43. Nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc (trước năm 1949).
LƯỢC KHẢO VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÔNG NAM Á
CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC NĂM 1949
QUA CON MẮT CỦA MỘT HỌC GIẢ HIỆN ĐẠI
NGUYỄN TÔ LAN
Viện Ngiên cứu Hán Nôm
2. Ghi chép về những điều tai nghe mắt thấy của các nhà tu hành đi sang phía Tây để cầu pháp. Trong những thành quả nghiên cứu thuộc loại này chủ yếu có cuốn Phật quốc kí 佛国记của Pháp Hiển, Nam Hải kí qui nội pháp truyện 南海寄归内法传 và Đời Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện 大唐西法高僧传 của Nghĩa Tịnh.
3. Ghi chép về hành trình và hồi ức của các nhà hàng hải, du lịch. Như Uông Đại Uyên người đời Nguyên vào khoảng đầu thế kỉ XIV đã từng hai lần theo thuyền đi thăm các nước ở vùng biển đông, biển tây, sau khi về nước, vào năm 1349 viết Đảo di chí lược 岛夷志略; các sách Hải lục 海录của nhà hàng hải đời Thanh là Tạ Thanh Cao; Hải đảo dật chí 海岛逸志của Vương Đại Hải; Tân Gia Ba(2) phong thổ kí 新加坡风土记của Lí Chung Ngọc v.v…
4. Những sách nghiên cứu chuyên biệt do những người làm công tác đối ngoại hoặc nhiều người tiếp xúc với sử liệu liên quan đến Đông Nam Á biên soạn. Sách loại này khá nhiều. Trong đó nổi tiếng nhất là tác phẩm Lĩnh ngoại đại đáp 岭外代答 của Chu Khứ Phi và Chư phiên chí 诸番志của Triệu Nhữ Quát đời Tống. Còn có tác phẩm Tây đông dương khảo 西東洋考của Trương Tiếp đời Minh. Ngoài ra, có các tác phẩm đời Minh như Tây dương triều cống điển lục 西洋朝贡典录của Hoàng Sảnh(3) Tăng, Hoàng Minh tứ di khảo 皇明四夷考của Trịnh Hiểu, Hoàng Minh Tượng Tư lục 皇明象胥录của Mao Đoan Chinh, Thù vực chu tư lục 殊域周咨录của Nghiêm Tòng Giản cho đến các tác phẩm đời Thanh như Hải quốc văn kiến lục 海国闻见錄 của Trần Luân Quýnh, Hải quốc đồ chí 海国图志và Thánh vũ kí 圣武记của Ngụy Nguyên
Những điều vừa trình bày ở trên đã cho thấy rõ các học giả Trung Quốc cổ đại đã thực sự đạt những thành quả to lớn trong nghiên cứu Đông Nam á.
Đầu thế kỉ XX, do tình hình cục diện thế giới biến đổi khôn lường mà việc nghiên cứu Đông Nam á của Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng nhất định, nhưng có một số học giả như Đinh Khiêm, La Chấn Ngọc, Thẩm Tăng Thực trong hoàn cảnh khó khăn như vậy vẫn đem những chuyên thư liên quan đến sử địa Đông Nam á thu thập vào thành tập san, tiến hành khảo chứng về lịch sử, địa lý Đông Nam á. Tháng 4 năm 1921, lập nên tuần san Kiều Vụ. Trụ sở chính của tuần san này đặt ở Bắc Kinh, chi nhánh đặt tại Thượng Hải, ngoài ra có thiết lập chi nhánh ngoài nước tại các địa phương ở Đông Nam á như phía bắc Gia Lý Mạn Đan, phía nam Gia Lý Mạn Đan, Cát Lục Ba cho đến Chi Gia Ca(4) ở Mỹ. Tuần san Kiều Vụ tổng cộng ra được 141 kỳ, duy trì liên tục trong vòng 4 năm.
Tính đến cuối thập niên 20 của thế kỉ XX, thì Nam Dương(5) Văn hóa sự nghiệp bộ của trường Đại học Ký Nam là tổ chức học thuật nghiên cứu Đông Nam á có quy mô tương đối lớn đầu tiên với biên chế ban đầu gồm có 1 Chủ nhiệm (tương đương với Chủ nhiệm khoa ở trường Đại học), 1 thư ký, nhiều biên tập và biên tập đặc cấp, lúc đông nhất lên đến hơn 30 người, người giữ cương vị chủ nhiệm đầu tiên là Lưu Sĩ Lâm người Quảng Đông, tổng cộng đã giữ cương vị này được 8 năm. Bộ(6) này xuất bản 2 loại ấn phẩm là tập san theo kì và tùng thư. Tập san theo kì có Nam Dương nghiên cứu 南洋研究và Nam Dương tình báo南洋情报. Nam Dương nghiên cứu 南洋研究 xuất bản được 11 quyển, cộng khoảng 61 kỳ. Nam Dương tình báo 南洋情报chỉ được biên soạn in ấn trong một khoảng thời gian ngắn. Tùng thư có Nam Dương tùng thư 南洋丛书, xuất bản được hơn 32 loại. Các nhân viên trong bộ có Lý Trường Phó, Diêu Nam, Tô Càn Anh sau này tiếp tục nghiên cứu Đông Nam á đạt được những thành tựu rực rỡ. Lý Trường Phó biên soạn các quyển Hoa kiều 华侨, Nam Dương sử cương yếu 南洋史纲要, Nam Dương Hoa kiều sử 南洋华侨史, Trung Quốc thực dân sử 中国殖民史, Phỉ Luật Tân(7) sử 菲律宾史.Diêu Nam sống ở Tân Gia Ba nhiều năm, sau đó về nước làm nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á hơn 60 năm, sách biên soạn và biên dịch rất nhiều, sách biên dịch nhiều hơn sách biên soạn. Tô Càn Anh từng tham gia công tác biên tập Nam Dương nghiên cứu 南洋研究, viết sách Trung Quốc Nam Hải quan hệ sử liệu thuật lược 中国南海关系史料述略.
Lúc bấy giờ, còn có hai cuốn sách được công nhận là khá có giá trị, một là cuốn Nam Dương Hoa kiều thông sử 南洋华侨通史 do Ôn Hùng Phi viết, một là cuốn Hoa kiều trung tâm chi Nam Dương 华侨中心之南洋 do Trương Tương Thời biên soạn.
Vào thập niên 30, 40 của thế kỉ XX, 3 vị Giáo sư Phùng Thừa Quân, Trương Tinh Lãng và Hướng Đạt Tam (còn được gọi là “Bắc Đại tam kiệt”) được coi là những người có uy tín nhất trong nghiên cứu Tây Vực, Nam Hải của Trung Quốc (bao gồm cả Đông Nam Á). Thành quả (nghiên cứu) của Phùng Thừa Quân có: Trung Quốc Nam Dương giao thông sử中国南洋交通史, Chư phiên chí hiệu chú诸蕃志校注, Doanh nhai thắng lãm hiệu chú瀛涯胜览校注, Tinh sà thắng lãm hiệu chú星槎胜览校注, Mã Khả - Ba La du kí马可- 波罗游记, Chiêm Bà sử 占婆史, Tô Môn Đp Lạp cổ quốc khảo苏门答腊(8)古国考, Côn Lôn cập Nam Hải cổ đại hàng hải khảo 昆仑及南海古代航海考cho đến Tây Vực Nam Hải sử địa khảo chứng dịch tòng 西域南海史地考证译丛. Tác phẩm của Trương Tinh Lãng có Trung Tây giao thông sử liệu hội biên 中西料汇编 (6 quyển) rất có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc và nước ngoài (bao gồm cả quan hệ của Trung Quốc và Đông Nam Á). Kết quả nghiên cứu của Hướng Đạt Tam có: Man thư hiệu chú 蛮书校注, Đường đại Trường An dữ Tây Vực văn minh唐代长安与西明; Tây dương phiên quốc chí hiệu chú 西番国志校, Trịnh Hòa hàng hải đồ 郑和航海图, Lưỡng chủng hải đạo châm kinh 两种海道针经.
Ngày 17 tháng 3 năm 1940, những trí thức Hoa kiều sinh sống ở Tân Gia Ba có nhiệt tâm nghiên cứu Đông Nam Á là Diêu Nam, Lưu Sĩ Lâm, Lý Trường Phó, Quan Sở Phác, Trương Lễ Thiên, Úc Đạt Phu và Hứa Vân Tiêu đã tổ chức một hội nghị tại lầu Nam Thiên Tửu ở Tân Gia Ba, tuyên bố thành lập Học hội Nam Dương. Việc thành lập (học hội) của họ đã biểu lộ ý chí đưa công cuộc nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc bước vào một giai đoạn mới.
Trong các hội viên của Học hội Nam Dương, người có nhiều thành tựu trong việc biên dịch và biên soạn nhất là chính là một trong số những người tham gia sáng lập học hội - Hứa Vân Tiêu, những nghiên cứu liên quan đến Đông Nam Á của học giả này lên đến hơn 20 quyển như: Xiêm La(9) Vương Trịnh Chiêu truyện 暹罗王郑昭传, Bắc Đại niên sử北大年史, Mã Lai(10) kỷ niên 马来纪年, An Nam thông sử 安南通史, Nam Dương sử 南洋史, Mã Lai Á sử 马来亚史 (hai quyển thượng, hạ), Mã Lai Á cận đại sử 马来亚近(hai quyển thượng, hạ), Nam Dương văn hiến tự lục trường biên 南洋文献叙录长编 (ba quyển thượng, trung, hạ), Tân Gia Ba 150 niên đại sự ký 新加坡 150 年大事记, Từ Chung Nam phư?ng thảo mộc trạng tập chú 徐衷木状辑, Khang Thái Ngô thời ngoại quốc truyện tập chú 康泰吴时外国传辑注. Thứ hai là Diêu Nam, người cú cụng sỏng lập và gõy dựng tổ chức. ễng sau khi trở về nước vỡ chiến tranh ở Thái Bình Dương bùng phát đó về làm việc tại Bộ Nghiên cứu Đông Nam Á, tác phẩm biên soạn, biên dịch chủ yếu là: Thập thất thế kỉ Nam Dương quần đảo hàng hải kí lưỡng chủng 十七世纪南洋群岛航海记两种, Đông Ấn Độ hàng hải kí 东印度航海记, Anh thuộc Mã Lai Á sử luận 英属马来亚史论, Miến Điện11) sử 缅甸史, Mã Lai Á sử 马来亚史, Cổ đại Nam Dương sử địa tùng khảo古代南洋史地丛考, Tân Lang Dữ chí lược槟榔屿(12)志略, Mã Lai Á Hoa kiều sử cương yếu 马来亚华侨史纲要, Trung Nam bán đảo Hoa kiều sử cương yếu 中南半岛华侨史纲要, Chiến hậu Nam Dương kinh tế vấn đề 战后南洋经济问, Chiến hậu Đông Nam Á sử 战后东南亚史, Đông Nam Á lịch sử phát triển东南亚历史发展, Tinh vân lang vũ tập 星云榔雨, Hải đảo dật chí hiệu chú 海岛逸志校注, Nam thiên dư mặc南天余墨, ước chừng 20 cuốn. Tác phẩm của một trong những người khởi xướng việc thành lập hội - Trương Lễ Thiên gồm các quyển: Anh thuộc Mã Lai Á địa lý 英属马来亚地理, Mã Lai Á lịch sử khái yếu 马来亚历史概要, Lai Phật Sĩ truyện 莱佛士传, Mã Lục Giáp sử 马六甲史và Nam Dương bán đảo 南洋半岛.
Sau khi kháng chiến chống Nhật kết thúc, Sở Nghiên cứu Nam Dương tại Trùng Khánh được trường quốc lập Chuyên khoa ngữ văn Đông phương tiếp quản, hai người sáng lập nên Học hội Nam Dương phụ trách những cương vị chủ yếu của trường. Trường quốc lập Chuyên khoa ngữ văn Đông phương được thành lập vào tháng 11 năm 1942, trường nằm ở Trình Cống, Vân Nam. Đây là trường Trung cấp đào tạo theo niên khóa 3 năm, mở ra các khoa ngôn ngữ các nước Miến, Thái, Việt, Mã Lai, Triều Tiên v.v. Về chương trình giảng dạy có lịch sử Nam Dương, lịch sử Hoa kiều Nam Dương, tình hình Nam Dương, địa lí Nam Dương, ngoài còn lập phòng nghiên cứu. Sau khi kháng chiến thắng lợi, trụ sở chuyển về Trùng Khánh. Năm 1946 chuyển về Nam Kinh. Trường Chuyên khoa ngữ văn Đông Phương hoạt động giảng dạy trong 8 năm đã bồi dưỡng không ít nhân tài trong lĩnh vực nghiên cứu Đông Nam á của Trung Quốc. Năm 1949, trường sát nhập vào khoa Đông ngữ, Đại học Bắc Kinh, trường đã trở thành lực lượng cốt cán dựng nên khoa này.
Năm 1949, cách mạng nhân dân Trung Hoa thành công, mở một trang sử mới cho dân tộc Trung Hoa và nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc cũng bước sang một giai đoạn mới, đến nay lĩnh vực nghiên cứu này ngày càng mở rộng và thu được nhiều thành tựu có giá trị cao.
Chú thích:
(11) Miến Điện: Myanma hay Burma.
(12) Penang./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.431-438)