VI | EN
43. Nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc (trước năm 1949).
tb2006

LƯỢC KHẢO VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÔNG NAM Á
CỦA TRUNG QUỐC TRƯỚC NĂM 1949
QUA CON MẮT CỦA MỘT HỌC GIẢ HIỆN ĐẠI

NGUYỄN TÔ LAN

Viện Ngiên cứu Hán Nôm

Đông Nam Á trong đó có Việt Nam từ trong lịch sử đã sớm được các học giả Trung Quốc lịch đại chú ý nghiên cứu từ nhiều khía cạnh và giác độ khác nhau. Di sản văn hóa Trung Quốc đồ sộ và vĩ đại, thư tịch cổ tuy đã bị mất mát nhiều nhưng số lượng còn lưu lại cho đến ngày nay cũng thật khổng lồ, trong đó khối lượng nghiên cứu về Đông Nam Á cũng rất phong phú và đa dạng. Trước tình hình đó, việc tổng kết, phân loại các tài liệu nghiên cứu về Đông Nam Á là một việc làm cần thiết và hữu ích.

Vương Giới Nam, sinh năm 1943 hiện là Giáo sư Học viện Quan hệ quốc tế Nam Kinh, Phó Tổng Thư kí Hội Nghiên cứu Đông Nam Á Trung Quốc, Hội viên Hiệp hội tác gia tỉnh Giang Tô, Hội viên Hội Nghiên cứu văn hóa phương Đông Trung Quốc v.v... trong công trình nghiên cứu của mình mang tên Trung Quốc dữ Đông Nam Á văn hóa giao lưu chí, đã dành một phần để khảo riêng về các thành tựu nghiên cứu Đông Nam Á từ thượng cổ đến hiện đại. Tác phẩm này là một chuyên khảo trong bộ sách Trung Hoa văn hóa thông chí, phần Trung ngoại giao lưu điển, do Thượng Hải Nhân dân Xuất bản xã xuất bản tại Thượng Hải năm 1998.

Nhận thấy đây là một chuyên khảo bao quát được hầu hết lịch sử nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc, không những đã cung cấp thông tin về soạn giả, các bộ sách nghiên cứu mà còn giới thiệu về các tổ chức nghiên cứu, xuất bản, các học hội v.v... cách phân loại các nghiên cứu khoa học và rõ ràng giúp người đọc dễ hình dung nên chúng tôi xin được lược dẫn những nghiên cứu này nhằm giới thiệu cho bạn đọc và những học giả quan tâm. Nghiên cứu của tác giả bao gồm hai phần: Nghiên cứu Đông Nam Á trước năm 1949 và sau năm 1949, nhưng chúng tôi chỉ xin đề cập đến phần nghiên cứu Đông Nam Á trước năm 1949 vì phần này phản ánh các tài liệu, thư tịch cổ liên quan trực tiếp đến nghiên cứu Hán Nôm và các thư tịch Hán Nôm Việt Nam.

Đầu tiên, là những nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Trung Quốc cổ đại(1). Trước khi có các chuyên khảo nghiên cứu riêng về Đông Nam Á thì những khảo sát, ghi chép và nghiên cứu về khu vực này đã sớm được đề cập trong các thư tịch khác như chính sử, thực lục, loại thư, hồ sơ, địa phương chí v.v... Tác giả Vương Giới Nam chia những thành quả nghiên cứu này thành 04 loại:

1. Bút kí hoặc hồi ức của các sứ giả được phái ra nước ngoài và tùy tòng như Chu Ứng, Khang Thái đời Tam Quốc được Tôn Quyền phái đến biển nam, sau khi về nước, Chu Ứng viết Phù Nam dị vật ký 扶南物记, Khang Thái viết Ngô thời ngoại quốc truyện 吴时外国传. Đời Nguyên, Chu Đạt Quan vào cuối thế kỷ thứ XVIII theo đoàn sứ giả do Nguyên Thành Tông (1294-1360) phái đi đến Chân Lạp, ở đó 1 năm, sau khi về nước viết cuốn Chân Lạp phong thổ kí真腊风土记, phản ánh tình hình thời đại Ngô Ca. Đời Minh có Mã Hoan, Phí Tín, Củng Trân theo đoàn của Trịnh Hòa đi Tây dương, lúc về mỗi người đều soạn một bộ sách. Cuốn Doanh nhai thắng lãm 瀛涯胜览của Mã Hoan, Tinh sà thắng lãm 星槎胜览của Phí Tín và Tây dương phiên quốc chí 西洋番国志 của Củng Trân đều là tư liệu quý giá để nghiên cứu Đông Nam Á trung thế kỉ.

2. Ghi chép về những điều tai nghe mắt thấy của các nhà tu hành đi sang phía Tây để cầu pháp. Trong những thành quả nghiên cứu thuộc loại này chủ yếu có cuốn Phật quốc kí của Pháp Hiển, Nam Hải kí qui nội pháp truyện Đời Đường Tây Vực cầu pháp cao tăng truyện 西 của Nghĩa Tịnh.

3. Ghi chép về hành trình và hồi ức của các nhà hàng hải, du lịch. Như Uông Đại Uyên người đời Nguyên vào khoảng đầu thế kỉ XIV đã từng hai lần theo thuyền đi thăm các nước ở vùng biển đông, biển tây, sau khi về nước, vào năm 1349 viết Đảo di chí lược ; các sách Hải lục của nhà hàng hải đời Thanh là Tạ Thanh Cao; Hải đảo dật chí của Vương Đại Hải; Tân Gia Ba(2) phong thổ kí của Lí Chung Ngọc v.v…

4. Những sách nghiên cứu chuyên biệt do những người làm công tác đối ngoại hoặc nhiều người tiếp xúc với sử liệu liên quan đến Đông Nam Á biên soạn. Sách loại này khá nhiều. Trong đó nổi tiếng nhất là tác phẩm Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi và Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát đời Tống. Còn có tác phẩm Tây đông dương khảo 西của Trương Tiếp đời Minh. Ngoài ra, có các tác phẩm đời Minh như Tây dương triều cống điển lục 西của Hoàng Sảnh(3) Tăng, Hoàng Minh tứ di khảo của Trịnh Hiểu, Hoàng Minh Tượng Tư lục của Mao Đoan Chinh, Thù vực chu tư lục của Nghiêm Tòng Giản cho đến các tác phẩm đời Thanh như Hải quốc văn kiến lục của Trần Luân Quýnh, Hải quốc đồ chí Thánh vũ kí của Ngụy Nguyên

Những điều vừa trình bày ở trên đã cho thấy rõ các học giả Trung Quốc cổ đại đã thực sự đạt những thành quả to lớn trong nghiên cứu Đông Nam á.

Đầu thế kỉ XX, do tình hình cục diện thế giới biến đổi khôn lường mà việc nghiên cứu Đông Nam á của Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng nhất định, nhưng có một số học giả như Đinh Khiêm, La Chấn Ngọc, Thẩm Tăng Thực trong hoàn cảnh khó khăn như vậy vẫn đem những chuyên thư liên quan đến sử địa Đông Nam á thu thập vào thành tập san, tiến hành khảo chứng về lịch sử, địa lý Đông Nam á. Tháng 4 năm 1921, lập nên tuần san Kiều Vụ. Trụ sở chính của tuần san này đặt ở Bắc Kinh, chi nhánh đặt tại Thượng Hải, ngoài ra có thiết lập chi nhánh ngoài nước tại các địa phương ở Đông Nam á như phía bắc Gia Lý Mạn Đan, phía nam Gia Lý Mạn Đan, Cát Lục Ba cho đến Chi Gia Ca(4) ở Mỹ. Tuần san Kiều Vụ tổng cộng ra được 141 kỳ, duy trì liên tục trong vòng 4 năm.

Tính đến cuối thập niên 20 của thế kỉ XX, thì Nam Dương(5) Văn hóa sự nghiệp bộ của trường Đại học Ký Nam là tổ chức học thuật nghiên cứu Đông Nam á có quy mô tương đối lớn đầu tiên với biên chế ban đầu gồm có 1 Chủ nhiệm (tương đương với Chủ nhiệm khoa ở trường Đại học), 1 thư ký, nhiều biên tập và biên tập đặc cấp, lúc đông nhất lên đến hơn 30 người, người giữ cương vị chủ nhiệm đầu tiên là Lưu Sĩ Lâm người Quảng Đông, tổng cộng đã giữ cương vị này được 8 năm. Bộ(6) này xuất bản 2 loại ấn phẩm là tập san theo kì và tùng thư. Tập san theo kì có Nam Dương nghiên cứu 南洋研究Nam Dương tình báo. Nam Dương nghiên cứu xuất bản được 11 quyển, cộng khoảng 61 kỳ. Nam Dương tình báo chỉ được biên soạn in ấn trong một khoảng thời gian ngắn. Tùng thư có Nam Dương tùng thư , xuất bản được hơn 32 loại. Các nhân viên trong bộ có Lý Trường Phó, Diêu Nam, Tô Càn Anh sau này tiếp tục nghiên cứu Đông Nam á đạt được những thành tựu rực rỡ. Lý Trường Phó biên soạn các quyển Hoa kiều , Nam Dương sử cương yếu , Nam Dương Hoa kiều sử , Trung Quốc thực dân sử , Phỉ Luật Tân(7) sử .Diêu Nam sống ở Tân Gia Ba nhiều năm, sau đó về nước làm nghiên cứu lịch sử Đông Nam Á hơn 60 năm, sách biên soạn và biên dịch rất nhiều, sách biên dịch nhiều hơn sách biên soạn. Tô Càn Anh từng tham gia công tác biên tập Nam Dương nghiên cứu , viết sách Trung Quốc Nam Hải quan hệ sử liệu thuật lược .

Lúc bấy giờ, còn có hai cuốn sách được công nhận là khá có giá trị, một là cuốn Nam Dương Hoa kiều thông sử do Ôn Hùng Phi viết, một là cuốn Hoa kiều trung tâm chi Nam Dương do Trương Tương Thời biên soạn.

Vào thập niên 30, 40 của thế kỉ XX, 3 vị Giáo sư Phùng Thừa Quân, Trương Tinh Lãng và Hướng Đạt Tam (còn được gọi là “Bắc Đại tam kiệt”) được coi là những người có uy tín nhất trong nghiên cứu Tây Vực, Nam Hải của Trung Quốc (bao gồm cả Đông Nam Á). Thành quả (nghiên cứu) của Phùng Thừa Quân có: Trung Quốc Nam Dương giao thông sử中国南洋交通史, Chư phiên chí hiệu chú诸蕃志校注, Doanh nhai thắng lãm hiệu chú瀛涯胜览校注, Tinh sà thắng lãm hiệu chú星槎胜览校注, Mã Khả - Ba La du kí马可- 波罗游记, Chiêm Bà sử 占婆史, Tô Môn Đp Lạp cổ quốc khảo苏门答腊(8)古国考, Côn Lôn cập Nam Hải cổ đại hàng hải khảo cho đến Tây Vực Nam Hải sử địa khảo chứng dịch tòng 西域南海史地考证译丛. Tác phẩm của Trương Tinh Lãng có Trung Tây giao thông sử liệu hội biên 西 (6 quyển) rất có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu lịch sử quan hệ giữa Trung Quốc và nước ngoài (bao gồm cả quan hệ của Trung Quốc và Đông Nam Á). Kết quả nghiên cứu của Hướng Đạt Tam có: Man thư hiệu chú 蛮书校注, Đường đại Trường An dữ Tây Vực văn minh西; Tây dương phiên quốc chí hiệu chú 西, Trịnh Hòa hàng hải đồ , Lưỡng chủng hải đạo châm kinh 两种海道针经.

Ngày 17 tháng 3 năm 1940, những trí thức Hoa kiều sinh sống ở Tân Gia Ba có nhiệt tâm nghiên cứu Đông Nam Á là Diêu Nam, Lưu Sĩ Lâm, Lý Trường Phó, Quan Sở Phác, Trương Lễ Thiên, Úc Đạt Phu và Hứa Vân Tiêu đã tổ chức một hội nghị tại lầu Nam Thiên Tửu ở Tân Gia Ba, tuyên bố thành lập Học hội Nam Dương. Việc thành lập (học hội) của họ đã biểu lộ ý chí đưa công cuộc nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc bước vào một giai đoạn mới.

Trong các hội viên của Học hội Nam Dương, người có nhiều thành tựu trong việc biên dịch và biên soạn nhất là chính là một trong số những người tham gia sáng lập học hội - Hứa Vân Tiêu, những nghiên cứu liên quan đến Đông Nam Á của học giả này lên đến hơn 20 quyển như: Xiêm La(9) Vương Trịnh Chiêu truyện 暹罗王郑昭传, Bắc Đại niên sử北大年史, Mã Lai(10) kỷ niên , An Nam thông sử , Nam Dương sử , Mã Lai Á sử (hai quyển thượng, hạ), Mã Lai Á cận đại sử (hai quyển thượng, hạ), Nam Dương văn hiến tự lục trường biên (ba quyển thượng, trung, hạ), Tân Gia Ba 150 niên đại sự ký 150 大事, Từ Chung Nam phư?ng thảo mộc trạng tập chú , Khang Thái Ngô thời ngoại quốc truyện tập chú 康泰吴时外国传辑注. Thứ hai là Diêu Nam, người cú cụng sỏng lập và gõy dựng tổ chức. ễng sau khi trở về nước vỡ chiến tranh ở Thái Bình Dương bùng phát đó về làm việc tại Bộ Nghiên cứu Đông Nam Á, tác phẩm biên soạn, biên dịch chủ yếu là: Thập thất thế kỉ Nam Dương quần đảo hàng hải kí lưỡng chủng 十七世纪南洋群岛航海记两种, Đông Ấn Độ hàng hải kí , Anh thuộc Mã Lai Á sử luận , Miến Điện11) sử 甸史, Mã Lai Á sử 马来, Cổ đại Nam Dương sử địa tùng khảo古代南洋史地丛考, Tân Lang Dữ chí lược屿(12), Mã Lai Á Hoa kiều sử cương yếu , Trung Nam bán đảo Hoa kiều sử cương yếu , Chiến hậu Nam Dương kinh tế vấn đề , Chiến hậu Đông Nam Á sử 战后东南亚史, Đông Nam Á lịch sử phát triển, Tinh vân lang vũ tập , Hải đảo dật chí hiệu chú , Nam thiên dư mặc南天余墨, ước chừng 20 cuốn. Tác phẩm của một trong những người khởi xướng việc thành lập hội - Trương Lễ Thiên gồm các quyển: Anh thuộc Mã Lai Á địa lý , Mã Lai Á lịch sử khái yếu , Lai Phật Sĩ truyện , Mã Lục Giáp sử Nam Dương bán đảo .

Sau khi kháng chiến chống Nhật kết thúc, Sở Nghiên cứu Nam Dương tại Trùng Khánh được trường quốc lập Chuyên khoa ngữ văn Đông phương tiếp quản, hai người sáng lập nên Học hội Nam Dương phụ trách những cương vị chủ yếu của trường. Trường quốc lập Chuyên khoa ngữ văn Đông phương được thành lập vào tháng 11 năm 1942, trường nằm ở Trình Cống, Vân Nam. Đây là trường Trung cấp đào tạo theo niên khóa 3 năm, mở ra các khoa ngôn ngữ các nước Miến, Thái, Việt, Mã Lai, Triều Tiên v.v. Về chương trình giảng dạy có lịch sử Nam Dương, lịch sử Hoa kiều Nam Dương, tình hình Nam Dương, địa lí Nam Dương, ngoài còn lập phòng nghiên cứu. Sau khi kháng chiến thắng lợi, trụ sở chuyển về Trùng Khánh. Năm 1946 chuyển về Nam Kinh. Trường Chuyên khoa ngữ văn Đông Phương hoạt động giảng dạy trong 8 năm đã bồi dưỡng không ít nhân tài trong lĩnh vực nghiên cứu Đông Nam á của Trung Quốc. Năm 1949, trường sát nhập vào khoa Đông ngữ, Đại học Bắc Kinh, trường đã trở thành lực lượng cốt cán dựng nên khoa này.

Năm 1949, cách mạng nhân dân Trung Hoa thành công, mở một trang sử mới cho dân tộc Trung Hoa và nghiên cứu Đông Nam Á của Trung Quốc cũng bước sang một giai đoạn mới, đến nay lĩnh vực nghiên cứu này ngày càng mở rộng và thu được nhiều thành tựu có giá trị cao.

Chú thích:

(1) Khái niệm này chúng tôi dùng theo tác giả Vương Giới Nam để chỉ những nghiên cứu trước thế kỉ XX.

(2) Tân Gia Ba: Singapore.

(3) còn có âm khác là "tỉnh"

(4) Chicago.

(5) Chỉ quần đảo Nam Dương tức tên gọi khác của quần đảo Inđônêxia.

(6) Tức Nam Dương văn hóa sự nghiệp bộ.

(7) Phi Luật Tân: Philipin.

(8) Sumatra.

(9) Xiêm La: Thái Lan.

(10) Mã Lai = Mã Lai Á: Malayxia.

(11) Miến Điện: Myanma hay Burma.

(12) Penang./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.431-438)

Nguyễn Tô Lan (lược dịch)
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm