VI | EN
21. Giới thiệu tấm bia Trần Quý Thị Lưu trạch bi của Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo (TBHN 2008)
(TBHN 2008)

GIỚI THIỆU TẤM BIA TRẦN QUÝ THỊ LƯU TRẠCH BI CỦA LƯỠNG QUỐC TRẠNG NGUYÊN NGUYỄN ĐĂNG ĐẠO

PHẠM MINH ĐỨC

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Nguyễn Đăng Đạo (1651 - 1791) người làng Hoài Bão huyện Tiên Sơn tỉnh Bắc Ninh. Năm Chính Hòa thứ 4 (1683) đời vua Lê Hy Tông ông đậu Trạng nguyên. Ông được triều đình giao cho giữ nhiều chức vụ quan trọng từ Đô đài ngự sử, Nhập thị kinh diên, Thượng thư bộ Binh, Tham tụng kiêm Đông các Đại học sĩ. Ông được cử đi sứ ở Trung Quốc, được Bắc triều phong làm Trạng nguyên. Sau khi mất được tặng Thượng thư Bộ Lại, tước Thọ Quận công. Khi ông mất vua Lê vô cùng thương tiếc ban cho 4 chữ: “Lưỡng quốc Trạng nguyên” và 1 đôi câu đối:

“Tiến sĩ, Thượng thư thiên hạ hữu

Trạng nguyên, Tể tướng thế gian vô”

(Đỗ Tiến sĩ làm đến Thượng thư thì thiên hạ có nhiều

Đỗ Trạng nguyên làm đến Tể tướng thì hiếm có)

- Tác phẩm của ông có:

- Nguyễn Trạng nguyên phụng sứ tập 阮狀元奉使集.

- Có thơ văn trong các sách Thi sao 詩抄, Tiên Hoài Nguyễn tộc phả 仙懷阮族譜

Ngoài ra ông còn soạn nhiều văn bia được dựng ở các di tích địa phương. Trong thông báo Hán Nôm học năm nay, chúng tôi xin giới thiệu tấm bia do ông soạn được đặt ở từ chỉ xã Trung Mầu huyện Gia Lâm, Hà Nội.

* Mô tả văn bia: Bia gồm 4 mặt, kích thước 110 x 45 cm. Gồm 53 dòng, toàn văn khoảng 2000 chữ Hán và Nôm. Dòng nhiều nhất 43 chữ, dòng ít nhất 1 chữ. Bia không có hoa văn. Chúng tôi phiên âm, dịch nghĩa toàn văn văn bia..

 

陳 貴 氏 留 澤 碑

僊遊縣, 中牟社, 後祀碑記

嘗聞:有功則祀. 尚書格言, 有施必報禮經明訓, 炳炳 然也.

帝宮侍內宮嬪陳貴氏諱玉軟,造命癸丑乂安,演州,東城萬分,貴人也.曜騰輝,渤河毓秀,笙篁四德渾全,言行工容頻澡;六珈孔耀,珩璜簪珥.姤遇名花樂籍,渥優寵荷楓宸,時而陪翠幄龍樓,規諷諒乎賢助.時而侍椒房,桂掖諫言展也良姬.寵愛優魚,串三千獎賞,荷金珠百兩.光膺帝祉,熊占久協大人,喜溢門楣麟趾,鍾生公子玉砌之,蕙蘭兢香,櫃囊之,金帛常盈.爰擇里仁,建荳芝室,旁觀地勢莫若中牟卜協,蠲辰梁棟之掄,老練構脩福宅,繩墨之尺引長生,廈成.總計一連,于以耀後光前,保箕裘於有永.于以述功銘德,昭堂構於無窮.第念夫綺羅,誇珍寶,積錢幣表偉觀於一時,曷若結閭里傳香火,樹風聲垂芳譽於萬世.迺於癸未年難食節,惠許中牟社青鈇肆百緡,稔田肆畝,香火田五高圴分上下用廣,周鄰之惠,全社八甲大小等人人戴德,一一啣恩,通上達下.自幼及長相與語曰:尊貴以實感,我輩以實應,今當尊保為後神,庶答功德萬分之一可乎?眾曰:唯唯!因敘真情,幸諧貴意,爰共立約尊保侍內宮嬪陳貴氏為本社後神大約言:茲當貴寵事如父母茲愛之親,恭遇誕期,敬將牢,,吹饌之禮,到後壽云.考五以禮,祀如神明.祈福祀農等旬,恭敬如一.諱日感時,逐節祭祀如儀,盛禮具陳典數昭彰於券約,同言而信誓,磁參質於神明.以本年庚寅肆月拾五日刻立堅以為金石之約.俾此功此德,百世不遷,而子而孫萬代常守福蔭.有榮於祠址,聲名不替於彝彰感弗遵者.天地有照鋻之明,官司有條律之舉.須當銘心刻石報德酬恩,涅而不緇,磨而不磷.山河如約日月同明.睹其址則思其人,思其人則愛其址,勿以陳年而厭棄常懷遺澤以興思.遠而彌光,久而彌芳豈不韙哉?因鐫于石以壽其傳.

皇朝永盛萬萬年之陸歲在庚寅月穀日

賜癸亥科第一甲進士及第第一名,特進金紫榮祿大夫,陪從御史,公侍經筵,壽林伯,柱國上班僊遊懷抱阮甫撰.

紹天府東山縣安穫杜信義寫

庚寅年七月日前德昭儀有後神在仙遊縣中牟社田肆畝伍高祭祀各節已有碑內.

茲長族黎維綿同族等共叶取來貳畝本族認取耕種,鳩作祀堂以供香火,存貳畝伍高本社照耕種.其唱歌本族應酌,忌日沙牢准豬,酒價古錢貳貫壹陌,𥸷壹盤,豬首.祭畢本社圴食,下田上田任在本社.若後日支派何人徒問這事已有長族端詞為憑.

一惠錢惠田

一銅錢肆百貫惠與本社各甲用資生里,再許本社牛酒,准古錢拾五貫及許本社官員村長共古錢三拾貫.

一稔田肆畝,香火田五高;一所在皆悲處壹高半;一所在𣷷雲處三高半;一所在𣷷雲處貳高;一所在罷帝處貳高半;一所在面處貳高;一所在坡賭處三高;一所在坡睹處陸高;一所在塘渡處貳高三尺;一所在坡睹處貳高;一所在塘渡處三高;一所在求吾處貳高貳尺;一所在𠦳處貳高貳尺;一所在群銀處貳高;一所在𣳢限處貳高;一所在坡敵處三高三尺;一所在塘渡處壹高.

代輪流照次鄉飲耕種以承祭祀

一祭禮柷文

序立上香參神初獻禮讀柷亞獻禮終獻禮侑食獻茶辭神焚柷撤饌禮畢.

皇號紀年歲次干支某月干支朔越某日干支中牟社官員鄉老上下等謹以牲醴茶盛金銀等物敢昭告于曰:婺光遺澤香火至情數盃酒薄萬古星明暨

先師灶君土公來附食尚饗.

慈山府,僊遊縣,中牟社官員侍內監司禮監兼太監粘祿侯阮公霑,官員侍內監謀義伯謝廷爵,官員侍內監韶祿伯阮忝基,官員子阮公俊,鄉長阮公,社史阮本,謝如恩,社胥阮光明,北甲一戴文謂,兌甲一楊有遙,東甲一阮文挺,南甲一胡福漊,北甲二陳文兵,兌甲二楊玉成,東甲二楊伯詩,南甲二戴文選,全社八甲上下等叩.申為懇乞尊保後神仰蒙金諾事茲奉見,鍾鼎國恩泰黃家慶自造室于本邑.以來惠老慈幼輕財愛人,迺於癸未年難食之節發出家貲銅錢肆百貫,稔田肆畝,香火田五高惠與本社圴分上下愚等.沐恩至渥受賜良多嵿戴無涯皓童感佩敢乞尊保帝宮侍內宮嬪陳貴氏為後神.現今當朝貴寵以尊貴之禮敬之.到後天祀壽年以神明之禮事之金石之銘.大約有三箋內云係遞年祈福事神敬唱云完應並就祠宇,喚教坊敬唱壹籌本社八甲辦用豬壹口,酒壹圩,吹共八盤,香榔金銀用足奉事如儀一約也.遞年上田下田等節本社八甲辦用壹觜,酒壹圩,香榔金銀用足敬事如約二約也.遞年生日賀禮本社八甲辦用熟牢壹隻,𥸷壹盤,酒壹圩,熟食當古錢貳貫,芙榔用足.到百歲期頤之後准歸此禮為諱日禮再增香蠟金銀燈茶等物遞來祠裡奉事如儀三約也.三約既成擲磁盟誓詞云.嗣今向後本社心此約內日此券文一皆遵據.倘後某員人生心違背尃賣祀田留廢奉事者上則願.

天地神明顯靈照鋻中則有執法, 官司按律懲治要使 血食萬代香火, 億年永為不刊之約云, 茲約.

Phiên âm: TRẦN QUÝ THỊ LƯU TRẠCH BI

Tiên Du huyện, Trung Mâu xã, hậu tự bi kí

Thường văn: “hữu công tắc tự” - Thượng thư cách ngôn, “hữu thí tất báo” - Lễ Kinh minh huấn, bính bính nhiên dã.

Đế cung Thị nội cung tần Trần Thị Ngọc Nhuyễn, tạo mệnh Quí Sửu, Nghệ An, Diễn Châu, Đông Thành, Vạn Phần quý nhân dã. Vụ diệu đằng huy, bột hà dục tú, sanh hoàng tứ đức hồn toàn, ngôn hạnh công dung tần tảo ; lục kha khổng diệu hành hoàng trâm nhĩ. Cấu ngộ danh hoa lạc tịch, ác ưu sủng hà phong thần, thời nhi bồi thúy ác long lâu, quy phúng lượng hồ hiền trợ. Thời nhi thị tiêu phòng, quế dịch gián ngôn triển dã lương cơ. Sủng ái ưu ngư, xuyến tam thiên tưởng thưởng, hạ kim châu bách lượng. Quang ứng đế chỉ hùng chiêm cửu hiệp đại nhân, hỉ ích môn mi lân chỉ; chung sinh công tử Ngọc Thế chi, huệ lan cạnh hương quỹ nang chi, kim bạch thường doanh. Viên trạch lý nhân, kiến khởi chi thất, bàng quan địa thế mạc nhược Trung Mâu bốc hiệp, thục thời lương đống chi luân, lão luyện cấu tu phúc trạch, thằng mặc chi xích dẫn trường sinh, hạ thành tổng kế nhất liên, vu dĩ diệu hậu quang tiền, bảo cơ cầu ư hữu vĩnh. Vu dĩ thuật công minh đức, chiêu đường cấu ư vô cùng. Đệ niệm phù đấu ỷ la, khoa trân bảo, tích tiền tệ biểu vĩ quan ư nhất thời, hạt nhược kết lư lý truyền hương hỏa, thụ phong thanh thùy phương dự ư vạn thế. Nãi ư Quý Mùi niên nan thực tiết, huệ hứa Trung Mâu xã thanh thiết tứ bách mân, nhẫm điền tứ mẫu, hương hỏa điền ngũ cao quân phân thượng hạ dụng quảng chu lân chi huệ; toàn xã bát giáp đại tiểu đẳng nhân nhân đới đức, nhất nhất hàm ân, thông thượng đạt hạ. Tự ấu cập trưởng tương dữ ngữ viết: “Tôn quý dĩ thực cảm, ngã bối dĩ thực ứng, kim đương tôn bảo vi Hậu thần thứ đáp công đức vạn phân nhất khả hồ?”. Chúng viết: “Dụy dụy”. Nhân tự chân tình, hạnh hài quý ý, viên cộng lập ước tôn bảo Thị nội Cung tần Trần Quý Thị vi bản xã Hậu thần. Đại ước ngôn: Tư đương quý sủng sự như phụ mẫu tư ái chi thân, cung ngộ đản kì ; kính tương lao, tửu, xuy soạn chi lễ, đáo hậu thọ vân. Khảo ngũ dĩ lễ, tự như thần minh. Kỳ phúc tự Nông đẳng tuần, cung kính như nhất. Húy nhật cảm thời tục tiết tế tự như nghi, thịnh lễ cụ trần điển số, chiêu chương ư khoán ước, đồng ngôn nhi tín thệ, từ tham chất ư thần minh. Dĩ bản niên Canh Dần tứ nguyệt thập ngũ nhật khắc lập kiên mân dĩ vi kim thạch chi ước. Tý thử công thử đức bách thế bất thiên, nhi tử nhi tôn vạn đại thường thủ phúc ấm. Hữu vinh ư từ chỉ, thanh danh bất thế ư di chương cảm phất tôn giả. Thiên địa hữu chiếu giám chi minh, quan ti hữu điều luật chi cử. Tu đương minh tâm khắc thạch báo đức thù ân, niết nhi bất truy, ma nhi bất lân. Sơn hà như ước, nhật nguyệt đồng minh. Đổ kì chỉ tắc tư kì nhân, tư kì nhân tắc ái kì chỉ, vật dĩ trần niên yếm khí, thường hoài di trạch dĩ hưng tư. Viễn nhi di quang, cửu nhi di phương khởi bất vĩ tai!. Nhân thuyên vu thạch dĩ thọ kì truyền

Thời

Hoàng triều Vĩnh Thịnh vạn vạn niên chi lục, tuế tại Canh Dần nguyệt cốc nhât.

Tứ Quý Hợi khoa Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Bồi tụng Ngự sử, Công thị kinh diên, Thọ Lâm bá, Trụ quốc Thượng tướng quân, Tiên Du Hoài Bão, Nguyễn phủ soạn.

Thiệu Thiên phủ, Đông Sơn huyện, An Hoạch xã Đỗ Tín Nghĩa tả.

Canh Dần niên thất nguyệt nhật tiền đức chiêu nghi hữu hậu thần tại Tiên Du huyện, Trung Mâu xã điền tứ mẫu ngũ cao tế tự các tiết di hữu bi nội.

Tư trưởng tộc Lê Duy Miên đồng tộc đẳng cộng hiệp thủ lai nhị mẫu bản tộc nhận thủ canh chủng, cưu tác tự đường dĩ cung hương hỏa, tồn nhị mẫu ngũ cao bản xã chiếu cứ canh chủng. Kỳ xướng ca bản tộc ứng chước, kị nhật sa lao chuẩn trư tửu giá cô tiền nhị quan nhất mạch, xuy nhất bàn trư thủ, tế tất bản xã quân thực, hạ điền thượng điền nhậm tại bản xã. Nhược hậu nhật chi phái hà nhân đồ vấn giá sự dĩ hữu trưởng tộc đoan từ vi bằng.

- Nhất huệ tiền, huệ điền.

Nhất đồng tiền tứ bách quan huệ dữ bản xã các giáp dụng tư sinh lý, tái hứa bản xã ngưu, tửu, cổ tiền thập ngũ quan, cập hứa bản xã quan viên thôn trưởng cộng cổ tiền tam thập quan.

Nhẫm điền tứ mẫu hương hỏa điền ngũ cao; nhất sở tại Giai Bi xứ nhất cao bán; nhất sở tại BếnVân xứ tam cao bán; nhất sở tại Bến Vân xứ nhị cao; nhất sở tại Bãi Đế xứ nhị cao bán; nhất sở tại Diện xứ nhị cao; nhất sở tại Bờ Đổ xứ tam cao; nhất sở tại Bờ Đổ xứ lục cao; nhất sở tại Đường Độ xứ nhị cao tam xích; nhất sở tại Bờ Đổ xứ nhị cao; nhất sở tại Đường Độ xứ tam cao; nhất sở tại Cầu Ngô xứ nhị cao nhị xích; nhất sở tại Lí Nghìn xứ nhị cao nhị xích; nhất sở tại Quần Ngân xứ nhị cao; nhất sở tại Ngòi Hạn xứ nhị cao; nhất sở tại Bờ Địch xứ tam cao tam xích; nhất sở tại Đường Độ xứ nhất cao.

Đại luân lưu chiếu thứ hương ẩm canh chủng dĩ thừa tế tự.

- Nhất tế chúc văn

Tự vị, thượng hương, tham thần, sơ hiến lễ, độc chúc, á hiến lễ, chung hiến lễ, hựu thực, hiến trà, từ thần, phần chúc, triệt soạn, lễ tất.

Duy

Hoàng hiệu kỉ niên tuế thứ, can chi, mỗ nguyệt can chi sóc việt, mỗ nhật can chi. Trung Mâu xứ quan viên hương lão thượng hạ đẳng cẩn dĩ sinh lễ trà thịnh kim ngân đẳng vật cảm chiêu cáo vu viết: vụ quang di trạch, hương hỏa chí tình, sổ bui tửu bạc, vạn cổ tinh minh. Kị tiên sư, táo quân, thổ công lai phụ thực thượng hưởng.

Từ Sơn phủ, Tiên Du huyện, Trung Mâu xã quan viên Thị nội giám Ty, kiêm Thái giám Niêm Lộc hầu Nguyễn Công Triêm; Quan viên Thị nội giám Mưu Nghĩa bá Tạ Đình Tước; quan viên Thị nội giám Thiều Lộc bá Nguyễn Thiêm Cơ; quan viên tử Nguyễn Công Tuấn; hương trưởng Nguyễn Công Bảy ; xã sử Nguyễn Bản Chất, Tạ Như Ân; xã tư Nguyễn Quang Minh; Bắc giáp nhị Trần Văn Binh; đoài giáp nhị Dương Ngọc Thành; đông giáp nhị Dương Bá Thi; nam giáp nhị Đới Văn Tuyển, toàn xã bát giáp thượng hạ đẳng khấu. Thân vi khẩn khất tôn bảo hậu thần, ngưỡng mông kim nặc sự tư phụng kiến. Chung đỉnh quốc ân thái hoàng gia khánh tự tạo thất vu bản ấp. Dĩ lai huệ lão từ ấu khinh tài ái nhân, nãi ư Quý Mùi niên nan thực chi tiết phát xuất gia ti đồng tiền tứ bách quan, nhẫm điền tứ mẫu, hương hỏa điền ngũ cao huệ hứa bản xã quân phân thượng hạ, ngu đẳng mộc ân chí ốc thụ tứ lương đa lĩnh đái vô nhai hạo đồng cảm bội cảm khất tôn bảo đế cung thị nội cung tần Trần Quý Thị vi Hậu thần. Hiện kim đương triều quý sủng dĩ tôn quý chi lễ kính chi. Đáo hậu thiên tự thọ niên dĩ thần minh chi lễ sự chi. Kim thạch chi minh. Đại ước hữu tam tiên, nội vân hệ đệ niên kì phúc sự thần kính; sướng vân hoàn ứng tịnh tựu từ vũ, hoán giáo phường kính xướng, nhất trù bản xã bát giáp biện dụng trư nhất khẩu, tửu nhất vu, xuy cộng bát bàn, hương lang kim ngân dụng túc phụng sự như nghi nhất ước dã. Đệ niên thượng điền hạ điền đẳng tiết, bản xã bát giáp biện dụng kê nhất chủy, tửu nhất vu, hương lang kim ngân dụng túc kính sự như ước, nhị ước dã. Đệ niên sinh nhật hạ lễ bản xã bát giáp biện dụng thục lao nhất chích, xuy nhất bàn, tửu nhất vu, thục thục, đương cổ tiền nhị quan, phù lưu dụng túc. Chí bách tuế kì di chi hậu chuẩn quy thử lễ vi húy nhật lễ tái tăng hương nạp kim ngân đăng trà đẳng vật đệ lai từ lý phụng sự như nghi tam ước dã. Tam ước kí thành trịch từ minh thệ. Từ vân: tự kim hướng hậu bản xã tâm thử ước nội nhật, thử khoán văn nhất giai tuân cứ. Thảng hậu mỗ nhân sinh tâm vi bội chuyên mại tự điền lưu phế phụng sự giả thượng tắc nguyền: thiên địa thần minh hiển linh chiếu giám, trung tắc hữu chấp pháp, quan ti an luật trừng trị yếu sử huyết thực vạn đại, hương hỏa, ức niên vĩnh vi bất san chi ước vân. Tư ước.

Dịch nghĩa:

BIA LƯU ÂN TRẠCH CỦA TRẦN QUÝ THỊ

Bia ghi về việc thờ cúng của xã Trung Mâu, huyện Tiên Du.

Thường nghe: Sách Thượng Thư có câu: “Có công ơn thì được thờ cúng”; Sách Lễ Kí dạy rằng: “Có thi ân thì được báo đáp”, rõ ràng như vậy.

Thị nội cung tần trong cung vua là Trần Quý Thị hiệu Ngọc Nhuyễn sinh vào năm Quý Mùi tại xã Vạn Phần, huyện Đông Thành, Phủ Diễn Châu , tỉnh Nghệ An. Bà là người sông biển chung đúc, nhật nguyệt sáng soi. Công, dung, ngôn, hạnh thuần khiết; rực rỡ như ngọc ngà, quý như châu báu. Gặp hội danh hoa vui vẻ, được vua rất mực sủng ái; hầu hạ nơi màn biếc trong cung vua khuôn phép giữ gìn, lúc hầu cận bên Tiêu phòng, bà khéo léo can ngăn thành thực. Vì thế bà được ban hơn 3000 xâu tiền, ngọc ngà châu báu hơn trăm lượng. Vẻ vang thay bà ứng được phúc đế vua ban, hoà hợp với người, có điềm hùng mộng, gót lân sinh được công tử Ngọc Thế. Hoa lan hoa huệ cùng thơm; lụa vàng chật túi. Bà muốn chọn xóm làng nhân nghĩa đễ xây ngôi nhà thơm tho, xem xung quanh không đâu bằng Trung Mâu. Xem quẻ bói chọn ngày, kén những cây gỗ tốt; sửa sang phúc trạch, kén chọn thợ giỏi để xây dựng. Từ đường đã hoàn thành, có dây phúc dài tạo mối để rạng rỡ tổ tiên; giữ được sự nghiệp của đời trước đến mãi mãi để thuật lại công lao, khắc ơn đức để làm cho sáng tỏ dòng tộc đến vô cùng. Bà lại nghĩ rằng: tranh giành lụa là, khoa trương châu báu, tích tiền tệ để biểu dương sự to lớn ở đời, sao bằng cùng xóm làng lưu truyền hương hỏa, gây dựng tiếng thơm, lời khen rủ xuống muôn đời. Thế là vào năm Quý Mùi đói kém bà ban cho xã Trung Mâu 400 quan tiền, 4 mẫu ruộng trồng lúa, 5 sào ruộng hương hỏa chia đều trên dưới. Ơn huệ rộng lớn ban cho khắp cả thôn xóm; tám giáp lớn nhỏ trong xã, người người đều đội đức, hàm ơn. Từ nhỏ đến lớn trong khắp xã thôn cùng nói rằng: Quý bà lấy tình cảm chân thực để cảm hóa bọn ta, bọn ta cũng lấy tình cảm chân thực để đáp lại. Nay tôn bà làm Hậu thần, ngõ hầu có thể báo đáp được một chút công đức chăng?. Mọi người đều dạ dạ để bày tỏ rõ sự chân tình và hòa hợp quý ý, cùng lập điều ước bầu Thị nội cung tần Trần Quý Thị làm Hậu thần của bản xã. Lời ngôn ước lớn lao, nay nhận lấy quý sủng phụng thờ bà như cha mẹ, yêu mến bà như người thân. Cung kính gặp ngày sinh nhật của bà kính dâng lễ thịt bò, rượu, xôi; đến ngày sau khảo 5 lễ để cúng thần minh. Xóm làng cầu phúc tế Nông mười ngày như một, đến ngày giỗ gặp tiết cúng như nghi thức; bày đặt lễ hậu, điển số sáng rõ trong khoán ước; cùng nói mà tin, việc thờ cúng tham dự ở thần minh. Ngày 15 tháng 4 năm Canh Dần lập bia để làm lời ước vàng đá, khiến cho công này, đức này trăm đời không đổi, mà đến vạn đời sau con cháu còn giữ. Phúc ấm được vinh danh nơi từ chỉ, thanh danh không phai nơi sử sách, cảm kích noi theo. Trời đất có chứng giám, quan ti có điều luật, nay khắc đá ghi tâm báo đức thù ân. Nhuộm mà không thâm, mài mà không mòn, non sông như lời ước khiến cho mặt trăng mặt trời cùng sáng. Nhìn nền này thì nhớ đến người ấy, nhớ đến người ấy thì thêm yêu mến nền này, chớ để lâu ngày mà quên lãng đi. Bản xã thường nhớ đến những ân trạch mà Quý phu nhân để lại, xa càng sáng, lâu càng thơm, há chẳng đúng sao?. Nhân đó khắc đá để mãi lưu truyền.

Ngày lành tháng tốt năm Canh Dần, niên đại Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710).

Đệ nhất giáp Cập đệ Đệ nhất danh, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Bồi tụng Ngự sử, Công thị Kinh diên, tước Thọ Lâm bá, Trụ Quốc thượng ban, người làng Hoài Bão, huyện Tiên Du, Nguyễn phủ (Nguyễn Đăng Đạo) soạn.

Đỗ Tín Nghĩa người xã An Hoạch, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên viết chữ.

Tháng 7 năm Canh Dần, đức xưa soi sang, trưc đặt hậu thần 4 mẫu 5 sào ruộng tại xã Trung Mâu, huyện Tiên Du, tế lễ các tiết đã ghi trong bia. Nay trưởng tộc là Lê Duy Cẩm giúp 2 mẫu đất, bản tộc nhận để cầy cấy, xây dựng từ đường để cúng hương hỏa, còn 2 mẫu 5 sào bản xã để cầy cấy. Vào ngày giỗ bản tộc có xướng ca, dâng rượu, cúng thịt lợn, cúng tiền 2 quan 1 mạch và 1 mâm xôi. Tế xong bản xã chia nhau ăn uống. Thượng điền, hạ điền giữ tại bản xã, nếu như ngày sau chi phái, người nào hỏi đến việc này đã có lời của trưởng tộc làm bằng.

- Ban cho tiền ruộng

Nay ước ơn cho tiền, ruộng gồm: 400 quan tiền cho các giáp trong bản xã dùng. Lại đồng ý cho bản xã trâu, rượu cùng 15 quan tiền, cùng đồng ý cho quan trưởng thôn, quan viên bản xã 30 quan tin

Cho 1 ruộng lúa 4 mẫu, ruộng hương hỏa 5 sào; 1 thửa ở xứ Giai Bi 1 sào rưỡi; 1 thửa ở xứ Bến Vân 3 sào rưỡi; 1 thửa ở xứ Bến Vân 2 sào; 1 ở xứ Bãi Đế 2 sào rưỡi; 1 thửa ở xứ Tại Diện 2 sào; 1 thửa ở xứ Bờ Đổ 3 sào; 1 thửa ở xứ Bờ Đổ 6 sào; 1 thửa ở xứ Đường Độ 2 sào 3 thước; 1 thửa ở xứ Bờ Đổ 2 sào; 1 thửa ở xứ Đường Độ 3 sào; 1 thửa ở xứ Cầu Ngô 2 sào 2 thước; 1 thửa ở xứ Lưới Nghìn 2 sào 2 thước; 1 thửa ở xứ Quần Ngân 2 sào; 1 thửa ở xứ Ngòi Hạn 2 sào; 1 thửa ở xứ Bờ Địch 3 sào 3 thước; 1 thửa ở xứ Đường Độ 1 sào thay nhau luân phiên cày cấy để thừa tự.

- Chúc văn tế lễ.

Theo thứ tự: Dâng hương, tham thần, dâng lễ lần đầu, đọc chúc văn, dâng lễ lần 2, dâng lễ lần cuối, mời ăn uống, dâng trà, có lời với thần, đốt chúc văn, hạ cỗ, lễ xong.

Niên hiệu, năm thứ, can chi, tháng, can chi, ...ngày nào, can chi, quan viên hương lão lớn nhỏ trong xã Trung Mâu kính cẩn đem các con vật tế lễ, trà, tiền giấy, đến nói rằng: để lại ân trạch, hương hỏa chí tình, vài chén rượu nhạt, vạn thủa sáng soi. Tiên sư, táo quân, thổ công cùng đến ăn uống, thượng hưởng.

Các quan viên thuộc xã Trung Mâu, huyện Tiên Du, phủ Từ Sơn gồm: Quan viên Thị nội Giám ti lễ giám kiêm Thái giám Chiêm Lộc hầu Nguyễn Công Triêm; Quan viên Thị nội giám, tước Mưu Nghĩa bá là Tạ Đình Tước; Quan viên Thị nội giám, tước Thiều Lộc bá là Nguyễn Thiêm Cơ; Quan viên tử Nguyễn Công Tuấn; hương trưởng Nguyễn Công Bảy; Xã sử Nguyễn Bản Chất, Tạ Như Ân; Xã tư Nguyễn Quang Minh; Bắc giáp nhất là Đới Văn Vị; Trùm giáp nhất là Dương Hữu Giao; Đông giáp nhất là Nguyễn Văn Đĩnh; Nam giáp nhất là Hồ Phúc Sâu; Bắc giáp nhị là Trần Văn Binh; Trùm giáp nhị là Dương Ngọc Thành; Đông giáp nhị là Dương Bá Thị; Nam giáp nhị là Đới Văn Tuyển, tám giáp lớn nhỏ trong xã cùng lạy.

Khẩn khoản bày tỏ xin tôn làm hậu thần, ngưỡng mong ý đó nay phụng kiến. Chung đỉnh, quốc ân rạng rỡ, nhà nhà vui vẻ. Từ khi lập đền thờ ở bản ấp đến nay ơn cho người già được nhân từ, trẻ nhỏ được nhân ái. Vào năm Quý Mùi đói kém bà lại phân phát của cải 400 quan tiền, ruộng lúa 4 mẫu, ruộng hương hỏa 5 sào chia đều cho bản xã từ lớn đến nhỏ, ơn đức thấm nhuần đến mọi nhà. Nhận nhiều ân ban, đội ơn vô bờ, cảm kích bội phần, dám xin tôn bầu đế cung Thị nội cung tần Trần Quý Thị làm hậu thần. Hiện nay đương triều được sủng ái, đem lễ tôn quý kính chúc, đến ngày sau tuổi trời lấy lễ thần minh phụng sự. Lời ước vàng đá có ba điều. Hàng năm cầu phúc phụng sự thần, ca xướng xong mọi người sẽ tập chung ở từ đường gọi giáo phường ca hát 1 điệu, tám giáp trong bản xã dùng 1 miếng thịt lợn, 1 vò rượu, 8 bàn xôi, hương, cau, vàng giấy dùng đủ, phụng sự đúng nghi thức, đó là điều ước thứ nhất. Hàng năm vào tiết thượng điền, hạ điền 8 giáp của bản xã dùng 1 con gà, 1 vò rượu, hương, cau, tiền giấy dùng đủ kính phụng như quy ước, đó là điều ước thứ hai. Hàng năm vào lễ mừng sinh nhật tám giáp của bản xã dùng 1 miếng thịt chín, 1 mâm xôi, 1 vò rượu, thức ăn chín, tiền 2 quan, trầu cau dùng đủ, về sau đến ngày mất thì dùng lễ này làm lễ cho ngày giỗ lại thêm hương, đèn, vàng bạc, chè, nến đến bên trong từ đường phụng sự như nghi thức, đó là điều ước thứ ba. Ba điều ước đã hoàn thành, đặt đồ thờ cúng khắc lời thề. Lời rằng: từ nay về sau tấm lòng của bản xã ở trong điều ước, khoán văn này mọi người đều phải tuân theo, nếu người nào sinh lòng phản trắc chuyên bán ruộng cúng, bỏ việc thờ cúng thì có lời nguyền.Trời đất thần minh hiển linh chứng giám. Trong có chấp pháp quan ti theo luật trừng trị, khiến cho huyết thực được muôn đời, hương hỏa vạn năm mãi mãi không đổi. Vĩnh viễn không được vứt bỏ những lời quy ước trên. Nay quy ước.

Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.281-294

Phạm Minh Đức
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm