VI | EN
20. Tài liệu Hán Nôm ở làng Thổ Khối - một số giá trị lịch sử văn hóa (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

TÀI LIỆU HÁN NÔM Ở LÀNG THỔ KHỐI - MỘT SỐ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA

BÙI XUÂN ĐÍNH (Viện Dân tộc học)

BÙI THẾ QUÂN (VHTT quận Long Biên)

I. VÀI NÉT VỀ LÀNG THỔ KHỐI

1. Thổ Khối không nằm trong danh sách các làng cổ, được hình thành cùng với quá trình dựng nước của tổ tiên ta từ thuở các Vua Hùng mà việc làng không có tên Nôm (tên Việt cổ) là một trong những cứ liệu rõ nhất. Theo lưu truyền dân gian và ghi chép trong thần phả, làng do ông Đào Duy Trinh quê ở làng Thổ Khối, huyện Tống Sơn (nay là thôn Thổ Khối, xã Hà Dương, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa lập ra). Vì có công cứu giúp vua Lê qua sông thoát nạn, được phong chức tước nhưng ông từ chối, chỉ xin vua được chiêu dân khải khẩn vùng đất ven sông Hồng lập thành ấp Vạn Thổ. Sau khi ấp hình thành, ông lấy tên làng quê mình đặt tên cho làng quê mới. Sau khi ông mất, dân làng Thổ Khối tôn ông làm thành hoàng. Đối chiếu với chính sử, thì chắc chắn sự kiện này diễn ra vào thời Tiền Lê (Lê Hoàn và các vua kế vị) cuối thế kỷ X. Bởi, sử cũ ghi lại, vào tháng Bảy năm Nhâm Thìn niên hiệu Thiệu Phong đời Vua Trần Dụ Tông (tháng 8 năm 1352), nước to, vỡ đê Bát Khối (Bát Tràng, Thổ Khối), lúa má bị ngập, Khoái Châu, Hồng Châu và phủ Thuận An bị thiệt hại hơn cả(1).

Thổ Khối nằm ở vị trí không chỉ thuận lợi về giao thông mà còn có tầm quan trọng với Kinh đô Thăng Long. Theo sách Phong thổ Hà Bắc thời Lê (Kinh Bắc phong thổ diễn quốc sự) - sách khuyết danh, soạn vào đầu thế kỷ XIX thì Thổ Khối nằm trên con đường Thiên lý Đông Bắc - một trong bốn con đường Thiên lý ở bờ Bắc sông Hồng đi về các trấn phía Bắc và phía Đông thời phong kiến. Con đường đó xuất phát từ đầu cầu Long Biên qua Lâm Du, Bồ Đề, vòng sau các làng Ô Cách, Trạm, Tư Đình, Nha đến Đông Dư - Thổ Khối, để ra Quốc lộ 5 hiện nay. Đường Thiên lý này cũng chính là một phần của con “Đê sau” chạy qua các làng trên, để ngăn nước sông Hồng; đến năm 1925, sau một trận lụt lớn làm vỡ đê, đoạn đê này phải bỏ để đắp đê mới, chính là đoạn từ cầu Long Biên qua trước mặt các làng Trạm, Tư Đình, Nha về Thổ Khối - Bát Tràng, xuôi về Xuân Quan (huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên hiện nay).

Ngoài đường bộ, sông Hồng là tuyến đường thủy trọng yếu từ Kinh đô Thăng Long qua làng để xuôi xuống phía Nam. Tại làng trước đây có bến đò. Sách Đại Nam nhất thống chí ghi rõ, bến đò Thổ Khối là một trong 8 bến đò trên sông Nhị ở địa phận huyện Gia Lâm và huyện Văn Giang. Đây vừa là bến đò ngang sang bờ Bắc sông Hồng để vào Kinh đô Thăng Long, vừa là một trong hai bến đò dọc (Đông Dư và Thổ Khối) lên đến bến đò tỉnh Hà Nội(2) (có lẽ là bến Thảo Tân). Qua đây chứng tỏ Thổ Khối ở một vị trí rất quan trọng đối với Kinh đô Thăng Long, với nội thành Hà Nội.

Với vị trí trên đây, Thổ Khối từng in đậm dấu ấn lịch sử. Sử cũ ghi lại, tháng Giêng năm Nhâm Thìn (tháng 2 năm 1592), Mạc Mậu Hợp sau khi nghe tin Trịnh Tùng đem đại binh đánh vào Thăng Long, đã vượt sông Hồng, đóng dinh ở Thổ Khối, để các đại tướng ở lại chia nhau trấn giữ các cửa thành Thăng Long. Thổ Khối cùng với làng liền kề là Xuân Đỗ, ghi đậm dấu ấn của lịch sử. Tháng Bảy năm Mậu Dần niên hiệu Quang Thiệu (tháng 8 năm 1518), trước sự tấn công của các thế lực chống đối, Vua Lê Chiêu Tông phải chạy sang dinh Bồ Đề rồi chuyển về Xuân Đỗ lập dinh. Đầu tháng Ba năm Quý Mùi niên hiệu Thống Nguyên (tháng 4 năm 1523), vì năm tr­ước bị loạn lạc, kỳ thi Hương không đ­ược tổ chức nên đến đây, Vua Lê Cung Hoàng đóng ở hành dinh Bồ Đề, bèn lệnh cho các quan sức cho học trò các xứ Sơn Nam, Sơn Tây, Hải D­ương, Kinh Bắc cùng đến bãi sông Nhị giữa Thổ Khối và Xuân Đỗ để thi(3).

Đến đầu thế kỷ XIX, làng Thổ Khối cũng là một xã (nhất xã, nhất thôn) thuộc tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc (từ năm 1831 trở đi là tỉnh Bắc Ninh). Dân làng sống bằng nghề trồng lúa trong đồng, trồng dâu nuôi tằm trên đất bãi, đánh cá trên sông Hồng. Từ giữa thế kỷ XIX, nghề trồng dâu nuôi tằm suy giảm, dân làng chuyển sang trồng ngô và lúa lốc. Về nghề thủ công, dân làng làm hàng mã, đóng thuyền; về thương nghiệp, rất nhiều người trong làng đi buôn theo đường sông. Từ những nghề này, có nhiều người theo đuổi việc học hành, để ra làm quan hoặc làm lại viên trong các công sở Nhà nước. Làng Thổ Khối tuy không có nhiều người đỗ đạt cao như các làng quê khác của vùng Kinh Bắc(4), song lại có mặt bằng học tập đồng đều, có một lượng lớn người có đủ trình độ để làm việc hành chính trong các công sở nhà nước các cấp. Sách Phong thổ Hà Bắc thời Lê chép: "Làng Thổ Khối có nhiều người làm lại viên…”. Câu ngạn ngữ “Ở đâu có quan có làng Thổ Khối, ở đâu có chợ có làng Bát Tràng”(5) khẳng định thêm điều đó.

Qua hàng nghìn năm, các thế hệ người làng Thổ Khối đã tạo lập được một hệ thống các di tích thờ cúng gồm đình, chùa, văn chỉ. Hiện chỉ còn hai di tích là đình và chùa, đều mang phong cách kiến trúc và nghệ thuật Nguyễn; các hàng chữ Hán trên nóc còn lưu khẳng định thêm điều này. Tuy nhiên, qua văn bia có thể thấy, các di tích này đã được xây dựng từ thời Lê - Trịnh. Điều này được khẳng định qua các di văn Hán Nôm còn lưu.

II. CÁC TÀI LIỆU HÁN NÔM Ở LÀNG THỔ KHỐI

1. Bia

1.1. Tại đình, hiện còn 4 tấm bia:

- Bia Hậu thần bi ký soạn ngày Tốt tháng Tám, năm Cảnh Hưng thứ 39 (Mậu Tuất, 1778), không ghi tên người soạn văn bia, các hàng chữ trên bia còn rõ nét, chữ chân phương, dễ đọc. Nội dung bia nói về việc dân làng Thổ Khối tôn vinh ông Nguyễn Đăng Hoàn làm Hậu thần, vì là Câu kê, Thị Nội thư, Tả Hình phiên đã công đức cho làng 600 quan tiền, 6 mẫu ruộng cho 6 giáp trong làng (mỗi giáp được 100 quan và một mẫu ruộng). Tiếp đó là các lễ vật mà dân làng phải sửa biện để tế ông cùng thành hoàng làng vào ngày giỗ ông và 15 dịp lễ tiết khác.

- Bia Hậu thần bi ký: bia hai mặt, dựng bên trái tòa đại đình, chữ còn rõ, sắc nét, chân phương, dễ đọc. Bia được lập ngày tốt tháng Chạp năm Cảnh Hưng thứ 46 (tháng 01 năm 1786). Bài văn bia do Nguyễn Bá Lan - Tiến sĩ khoa Ất Tỵ niên hiệu Cảnh Hưng (năm 1785), Giám sát Ngự sử, người xã Cổ Linh soạn. Nội dung nói về việc ông Đặng Đình Toàn là Cựu Cai hợp Hộ phiên công đức cho làng 120 quan tiền, 6 mẫu ruộng tốt, được dân làng tôn làm Hậu thần. Tiếp đó là phần ruộng hậu tại các xứ đồng mà các giáp trong làng được chia để cày cấy, các lễ vật mà dân làng phải sửa biện vào các ngày giỗ của ông, vợ cả ông và ngày tế thành hoàng cùng các lễ tiết khác của làng.

- Bia Hậu thần bi ký: bia bốn mặt, dựng bên trái tòa đại đình. Bia được lập ngày Tốt tháng Một năm Đinh Dậu, niên hiệu Minh Mệnh (tháng 12 năm 1837), song không ghi người soạn, chữ còn rõ, sắc nét, chân phương, dễ đọc. Nội dung bia nói về ông Ngô Xuân Hảo, người làng, là Thông phán tỉnh Sơn Tây hiến cho làng 600 quan tiền, 3 mẫu 6 sào ruộng tốt (số tiền và ruộng này chia đều cho 6 giáp trong làng), nên được dân làng tôn làm Hậu thần. Tiếp đó là phần ruộng (diện tích và vị trí) mà mỗi giáp được nhận để cày cấy, lấy hoa lợi đề sửa lễ tế ông vào ngày giỗ ông và các lễ tiết trong năm của làng.

- Bia Tư văn giáp bi ký: dựng ở sân đình, bên phải tòa đại đình. Đây là bia Văn chỉ làng. Bia được lập ngày Tốt, tháng Chín năm Minh Mệnh thứ ba (tháng 10 năm 1822). Cuối bia ghi rõ người soạn văn bia là Cựu Nho sinh, Viên Ngoại lang Tư vụ bộ Lại, tước Khôi Trung tử (không rõ tên), Sinh đồ khoa Quý Hợi, Tư vụ bộ Lại Đặng Đình Hiến hiệu đính; Cựu Tiến sĩ Thị trung Học sĩ, tước Thích An hầu Trần Như Bảo(6) viết chữ. Đây là bia Văn chỉ của làng. Theo văn bia thì Văn chỉ của làng được dựng ở xứ Quán Đàm ở ngoài bãi sông Hồng vào niên hiệu Long Đức (1732 - 1734), có 3 gian nhà. Đến năm Quý Hợi niên hiệu Cảnh Hưng (năm 1743), đê bao khu dân cư bị vỡ, dân làng phải chuyển lên chỗ đặt bia hiện nay, nhân đó sửa sang lại thành 5 gian, lại mở rộng ao (bằng cách chuyển đổi ruộng chùa, ruộng công của làng Đông Dư và ruộng của các cá nhân khác. Trong việc xây dựng Văn chỉ, mỗi suất trong hội Tư văn góp 300 văn tiền, ngoài ra các dòng họ đóng góp thêm, tất cả được 500 xâu tiền.

1. 2. Tại chùa, hiện còn 3 tấm bia:

- Hậu phật bi minh: bia đặt trong Tiền đường chùa Sùng Phúc, dựng ngày mồng 7 tháng Tư năm Minh Mệnh thứ 14 (tháng 5 năm 1833). Bia không ghi người soạn, chữ còn sắc nét, chân phương, dễ đọc. Nội dung ghi về việc bà Đào Thị Viết, người làng, đã xuất 20 quan tiền để làng tu bổ lại chùa bị sụt lở. Bà lại góp 2 sào, 2 miếng ruộng để chùa lo việc đèn hương, nên được tôn làm Hậu Phật. Hàng năm, vào ngày Thượng nguyên, người cấy ruộng phải sửa đồ chay để cúng bà.

- Hậu phật bi ký: dựng trong tòa Tiền đường của chùa, dựng ngày Lành, tháng mười, năm Tự Đức thứ năm (tháng 11 năm 1852). Bia không ghi người soạn, chữ còn sắc nét, chân phương, dễ đọc. Nội dung ghi về việc bà Nguyễn Thị Hanh, hiệu Diệu Hinh, cùng mẹ kế là Ngô Thị, hiệu Diệu Thục, người làng, ứng xuất 50 quan tiền cho chùa để dùng vào việc nhu phí, lại hiến 5 sào ruộng tốt để dùng vào việc đèn nhang, nên được tôn làm Hậu Phật. Tiếp đó, bia ghi quy định của làng về việc sửa lễ cùng các bà Hậu Phật vào các ngày giỗ, tết Thượng ngụyên.

- Hậu phật bi ký: dựng trong tòa Tiền đường của chùa, dựng ngày 28 tháng Chạp, năm Tự Đức thứ bảy (tháng 01 năm 1855). Bia không ghi người soạn, chữ còn sắc nét, chân phương, dễ đọc. Nội dung ghi về việc bà Lê Thị Hán là vợ của Sứ ty (không rõ Thừa ty hay Hiến ty) Sơn Nam Phạm Xuân Dục, cùng con trai là Lê Văn Nhai hiến cho chùa 42 quan tiền, 5 sào 04 thước ruộng. Hàng năm, vào ngày giỗ của ông Phạm Xuân Dục (17 tháng chín), ngày giỗ của bà Lê Thị Hán, chùa phải sửa lễ theo lệ.

2. Chuông và khánh

Tại chùa hiện còn quả chuông Thổ Khối tự chung, đúc xong ngày 24 tháng Giêng năm Thiệu Trị thứ ba (thấng 2 năm 1843). Bài văn bia do Sĩ nhân Nguyễn Đăng Giáp (người làng) soạn, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (năm 1838) Lê Bố Y ký. Nội dung bài Minh nói về việc chùa Sùng Phúc trước đây có chuông, nhưng bị lấp dưới giếng; ông Nguyễn Thành Kỳ là Án sát sứ ty, trật Chánh bát phẩm đã mua đồng tại tỉnh nhà, cùng bà con trong làng đúc quả chuông cao 3 thước, 5 tấc, rộng 1 thước 6 tấc, nặng 450 cân. Người đóng góp nhiều tiền nhất là Án sát sứ ty, trật Chánh bát phẩm Nguyễn Đăng Đài cùng vợ (300 quan)…

Chùa còn có khánh “Quý Tỵ niên tạo”, đúc xong ngày 18 tháng Chạp năm Quý Tỵ đời Vua Minh Mệnh (tháng 01 năm 1834). Bài Minh do Sinh đồ Đặng Đình Phú, Nguyễn Đăng Bác (người làng) cùng soạn, các học sinh Trần Gia, Đặng Thế Vinh (người làng) nhuận sắc. Nội dung ghi danh sách những người công đức tiền của vào việc đúc khánh.

3. Sắc phong

Làng Thổ Khối thờ đến 6 vị thành hoàng. Ngoài ông Đào Duy Trinh kể trên còn có Cao Sơn đại vương (anh em con chú con bác với Tản Viên sơn thánh), Bố Cái đại vương (Phùng Hưng), Linh Lang đại vương (hoàng tử nhà Lý có công trong cuộc kháng chiến chống Tống), Bạch Đa và Di Mệ đại vương (hai vị thổ quan thường nghỉ lại ở Thổ Khối mỗi khi từ miền nùi về Kinh đô chầu). Các vị thần đã được các triều vua phong hơn 90 đạo. Có lẽ đây là một trong số ít làng có được nguồn sắc phong lớn. Do mới tiếp cận bộ sắc phong này nên chúng tôi chưa đưa ra được những đánh giá về giá trị của chúng.

II. MỘT SỐ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA CỦA NGUỒN DI VĂN HÁN NÔM Ở LÀNG THỔ KHỐI

Từ những tư liệu trên đây, có thể đưa ra một số nhận định về những giá trị lịch sử - văn hóa của làng Thổ Khối như sau:

1. Trước hết, các di văn Hán Nôm cho biết nhiều thông tin về cơ cấu tổ chức của làng, trong đó, nổi bật nhất là tư liệu về các giáp, các dòng họ. Qua di văn Hán Nôm, có thể thấy được những dòng họ có nhiều thành đạt trên con đường khoa cử, khoa hoạn, có nhiều đóng góp với các mặt đời sống của làng, nhất là về việc tu bổ các di tích.

Qua di văn Hán Nôm còn thấy một tư liệu quý về các giáp. điều lý thú là, làng Thổ Khối trong suốt hơn gần 200 năm, từ văn bia có niên đại sớm nhất (năm Mậu Tuất, niên hiệu Cảnh Hưng, 1778) đến đầu thế kỷ XX (qua bản Hương ước cải lương còn lưu tại Thư viện Thông tin Khoa học xã hội), làng luôn chỉ có 6 giáp là: Đoài Thượng, Trung Thượng, Trung Hạ, Đông Thượng, Đông HạNam Thượng. Điều này thể hiện tính ổn định và thống nhất của làng Thổ Khối, khác với nhiều làng khác thường xảy ra những mâu thuẫn dẫn đến chia, tách giáp.

2. Văn bia, chuông khánh trong đình chùa làng Thổ Khối còn cho biết nhiều tư liệu về các lệ tục làng xã, như lệ bầu và tôn vinh hậu thần, lệ thờ cúng thành hoàng, lễ hội, trong đó có cả lễ cầu ngư, đặc biệt là các quy định về việc cúng hậu thần rất tỷ mỷ, rất ít tấm bia có được.

3. Thứ ba, là truyền thống tích cực đống góp xây dựng làng xã

Đây là truyền thống chung của người nông dân Việt sống trong các làng quê (cả ở nông thôn và đô thị). Truyền thống này ở Thổ Khối mang những sắc thái riêng, do làng có nhiều người làm lại viên, làm quan ở các nơi, khi thành đạt luôn nhớ đế mạch nguồn đã sinh ra mình, tạo điều kiện cho mình trở nên thành đạt, nên đã dành một phần, có khi phần lớn bổng lộc, dấn vốn tích góp được để hiến cho làng. Qua văn bia có thể thấy được một số người tiêu biểu sau:

 

TT

Họ và tên

người đóng góp

Chức quan hay

vị thế xã hội

Mức độ

đóng góp

Năm đóng góp và Mục đích

Nguồn

tư liệu

1

Nguyễn Đăng Hoàn

Câu kê, Thị nội thư Tả Hình phiên

600 quan tiền 6 mẫu ruộng

1755,

cho 6 giáp

Bia “Hậu thần bi ký”, dựng năm 1778

2

Đặng Đình Toàn

(1712- ?)

Cai hợp Hộ phiên

 

120 quan tiền 6 mẫu ruộng 1000 quan, 1 mẫu 2 sào

1778,

Cho 6 giáp

Cho làng

Bia “Hậu thần bi ký”, dựng năm 1786

3

Ngô Xuân Hảo

Thông phán tỉnh Sơn Tây

1000 quan

3 mẫu 6 sào

Cho 6 giáp

Bia “Hậu thần bi ký”, dựng năm 1837

4

Đào Thị Viết

Dân làng

20 quan

Trùng tu

chùa bị sụt

Bia “Hậu phật bi ký”, 1833

5

Nguyễn Thị Hanh và mẹ kế (Ngô thị, hiệu Diệu Thục)

Dân làng

50 quan tiền 5 sào ruộng

Cúng

vào chùa

Bia “Hậu Phật bi ký”, 1852

6

Lê Thị Hán

Người nơi khác đến ở tại làng

42 quan tiền 5 sào 4 thước ruộng

Tu bổ

Tam bảo

Bia “Hậu Phật bi ký”, 1855

7

Ngô Thị Ý

Dân làng

Không rõ,

song đủ để

đúc khánh

Đúc khánh

cho chùa

Khánh “Quý Tỵ niên tạo”, 1834

8

Nguyễn Đăng Đài,

Nguyễn Đăng Chiểu,

Nguyễn Trọng Khanh và

rất nhiều người khác

Chánh Bát

phẩm

Thư lại Quản cơ Lại mục

Tổng cộng

 

300 quan

50 quan

60 quan

594 quan

Đúc chuông

“Sùng Phúc tự chung”, 1843

4. Văn bia, chuông khánh còn lộ ra nhiều tư liệu về nạn ngập lụt ở vùng ven sông Hồng, về một số người đỗ Tiến sĩ nhưng không có tên trong các sách Đăng khoa lục, đặc biệt là trong sáu vị thành hoàng làng có hai vị là thổ quan thường nghỉ lại ở Thổ Khối mỗi khi từ miền núi về Kinh đô chầu) cần được làm sáng tỏ.

Chú thích:

(1) - Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch, tập 1, Nxb. Văn hóa - Thông tin, tr.633.

- Quốc sử quán triều Nguyễn: Khâm định Việt sử thông giám cương mục, bản dịch, Nxb. Giáo dục, H. 1998, tập 1, tr.625.

(2) Đại Nam nhất thống chí, bản dịch, tập IV, Nxb. KHXH, H. 1975, tr.93.

(3) Đại Việt sử ký toàn thư, Sđd, tr.593.

(4) Các sách Đăng khoa lục chỉ ghi làng có một người đỗ Phó bảng là Vũ Tá An (đỗ khoa Tân Sửu niên hiệu Thiệu Trị - 1841) và 3 người đỗ Cử nhân thời Nguyễn là Phạm Bá Khảo (khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị, 1843), Nguyễn Đăng Trăn (khoa Đinh Mão niên hiệu Tự Đức, 1867), Nguyễn Trùng Hanh (khoa Giáp Ngọ niên hiệu Thành Thái, 1894).

(5) Làng Bát Tràng ngoài nghề làm gốm còn còn có một lượng lớn người (chủ yếu là phụ nữ) đi buôn bán theo đường sông. Các mặt hàng buôn chính là nước mắm, cá khô, cau khô…

(6) Tra trong các sách Đăng khoa lục không thấy có vị Tiến sĩ này./.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.271-280

Bùi Xuân Đính - Bùi Thế Quân
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm