hóm và tạo từ như Nguyễn Khuyến dựa trên mối quan hệ ảnh hưởng hai chiều Hán - Việt, Việt - Hán như Nguyễn Khuyến quả là trường hợp hiếm thấy.

Cũng tương tự như vậy, các cụm từ Đệ nhất quận công, đệ nhị vô danh công trong bài Quá quận công Hữu Độ sinh từ hữu cảm cũng vốn là được kiến tạo từ ảnh hưởng của câu tục ngữ Việt Thứ nhất quận công, thứ nhì không lều (''không lều'' chỉ người ăn xin, được đổi thành không tên - ''vô danh'' - để ngụ ý kín đáo) v.v...

Cũng cần phải kể đến một khối lượng lớn từ chỉ tên riêng của con người (gần 60 từ), tên riêng địa danh (hơn 60 từ) tên riêng của các cây, con (khoảng 70 từ) của quê hương xứ sở đất Việt được ông mang vào trong thơ chữ Hán của mình một cách thật tự nhiên, sinh động và đầy chất thơ.

Trên phương diện thể thơ, đóng góp đặc sắc rất đáng kể của Nguyễn Khuyến là ông đã mang thể hát nói - một thể loại thuần Việt vào thơ chữ Hán rất thành công: bài Bùi viên cựu trạch ca và bài Bùi viên đối ẩm trích cú ca. Cả hai bài này đều đảm bảo mọi yêu cầu chuẩn mực, qui phạm của bài hát nói ''chính cách'' từ số câu, bố cục đến gieo vần, tiết tấu. Cả hai bài Hán cùng ''song hành'' với hai bài Nôm, trong đó bài Bùi viên cựu trạch ca dám chắc là được dịch từ Nôm (bài Trở về vườn cũ) sang. Bùi viên cựu trạch ca gồm 11 câu, câu mở đầu vần chân trắc, tiếp 2 câu vần chân bằng, câu 4 - 5 vần chân trắc, hai câu tiếp 6 - 7 vần chân bằng, câu 8 - 9 vần chân trắc, câu 10 - 11 vần chân bằng, nghĩa là luân phiên đều đặn theo đúng mô hình chuẩn mực của một bài hát nói chính cách. Tất cả những điều trên đều giống, sát với bài Nôm Trở về vườn cũ. Duy chỉ có điều khác với câu kết ở bài Nôm 6 chữ là câu kết ở bài Hán - 7 chữ (do dẫn nguyên câu thơ của Đào Tiềm): ''Qui khứ lai hề, hồ bất qui''.

Còn bài Bùi viên đối ẩm trích cú ca rõ ràng là làm trước bài Nôm Uống rượu ở vườn Bùi, vì đây đúng như đầu đề đã nói dùng toàn những câu trích sẵn (bằng chữ Hán). Bài Nôm chỉ có thể là dịch từ Hán sang, số câu cũng nhiều hơn bài Hán (13 câu). Bùi viên đối ẩm trích cú ca toàn là những câu trích sẵn nhưng đáng chú ý là nó đảm bảo gần như tuyệt đối đặc trưng thi pháp của một bài hát nói ''chính cách''. Bài gồm 11 câu, đủ khổ. Sách Nguyễn Khuyến tác phẩm (Nxb. KHXH, H. 1984) in bài này thành 12 câu, tức tách câu Mạc khiếu, mạc khiếu, hà tự đương sơ mạc tiếu thành hai câu chiếm hai dòng thơ, theo chúng tôi là không đúng. Vận, luật của bài thơ từ câu 1 cho đến câu 11 vẫn mang tính điển phạm của một bài hát nói “chính cách”. Câu 11 (câu kết): Khuyến quân cánh tận nhất bôi vốn là từ câu thất ngôn Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu trích thơ của Vương Duy trong bài Tống nguyên nhị sứ An Tây(18). Nguyễn Khuyến cắt chữ ''tửu'', giữ lại 6 chữ Khuyến quân cánh tận nhất bôi (tác giả tự dịch ở bản Nôm Xin người gắng cạn chén này) tạo nên câu kết giữ đúng mô hình chuẩn với số chữ hạn định, vần chân bằng của câu kết thể hát nói.

Ở hai bài hát nói bằng chữ Hán vừa nêu rõ ràng là tác giả đã đưa thành công một thể tài thuần Việt vào truyền thống thơ chữ Hán. Thực ra cũng có một số tác giả song ngữ có đưa ảnh hưởng của truyền thống thơ Việt vào thơ chữ Hán của họ ít nhiều ở mặt này, mặt kia, chẳng hạn như Đinh Nhật Thận có Thu dạ lữ hoài ngâm, khúc ngâm bằng chữ Hán gồm 140 câu thể thơ thuần Việt - song thất lục bát; Nguyễn Huy Oánh có Phụng sứ Yên Đài tổng ca, cũng bằng chữ Hán, phần đầu bài Tổng ca gồm 472 câu thể thơ thuần Việt - lục bát... Nhưng xét ảnh hưởng từ thơ Việt và ngôn ngữ thơ Việt vào thơ chữ Hán trên nhiều phương diện trong sáng tác Nguyễn Khuyến như vừa trình bày thì Nguyễn Khuyến vẫn là một hiện tượng nổi bật hẳn. Đây là một biểu hiện rất đáng kể của khuynh hướng Việt hóa những gì có thể, trên cơ sở của xử lý mối quan hệ ảnh hưởng hai chiều giữa hai thứ tiếng, nhằm làm phong phú thêm và mở ra khả năng, triển vọng chiếm lĩnh mọi hiện tượng của đời sống cho ngôn ngữ thơ Việt mà vai trò của Nguyễn Khuyến tỏ ra đặc biệt tích cực.

Chú thích:

(1) Nguyễn Tài Cẩn: Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nxb. KHXH, H. 1979, tr.25.

(2) Nguyễn Văn Huyền (sưu tầm, biên dịch, giới thiệu), Nguyễn Khuyến tác phẩm, Nxb. KHXH, H. 1984, tr.19.

(3)(4). Vương Lực: Hán ngữ thi luật học, Thượng Hải giáo dục xuất bản xã, Thượng Hải, 1962; Hán ngữ cổ đại, Trung Hoa thư cục xuất bản xã, Bắc Kinh 1963.

(5) Xin xem: Nguyễn Tài Cẩn: Ảnh hưởng Hán văn Lý - Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, Nxb. Giáo dục, H. 1998; Nguyễn Quang Hồng: Âm tiết và loại hình ngôn ngữ, Nxb. KHXH, H. 1994; Phan Ngọc: Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1991...

(6) Xin xem: Việt Hán văn khảo của Phan Kế Bính (Editions du Trung Bắc tân văn, H. 1930); Việt Nam cổ văn học sử của Nguyễn Đổng Chi (Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài Gòn, 1970); Văn học chữ Hán trong mối tương quan với văn học Nôm ở Việt Nam của Bùi Duy Tân (Tạp chí Văn học, số 2/1995, tr.12-15), v.v...

(7) Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, Nxb. KHXH, H. 1985, tr.270.

(8) Phan Ngọc: Mẹo giải nghĩa từ Hán Việt, Nxb. Đà Nẵng, 1991, tr.7-8.

(9) Lã Nhâm Thìn: Thơ Nôm Đường luật, Nxb. Giáo dục, 1997, tr.188.

(10) Bùi Duy Tân: Khảo và luận một số tác gia tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, Tập I, Nxb. Giáo dục, H. 1999, tr.159-160.

(11)(12). Phan Ngọc: Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, TL đã dẫn, tr.264.

(13) Thụy Khuê: Cấu trúc thơ, Văn nghệ xuất bản, California, Hoa Kỳ, 1996, tr.83-84.

(14) Biện Minh Điền: Giọng điệu trữ tình thơ Nguyễn Khuyến, Tạp chí Văn học, số 1/2003, tr.61.

(15)(16)(17) Nguyễn Tài Cẩn: Ảnh hưởng Hán văn Lý - Trần qua thơ và ngôn ngữ thơ Nguyễn Trung Ngạn, Nxb. Giáo dục, H. 1998, tr.83-86.

(18) Thơ Đường (2 tập), Nam Trân tuyển chọn, Nxb. Văn học, H. 1987, Tập I, tr.62./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.255-270

Biện Minh Điền
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm