19. Na sơn ẩn sĩ và ái miên ca (TBHNH 2009)
NA SƠN ẨN SĨ VÀ ÁI MIÊN CA
LÊ NHƯ DUY
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Na Sơn ẩn sĩ: không rõ tên họ là gì, chỉ biết ông tự xưng là một tiều phu ở ẩn tại núi Nưa - Na sơn (thuộc xã Cổ Định, huyện Nông Cống, Thanh Hóa), ông sống thời Nhà Hồ (1400 - 1407). Trong Na sơn Tiều đối lục ghi chép thì người ta ví ông với Tiếp Dư và Thái Hòa là những người có tài nhưng không màng con đường danh lợi mà chọn cách lánh đời ở ẩn.
Khi đó vào giữa năm Đại Khai, Hồ Hán Thương đi săn gặp ông giữa đường đang vừa đi vừa ca, ca xong rũ tay áo mà đi. Hồ Hán Thương ngờ là người có tài ở ẩn bèn sai Thị thần là Trương Công theo mời về. Trương Công đi theo vào động thì thấy hai bên vách đất phía Đông và phía Tây đề hai khúc Ái miên ca và Ái kỳ ca, Trương Công cố vời tiều phu về phục vụ cho nhà Hồ nhưng ông không về. Hồ Hán Thương vẫn muốn kéo mời nên lại bắt Trương Công tới một lần nữa. Nhưng khi Trương Công quay lại chốn cũ thì cảnh vật đã rêu phong, Hồ Hán Thương cho người đốt núi nhưng cũng chẳng thấy người nào ra. Truyện này được ghi chép trong quyển 3 sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, phần giải âm của sách này theo các nhà khảo cứu thì trong sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề khẳng định là do Nguyễn Thế Nghi người cùng thời với Mạc Đăng Dung giải âm sang chữ Nôm.
Ở đây tôi giới thiệu bài Ái miên ca có nguyên văn chữ Hán, phần giải âm của Nguyễn Thế Nghi và nhất là phần dịch thơ của Trúc Khê Ngô Văn Triện. Sau khi đọc, tìm hiểu và khảo cứu thêm tôi thấy phần dịch thơ của Ngô Văn Triện đã đạt tới cảnh giới Chân - thiện - mỹ của nghệ thuật dịch. Là một người học Hán - Nôm nên khi tìm đọc được một tác phẩm hay, thực sự tâm đắc, lại gặp được bản dịch sát với nguyên tác, bảo lưu được ý mà vẫn thoát lên cái hồn của phần dịch nên tôi mạo muội giới thiệu với độc giả bày tỏ sự trân trọng một tác phẩm hay.
Nguyên văn chữ Hán
愛眠歌
吾何愛,愛惟眠
愛為安舒性適然
淺墨帳添新富貴
矮藤床結舊因緣
梅之軒,竹之園
幽居趣味有林泉
青奴擁後
紅友羅前
媒引黑甜勝
景涼思輕緶
雙掩耳紅塵世上
小曲肱白屋雲邊
寄傲草盧南陽閒日月
欠伸雲觀趙宋窄山川
北窗吟魂易觸
西堂春夢常圓
書樓初捲夕
酒店欲晴天
玄鶴黃州夜夜
美人湘水年年
有時向醉鄉打臥
草鋪茵花鋪幄地鋪氈
彭澤夜深半簾殘月
濂溪院靜一枕啼鵑
任人道為懶夫士為渴睡漢為隱神仙
Giải âm:
Ta yêu chi? yêu một ngủ,
Yêu vì thong thả, thuận tính vậy.
Trướng mực lạt, mặc thêm phú quý mới,
Giường mây vắn, dầu kết nhân duyên cũ.
Chưng hiên mai, chưng vườn trúc, thú vị ở ẩn có rừng suối.
Kẻ thanh nô phù sau, rượu hồng hữu bày trước.
Mối đem giấc ngủ ngày ấy, cảnh hơn mát lòng thuận dễ.
Bưng đôi tai lánh bụi đỏ trên đời,
Ít gối tay chỗ nhà bạc bên mây.
Ngụ vui nơi lều cỏ, trong ngày tháng đất Nam Dương chỉn rỗi,
Thở duỗi quán Vân Đài, xem sông núi đời Triệu Tống làm hẹp.
Cửa sổ Bắc, hồn tưởng ngâm thơ dễ giục,
Nhà bên Tây, mộng cầu xuân thảo hằng vẹn.
Lầu sách mới hôm đã xếp,
Điếm rượu muốn trời hầu sáng,
Đêm đêm mộng thấy chim huyền hạc ở đất Hoàng Châu,
Năm năm mộng thấy người mỹ nhân chơi sông Tương Thủy.
Có thời đến chốn túy hương đánh giấc,
Cỏ làm đệm, hoa làm màn, đất làm chăn.
Đất Bành Trạch đêm khuya, nửa rèm ánh mặt trăng tàn,
Đất Liêm Khê nhà vắng, một gối nghe chim quyên kêu.
Mặc người nói làm kẻ sĩ làm biếng, làm trai khát ngủ, làm thần tiên ở ẩn.
Dịch thơ:
Ái miên ca
Thích gì? Ta thích ngủ thôi,
Vì chưng ngủ được trong người sởi sang.
Nhân duyên se chặt giường màn,
Trúc, mai, rừng, suối muôn vàn cảnh thanh.
Quanh mình bạn đỏ(1), hầu xanh(2),
Giấc ngon bừng tỉnh tâm linh nhẹ vèo.
Bưng tai chuyện thế eo xèo,
Khoanh tay ngất ngưởng nằm khoèo bên mây.
Lều tranh một túp xinh thay,
Nam Dương(3) nọ kẻ tháng ngày thảnh thơi.
Quán Vân(4) uể oải nằm dài,
Non sông coi nhỏ kìa ai Tống triều(5).
Lầu tây, song bắc tiêu diêu,
Khi mai quán rượu, lúc chiều hiên thơ.
Sông Tương(6) người đẹp trong mơ,
Châu Hoàng bóng hạc(7) vật vờ cao bay.
Có khi ngủ tít làng say(8),
Đất giường, cỏ đệm, hoa vây làm màn.
Uyên Minh(9) ngủ dưới trăng tàn,
Liêm Khê(10) gối chợp tiếng ran quyên gào.
Chê khen ai bảo thế nào,
Đồ lười biếng, bậc thanh cao, mặc lòng
Ngô Văn Triện - dịch
(Thông báo Hán Nôm học 2009; tr.261 -267)