36. Nguyễn Mậu Kiến và nhà in Chiêm Bái đường (TBHNH 2005)
NGUYỄN MẬU KIẾN VÀ NHÀ IN CHIÊM BÁI ĐƯỜNG
NGUYỄN TÔ LAN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Nguyễn Mậu Kiến (1818-1879) hiệu là Kính Đài, người xã Động Trung (nay là Vũ Trung), huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Xuất thân từ gia đình dân thường nhưng trọng học, nên ông được đọc sách từ nhỏ vì vậy mà thông hiểu sách vở và có thực tài trên nhiều lĩnh vực. Đến tuổi trưởng thành vì có chân tuế cống nên ông được bổ vào làm Quốc tử giám sinh. Gặp năm đói kém ông nộp tiền ứng tuyển, được bổ làm quan Tứ phẩm(1). Biết ông học rộng, hiểu nhiều Phạm Văn Nghị và Doãn Khuê tiến cử ông với triều đình, ca ngợi ông có tài binh lược. Năm Tự Đức 20 (1867) ông được sát hạch rồi bổ làm Lang trung ở bộ Lại kiêm quản Bang biện Nam Định. Sau đó ông đổi đi làm Bang biện quân thứ Lạng Bình, thăng Án sát Quảng Yên, Lạng Sơn. Vì làm quan có nhiều công lao nên được thăng làm Quang lộc tự khanh. Sau đó vì có việc mà lạc chức, bị điều đi làm Hiệu lực ở Sơn phòng Hưng Hóa. Lại vì ông biết thiên văn, giỏi bói toán nên được triệu vào trực ở Thị vệ xứ, hay được vua hỏi đến. Vua cho rằng ông học tương đối rộng, tâu bày đều chính đáng nên cho khai phục làm Kiểm thảo ở Hàn lâm viện được hơn một năm thì đi khai khẩn ở sơn phòng. Ông mất năm 61 tuổi.
Nguyễn Mậu Kiến thường được biết đến với tư cách là một nhân sĩ yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX. Có nhiều tài liệu ghi lại quãng đời ông tham gia các hoạt động yêu nước, nhất là việc ông mộ quân năm Quí Dậu (1873) để chống Pháp. Hai con trai của ông là Nguyễn Hữu Bản, Nguyễn Hữu Cương tiếp nối lòng yêu nước của người cha, cũng đã tận tụy cống hiến và hi sinh cho đất nước. Sau khi Nguyễn Mậu Kiến mất, hai con ông bỏ ra hơn 100 mẫu ruộng để làm ruộng nuôi lính của làng, ai đi lính thì cấp cho. Thế nhưng ít người biết đến Mậu Kiến với tư cách là người sáng lập ra một nhà tàng bản và in sách có tiếng thời Nguyễn - Chiêm Bái đường. Điều đáng nói ở đây là tuy Nguyễn Mậu Kiến và Ân Quang Hầu Trần Công Hiến (? - 1816) cùng có tâm huyết với công việc in ấn sách vở, và cũng chỉ có nhà in do hai ông chủ trì được nhắc đến trong Đại Nam liệt truyện và một số sử liệu thời Nguyễn khác nhưng mới chỉ có nhà in của Trần Công Hiến được giới thiệu còn Chiêm Bái đường dường như không được đánh giá đúng với giá trị của nó.
Gia đình Nguyễn Mậu Kiến vốn đã có truyền thống sưu tập sách vở. Khi ông còn nhỏ nhà đã tàng trữ được hơn 300 bộ sách cổ(2). Bản thân Nguyễn Mậu Kiến cũng là người ham đọc. Có thể nói sinh thời, con đường hoạn lộ không phải là cứu cánh của đời ông mà chính là sự nghiệp biên soạn sách. Theo Đại Nam liệt truyện sách ông soạn ra gồm các tập: Kính Đài tập vịnh (2 quyển), Dịch lí tân biên (2 quyển), Chiêm thiên tham khảo (8 quyển) và Minh sử luận đoán khảo biện. Ngoài ra, ông còn hiệu đính bộ Chu Dịch chiết trung và viết tựa cho Độc thư lạc thú. Hiện nay, tác phẩm ông biên soạn chưa tìm thấy, chỉ có sách ông hiệu đính và viết tựa là vẫn còn.
Chiêm Bái đường được Nguyễn Mậu Kiến dựng nên tại nơi thờ Khổng Tử ở làng ông. Ông cho mời thợ đến khắc in sách, số lượng lên tới hàng vạn cuốn. Căn cứ vào các sách do Chiêm Bái đường in còn lưu giữ lại tại các thư viện lớn trong và ngoài nước ta biết được ít nhất nhà in này cũng đã khắc in những bộ như sau: Ngũ kinh khâm định, Ngũ tử Cận tư lục, Độc thư lạc thú. Ngoài ra, căn cứ vào một số ván in còn lưu giữ được ở Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II chúng ta còn biết nhà in này còn in sách Phiên dịch Thi kinh Quốc âm ca và Tam diệu pháp thiếp(3).
Ngũ kinh khâm định là tác phẩm do Văn uyển Nội các và Hàn lâm viện triều Thanh biên tập. Đây là một số đoạn văn tiêu biểu trích ra từ Ngũ kinh có kèm lời bàn và chú giải gồm 39 tập. Tập 1- 4: Chu Dịch chiết trung (22 quyển); Tập 5-9: Thư kinh truyện thuyết (25 quyển); Tập 10-17: Thư kinh truyện thuyết (25 quyển); Tập 18-30: Lễ kí nghĩa sớ (26 quyển); Tập 31-39: Xuân thu truyện thuyết (40 quyển). Sách này hiện được lưu trữ ở thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (TVHN) với kí hiệu AC.244/1-39. Một bộ phận của tập này là Chu Dịch chiết trung hiện tồn tại như một bản sách độc lập. Kí hiệu R.793 - R.840 tại thư viện Quốc gia (TVQG) cũng có 22 quyển. Cùng tên sách này ở thư viện Guinet, Paris còn có một bộ gồm 7 tập, 23 quyển, kí hiệu FC.30280-30286. Cả hai bản sách rời này được khắc cùng năm với bản Chu dịch chiết trung trong bộ Ngũ kinh khâm định, xuất phát từ cùng một bộ ván khắc.
Ngũ tử cận tư lục tập hợp tác phẩm của 5 nhà Tống Nho Trung Quốc là Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Trương Tái, Chu Hi. Sách do Tân An Uông Tinh Khê biên tập. Hiện lưu trữ tại thư viện Guinet, Paris kí hiệu 30254 - 30256.
Độc thư lạc thú do Ngũ Hiên Chi biên tập, Bĩnh Thấn Vĩnh Cổ và Bính Nhật Đán Hoa hiệu đính, Du Trường Thành viết tựa năm Càn Long Ất Sửu (1745), Nguyễn Mậu Kiến viết tựa cho lần in lại. Hiện được lưu trữ tại TVHN, kí hiệu VHv. 947/1-2. Đây là tuyển tập những câu danh ngôn nói về lợi ích của việc đọc sách xếp thành 7 mục: Đãng trung, Trừng tâm, Đam duyên, Di tình, Luận văn, Lệ nghiệp, Phẩm chi.
Chúng ta không cón nhiều tài liệu ghi chép về Chiêm Bái đường nhưng căn cứ vào những sách còn lại của nhà in này chúng ta có thể phác thảo được hoạt động của nó trong một quãng thời gian nhất định.
Mốc đầu tiên chúng ta biết được là năm 1863. Theo Ngũ kinh khâm định thì tác phẩm này được in lại năm Tự Đức thứ 13 (1860), năm đó Nguyễn Mậu Kiến 43 tuổi. Thời gian này ông vẫn chỉ làm chức quan Tứ phẩm (không rõ là chức gì). Trong năm 1860 này bộ Thư kinh truyện thuyết (khắc in theo bản in năm Ung Chính 8) đã được khắc in gồm 25 quyển, 2.318 trang. Năm tiếp theo, hai phần nữa trong bộ Ngũ kinh khâm định được khắc in là Chu Dịch chiết trung (22 quyển, 1938 trang. Bộ này ít nhất là được nhân bản hai lần. Một lần khác gồm 23 quyển nhưng chỉ còn 1408 trang cho đến nay); Thư kinh truyện thuyết (theo bản in năm Ung Chính 5) gồm 25 quyển, 3178 trang. Năm 1862, bộ Xuân thu truyện thuyết được khắc in 40 quyển, 3.734 trang. Năm 1864, cho in Ngũ tử cận tư lục gồm 3 tập, 598 trang. Năm 1868 bộ Độc thư lạc thú gồm 406 trang được khắc in. Như vậy, ít nhất hiện nay ta cũng biết được thời gian Chiêm Bái đường hoạt động tích cực nhất là vào giai đoạn từ năm 1860 đến năm 1864. trong thời gian này ít nhất như chúng ta còn được biết đã có 8032 trang in tương ứng với 8032 tấm ván khắc(3). Thời gian từ năm 1860 - 1866 không có tài liệu nào ghi chép ông làm chức quan gì và ở đâu. Có lẽ đây là lúc ông tập trung vào in sách chăng?. Đến năm 1867 ông được sát hạch rồi được bổ đi làm quan ở Nam Định, có lẽ vì việc quan bận rộn nên việc khắc in sách có phần không được như trước. Nhưng vì Nam Định và Thái Bình ở gần nhau nên ông vẫn có thể qua lại coi sóc việc in sách nên sách in ra tuy ít hơn những ông vẫn không bỏ việc in ấn này.
Các ván khắc do ông thuê thợ làm hầu như đều căn cứ vào các bản in đời Thanh như các bản in đời Khang Hi, Ung Chính, Càn Long v.v... Các bản in đời Thanh đã đạt đến trình độ chuẩn mực. Chỗ đặt địa điểm in ấn chính là nơi thờ Khổng Tử trong làng, năm 2004 chúng tôi về khảo sát chỉ thấy chỗ này hiện là một cái sân lớn. Theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Đoàn, hậu duệ của Nguyễn Mậu Kiến thì trước kia cụ Trần Văn Giáp có về đây ở một thời gian (khoảng chừng trên dưới 1 năm). Theo cụ kể lại thì các bản ván in ở đây là ván rất tốt, do các hiệp thợ Hải Dương thực hiện (nay, ông Nguyễn Tiến Đoàn vẫn giữ được một tấm, gỗ rất tốt, nét chữ khắc rất sắc sảo. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II hiện cũng giữ được một số ván khắc). Trong kháng chiến chống Pháp những ván này được dùng để lót hầm và rải đường cho xe đi. Cho đến năm 1950, số ván còn lại vẫn đủ để dân chẻ ra nấu rượu lậu trong vòng 2 năm mới hết. Cũng theo lời kể của ông Nguyễn Tiến Đoàn thì vua Tự Đức khi in sách Ngự chế, do không đủ ngân lượng nên đã đưa đến đây “nhờ” ông in. Ngoài ra, cũng theo lời ông Nguyễn Tiến Đoàn thì Chiêm Bái đường còn in một số sách như Đăng đàn bái tướng - một cuốn sách về binh thư, có một bản in, cụ Đinh Chương Dương mượn rồi sau bị đốt trong kháng chiến. Ngự chế thông uẩn toán pháp, trước do ông Nguyễn Công Thu - cháu nội cụ Nguyễn Mậu Kiến lưu giữ. Cụ Trần Văn Giáp cũng đã từng xem qua Tam diệu thiếp (hay Tam diệu pháp thiếp).
Căn cứ vào những bản in sách hiện còn ở thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi nhận thấy rằng chất lượng ván in ở đây rất tốt, nét chữ sắc, đẹp và tương đối đồng bộ. Hiện không thể biết được chính xác nhà in này đã khắc in bao nhiêu ván khắc, chỉ biết ít nhất là khoảng hơn 8000 ván in. Một số lượng ván in lớn như thế mà hiện nay chỉ còn lại một tấm thì thật là đáng tiếc. Rất may, một số sách hãy còn để chúng ta còn biết đến một nhà in lớn thời Nguyễn là Chiêm Bái đường và một người tâm huyết với nghiệp in sách như Nguyễn Mậu Kiến. Khác với Ân Quang hầu Trần Công Hiến, Nguyễn Mậu Kiến vốn xuất thân từ nhà dân thường, không theo đòi nghiệp cử tử và cũng không giữ chức cao trong triều hoặc oai trùm một trấn nhưng ông có một niềm tâm huyết với nghiệp in sách bởi theo như lời ông chép trong gia phả dòng họ thì “Có ruộng không thể cày cấy nhưng nếu chỉ để làm giàu riêng cho một người sao bằng làm của chung để chu cấp cho người già cả, ốm đau. Có sách không thể không đọc nhưng nếu chỉ chứa làm của báu cho một nhà sao bằng in ấn rộng rãi cho đời cùng học cùng nghiên cứu(4)”.
Chính bởi Nguyễn Mậu Kiến có tấm lòng vì nước vì dân như vậy nên khi ông mất, hương thân Thái Bình đã viếng ông đôi câu đối như sau:
不隨死而亡,書板百年伕世教
可謂生者恨,山防一事屈時英
Phiên âm:
“Bất tùy tử nhi vong, thư bản bách niên phù thế giáo
Khả vị sinh giả hận, sơn phòng nhất sự khuất thời anh”
Dịch nghĩa:
Không theo cái chết mà chết, ván in sách trăm năm còn nâng đỡ nền giáo hóa ở đời
Có thể nói người sống còn hận, một việc sơn phòng làm nhụt chí khí anh hùng của người đương thời.(5)
Qua một vài nét về Nguyễn Mậu Kiến và nhà in Chiêm Bái đường ở Thái Bình chúng tôi mong muốn một mặt cung cấp cho độc giả những tư liệu lịch sử về mảng hoạt động khác của Nguyễn Mậu Kiến ngoài những đóng góp của ông trong phong trào yêu nước. Mặt khác, chúng tôi cũng muốn nêu lên những đóng góp của một nhà in Việt Nam thời Nguyễn. Đáng tiếc là tư liệu còn lại không nhiều để chúng tôi có thể mô tả chi tiết hơn về hoạt động của nhà in này.
Chú thích:
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Tiến Đoàn: Điểm qua tình hình Hán Nôm ở Kiến Xương, Thông báo Hán Nôm học năm 1995, Nxb. KHXH, H. 1996, tr.78-79.
2. Đại Nam liệt truyện, Quốc sử quán triều Nguyễn, Bản dịch của Viện Sử học, Nxb. Thuận Hóa, Huế 1997, Tập 4.
3. Trần Văn Giáp (chủ biên): Lược truyện các tác gia Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 1971, Tập 1:
4. Trịnh Khắc Mạnh: Tên tự tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam, Nxb. KHXH, H. 2002.
5. Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Thắng- Nguyễn Bá Thế (chủ biên), Nxb. KHXH, 1991, 1094 tr.
6. Mộc bản triều Nguyễn đề mục tổng quan, Cục Văn thư lưu trữ Nhà nước, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Nxb. Văn hóa - Thông tin, H. 2004.
Thông báo Hán Nôm học 2005 (tr.356-362)