VI | EN
24. Tấm bia ghi về Bảng nhãn Ngô Hoán ở đình xã Thượng Đáp tổng Vạn Tải, Hải Dương (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

TẤM BIA GHI VỀ BẢNG NHÃN NGÔ HOÁN Ở ĐÌNH XÃ THƯỢNG ĐÁP TỔNG VẠN TẢI TỈNH HẢI DƯƠNG

PHẠM MINH ĐỨC

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

LÊ THỊ THÔNG

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I

Ngô Hoán (1460 - 1522) người xã Thượng Đáp huyện Thanh Lâm - nay thuộc xã Nam Hồng huyện Nam Thành tỉnh Hải Dương. Năm 31 tuổi đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn) khoa Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức 21 (1490) đời Lê Thánh Tông. Thành viên Hội Tao đàn. Làm quan đến chức Lại bộ Thượng thư, làm Hiến sát xứ Thanh Hoa năm Đoan Khánh thứ 1 (1505), sau khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi, ông theo vua Quang Thiệu sang Ai Lao, tử tiết (1522). Thời Lê Trung hưng, được phong là Suy Tôn công thần, gia phong phúc thần. Tác phẩm hiện còn 13 bài thơ trong Toàn Việt thi lục.

Ở đình xã Thượng Đáp hiện nay còn lưu giữ được tấm bia ghi về sự tích của ông. Nhận thấy đây là một tấm bia quý, chúng tôi xin giới thiệu tấm bia này.

* Mô tả văn bia:

Bia 2 mặt, khổ 95 x 70cm, trán bia có hình rồng, mặt trời, diềm bia có hoa văn hình hoa lá. Bia có thác bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu N03797 / 3799. Sau đây chúng tôi xin giới thiệu bản dịch nghĩa vài văn bia này.

BIA ĐỀN THỜ

Hội tư văn xã Thượng Đáp lập bia kính cẩn khảo xét sự tích tiên hiền của bản xã là Ngô tướng công, người xã Thượng Đáp huyện Thanh Lâm, Khúc Giang. Ông họ Ngô húy Hoán tự là Hối Phu, sinh ngày 28 tháng 3 năm Canh Thìn (1460). Đến năm Canh Tuất niên hiệu Hồng Đức (1490) đỗ Bãng nhãn, được tuyển vào Hàn lâm Đông các hầu vua Lê Thánh Tông. Ông được dự hội Tao đàn, giữ chức Tao đàn Sái tảo. Ông là người sáng suốt, tốt đẹp; có tập thơ truyền hậu thế, bên trong giảng ngôn, bên ngoài phục thí. Cũng trong thời điểm đó ông giữ chức Hiến sứ xứ Thanh Hoa, có công giúp đỡ Hồng Thuận khởi nghĩa, sau đó ông được thăng chức Thừa sứ Giám tư, được thưởng công lao to lớn, rồi thăng Thừa sứ tầm bộ, Thượng thư Bộ Lại, tước Quyền Tư hầu. Ông là người trung hậu, uy vũ bất khuất, theo Đà Dương Vương sang Lào rồi mất ở đó vào ngày 10 tháng 6. Người con trai vô cùng đau xót viết văn tế, có đoạn ghi rằng: “Lúc cha sống được vinh hiển, lúc cha thác được xót thương, việc cha sống thác đã được an bài. Ngẩng lên không thẹn với vua, cúi xuống không thẹn với dân”. Tác thị phi, định đúng sai, về sau sách sử ghi ông là “Tiết nghĩa danh thần”, có thơ vịnh sử rằng:

Phẩm giá Tao đàn tựa sao Thai,

Tiên sinh sống thác đã an bài.

Cúi xuống ngẩng lên đều không thẹn, đúng đúng sai sai về sau sẽ định liệu. Đến năm Vĩnh Tộ thứ 6 (1624) quan thừa sứ nghĩ đến việc nối tiếp khoa cử liền cho xây từ đường ở trước đình ở ngoài sân, 1 mẫu ruộng bên ngoài cùng 3 sào ao để thờ cúng. Đến năm Đức Long thứ 7 (1635) quan Tự khanh lập những quy định vĩnh viễn và dời từ đường ra sau miếu ở xứ Vườn Vặn, lại có 2 miếng ao để phối thờ. Năm Kỉ Hợi trùng tu lại. Năm Đinh Dậu lợp ngói. Năm Kỉ Hợi xây tường bao quanh,trong năm ấy giám sát việc đăng khoa. Năm Quý Mão triều đình sửa sang quốc sử, Phục kiến quốc lão Phạm Công Trứ xét đến công lao triều trước tận trung, tiết nghĩa, kính cẩn giãi bày rằng: “Trị đạo lấy việc tôn sùng tiết nghĩa làm đầu, xét thấy năm Quang Thiệu thứ nhất (1516) bị quyền thần lấn át, lúc ấy có rất nhiều trung thần giúp đỡ để vận nước được vinh hiển; có Vũ Duệ, Ngô Hoán là bề tôi tiết nghĩa, hoặc chết vì nạn nước hoặc tự vẫn, tiết khí lẫm liệt, tiếng thơm muôn đời, truy phong làm Phúc thần để trọng tiết nghĩa, phong tục”. May mắn lại được chúa thượng trọng tiết nghĩa tôn lập miếu thờ, trên là để phát huy tiếng thơm của bề tôi trung nghĩa, dưới là nghĩ đến công lao của bề tôi một đời hào kiệt. Mọi người ở đó đều vâng mệnh nội Tướng quyền được nhận Phó trung Thư tả. Sắc ban cho Tiến sĩ Cập đệ Đệ nhị danh khoa Canh Tuất, Thượng thư Bộ Lại, Ngô tướng công thụy là Hòa Trực. Ông là danh nho ở miếu đường, có tài to lớn trong triều đình; tài kinh luân, giúp nước nhà trong lúc khó khăn, theo hầu vua dốc lòng tín thực, luôn giữ tiết tháo, thường xuyên được phong chức, phong thưởng, vào năm Quang Thiệu theo hầu vua rồi mất. Nay phụng chỉ gia phong làm Thượng đẳng thần, thụy là Hòa Trực. Kính cẩn phong làm Trung Phục Nghĩa Cần vương Đại vương, nay ban sắc chỉ.

Ngày 18 tháng 12 năm Cảnh Trị thứ 4 (1561) đến ngày mồng 1 tháng 3 năm Đinh Mùi phụng sai tướng thần điều động các xã đốc áp việc xây từ đường 1 liên, 1 gian, 2 nhà, xung quanh 4 phía có tường bao quanh và nghi môn, có lợp mái ngói, cùng bảng “Tiết nghĩa từ”. Công việc tỉ mỉ, hoàn hảo để biểu dương tiết nghĩa, phong tục. Đến tháng 4 hoàn thành nghênh đón Đại vương vào miếu; mênh mang như ở trên, sáng sủa linh thiêng. Đem lại lợi ích cho dân, giúp đỡ thánh đạo, giữ gìn đất nước hàng nghìn năm. Xuân thu cúng tế huyết thực vạn đời, cùng thấy Đại vương giáng phúc. Phúc lộc thấm khắp toàn xã, người người đều no ấm. Dạy con văn từ, con cháu nối tiếp tổ tiên tạo thành một mạch thống khoa bảng; Thượng thư phúc đạt thiên hạ, tôn tam thế, là trung thần đời đời hiển danh gia tộc, con cái hiếu thảo nối tiếp học vị Tiến sĩ, làm rạng danh đất Thượng Đáp. Rất vinh hiển, rất phồn thịnh, đạo nho ta cùng trời đất càng lâu càng sáng vậy, nhân đó viết bài kí ghi lại sự việc để truyền khắp.

Bảng nhãn khoa Canh Tuất, Suy trung công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thượng thư Bộ Lại, Ngô tướng công được gia phong thụy là Hòa Trực, sức cung cẩn hành giúp vua trị nước bảo hộ nhân dân hàm Trung Phục Nghĩa Cần Vương, khang quốc bảo dân, được phong là Anh tài Mưu lược Đại vương.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Canh Thìn, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Thừa Chính xứ xứ Kinh Bắc, tước Lan Khê tử, chí sĩ phác phu, thụy là Khánh Giang, Nguyễn tướng công húy là Thọ Xuân, sinh giờ Sửu ngày 10 tháng 8 năm Giáp Dần.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Đinh Sửu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Quang lộc Tự khanh, tước Hòa Lễ tử, Chí sĩ tự diên niên, thụy Nhã Nghi, Nguyễn tướng công húy Bản, sinh giờ Thân ngày 25 tháng 11 năm Kỉ Mão.

Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Kỉ Hợi, làm Chiêu văn quán ở Viện Hàn lâm, Tư huấn, Chí sĩ tông, tự là Đạo Minh, thụy Quảng Uyên, Nguyễn tướng công húy là Cao Sầm.

- Húy thụy, chức tước của các vị tiên hiền

Thi Hội trúng tứ trường quân đình là Ngô Công; Tri phủ phủ Tam Đái, xã Lạc Thất, Nguyễn Công húy Thế Ninh; Viên ngoại lang bộ Hình, xã Quân Khê là Bùi công; Tri huyện huyện Đại Từ, xã Tùng Khê, Nguyễn công húy Thế Vinh; huyện Thừa huyện Lệ Thuỷ, xã Đông Khê là Bùi công; Tri châu châu Văn Uyên, xã Hợp Trai, Nguyễn công húy Sơn Tùng; Hiến sứ xứ Nghệ An, tước Bút Sơn bá, xã Tính Thiện, Nguyễn công húy Trạch; Tư vụ Bộ hộ, xã Thuần Phu là Ngô công; Nho sinh trúng thí, xã Tĩnh Phu là Ngô công; thượng xá sinh, xã Bích Xuyên là Nguyễn Công; Tư phó sứ Các môn, xã Thanh Sức là Nguyễn công; Chỉ huy sứ kiêm chân thanh là Hoàng công, húy Trân; Phủ sinh, xã Nộn Mẫn là Hoàng công; Thượng xá sinh, xã Lạc Thiện, Bùi công húy Nho; Đô quan, xã Thuần Đức, Nguyễn công húy Đàm; Hoằng tín đại phu, Phó sứ Hiến sát sứ đạo Kinh Bắc, xã Hoà Nghị, Nguyễn công húy Thuyên; Thượng xá sinh, xã Đạo An, Nguyễn công húy Phẩm; Quan phụ Chỉ húy kiêm sự, tước Phúc Tuyền bá, Nguyễn công húy Thọ Khảo; Huấn đạo phủ Nghĩa Hưng, người Đạo Nguyên húy Trực; Kiêu Tham vệ, Điển bạ quân trai, Ngô công húy Biên; Phủ sinh, xã Đạo Tâm, Hoàng công húy Quyển; Giảng huấn, xã An Thủ, Lương công húy Đốc Cung; Phó kế sự, xã Đạo Tứ, Nguyễn công húy Lý; Huấn đạo [.] Huấn an, xã Đạo Chân, Vũ Công húy Hoàng; quan văn nho sinh, xã Thuần Chính, Nguyễn công húy Tắm; Tri huyện huyện Cách Phong, xã Minh Ngô, [.] công húy Hán; phủ sinh, xã Chỉ Trai, Bùi công húy Thị; Huấn đạo phủ Kinh Môn, xã Thanh Bạch, Nguyễn công húy Cẩn; Tri phủ phủ Hải Đông, xã Đạo Thái, Nguyễn công húy Trinh; Viên ngoại lang Bộ binh, Nguyễn công húy Tử; Đô giám sinh, xã Minh Tâm, Nguyễn công húy Quang; Bị quang phụ, Huyện thừa huyện Phúc Yên, xã Lễ Tuyền, Nguyễn công húy Nham; Tri huyện huyện Kim Thành, xã Minh Nghị, Ngô công húy Hoàng; Tri huyện huyện An Lão, xã Minh Lý, Nguyễn công húy Triệu; nho sinh trúng thí, xã Lạc Đạo, Nguyễn công húy Đẩu Thược; Nho sinh trúng thí, xã Trung Đạo, Hoàng công húy Cái; huyện Uý huyện Quảng Đức, Văn Trường Hoằng Đạo, Nguyễn công húy Nhân Khiêm.

Hàn lâm viện, Chiêu văn quán, Điển nghĩa văn trường, thuần lý Nguyễn Công húy là Cư Dị; Phụng thánh thuật điển bạ; Đỗ công húy Hạo; nho sinh trúng thí, Ngô công húy Trấn.

Mộ tổ Đại vương ở xứ Ma Tông nằm bên cạnh mộ của bà tổ tọa giáp hướng canh, cạnh lăng Đại vương tọa giáp hướng canh.

Mộ của bà Đại vương nằm ở xứ Ma Trước, ở bên phải của cánh phượng, tọa Ất hướng Tân.

Hoàng Giáp khoa Tân Sửu, giữ chức Tham chính người xã Khai Sơn bản huyện là Nguyễn Quý công húy là Xuân [.]

Thượng đẳng thần Đại vương, sinh tiết kiền tướng sinh tửu ở từ đường có nghi tiết tế văn, thiên hạ sùng bái ngưỡng vọng ở đó.

Tiên hiền thực nãi Văn tông cương, được nhận chức Vinh thụ Quốc phong, lúc rảnh làm lễ cung kính dâng muôn đời được thông đạt.

Ngày 17 tháng giêng năm Chính Hòa thứ 4 (1683).

Tả nội quân doanh, Văn chức, Cẩn sự lang làm Huyện úy huyện Quảng Đức là Nguyễn Nhân Khiêm hiệu Thực Phu nhuận.

Tiến công Thứ lang, Hàn lâm viện, Chiêu văn quán điển nghĩa, Nguyễn Cư Dị soạn.

Những người góp tiền mua ruộng thờ cúng được thờ ở sau.

Điển lại tự Phúc Thiện là Nguyễn Tiên Sinh góp 20 quan; Nho sinh tự Phúc Diễn là Nguyễn tiên sinh góp 20 quan; Nho sinh chiêu văn quán tự Cương Đức là Nguyễn tiên sinh góp 20 quan; Nho sinh tự Phúc Miên là Nguyễn tiên sinh góp 20 quan; Phủ hiệu sinh tự Phúc Hoàn là Nguyễn tiên sinh góp 1 sào ruộng.

Thư toán khoa Ất Mão làm Đề lại ở phủ Kinh Môn là Hoàng Kim Đình viết.

Tấm bia Từ Vũ bi cung cấp thêm những thông tin về Bảng nhãn Ngô Hoán, ông là người có tài kinh luân tế thế, giúp nước nhà trong lúc khó khăn, theo hầu vua dốc lòng tín thực, luôn giữ tiết tháo. Ngoài ra văn bia cũng ghi lại tên họ, chức tước, những người đỗ đạt của đất Thượng Đáp. Đây là tấm bia quý cần được bảo lưu.

Các sách tham khảo:

1. Các nhà khoa bảng Việt Nam. Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, 1993.

2. Đại Việt sử kí toàn thư .Nxb. KHXH, H. 1993./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009; tr. 322-328)

 

Phạm Minh Đức - Lê Thị Thông
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm