VI | EN
45. Về bài Bình Man tự (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

VỀ BÀI KÝ BÌNH MAN TỰ

TRẦN THỊ THANH

Trường Đại học Khoa học Huế

1. Vài nét về bài ký Bình Man tự

Trong dịp đi thực tập tại huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, một nhóm sinh viên Hán Nôm K31 Trường Đại học Khoa học Huế đã được Sở Văn hóa tỉnh Quảng Ngãi cho phép sưu tầm các văn bản Hán Nôm. Trong số vài trăm đơn vị văn bản (bao gồm sắc phong, câu đối, hoành phi, văn bia) thì tấm văn bia Bình Man tự ký nằm ở địa bàn xã Tư Nghĩa, dựng trong chùa Thạch Sơn (chùa Thạch Sơn do con trai của Nguyễn Tấn là Nguyễn Thân xây dựng ở gần nền đất chùa Bình Man) là một văn bản có giá trị cả về nội dung và nghệ thuật. Do vậy, trong lần Hội nghị thông báo Hán Nôm năm nay, chúng tôi xin giới thiệu tấm văn bia này.

Bia Bình Man tự ký được dựng ở chùa Thạch Sơn trên đỉnh núi Phú Thọ. Thân bia cao 116cm rộng 80cm, trán bia được khắc hình lưỡng long chầu nguyệt, riềm bia trang trí hình cánh sen và hoa lá cách điệu. Bia được đặt trên một khối đá xanh hình chữ nhật cao 45cm, dài 100cm, rộng 32cm. Đây là văn bia được Nguyễn Thân, Nguyễn Văn (con của Nguyễn Tấn) và cháu đích tôn là Nguyễn Kế khắc lại bài ký mà ông đã viết.

Bình Man tự ký là một bài ký hay, vừa nói được nguyên khởi của việc xây chùa, vừa miêu tả được cảnh đẹp của địa thế. Đặc biệt hơn thông qua bài ký, người đời sau có thể hiểu được tình hình chính trị dưới thời Gia Long, Tự Đức ở vùng đất biên viễn xa xôi này. Là địa bàn của cư dân người Chăm sinh sống, khi mở cõi về phương Nam, nhà Nguyễn đã mất nhiều công sức để thiết lập sự bình ổn. Vùng đất huyện Tư Nghĩa trước kia (thế kỷ XV thuộc lộ Thăng Hoa) thuộc phần đất Cổ Lũy Động của Chiêm Thành. Với địa thế hiểm yếu có nhiều núi đá cao và nhiều sông suối, đây chính là địa bàn thuận lợi cho người man (là những người văn minh kém hay làm càn) hoạt động quấy phá. Chính vì vậy để đất nước được yên ổn, thời Gia Long nhà Nguyễn đã đặt ra một chức quan, xây một cái thành nhỏ để trấn giữ rồi khống chế người man. Đến đời Tự Đức thứ 19, nơi đây được xây dựng thành một thị trấn nhỏ để du lịch (bởi đây là một trong 10 thắng cảnh ở hai châu Tư, Nghĩa) rồi phái binh trấn giữ rồi xây dựng thành một vùng dân cư trù phú. Người viết bài ký này chính là người đã có công lớn trong việc bình man dưới thời Tự Đức nên được phong là Lễ Bộ Thượng thư.

Tuy Nguyễn Thân là một đại thần của nhà Nguyễn, tuân chỉ lệnh của nhà vua đi dẹp loạn ở phía Nam, nhưng lòng yêu văn chương, yêu hòa bình, yêu cái đẹp của ông vẫn là điều cốt lõi. Do vậy ông học theo chí của Liễu Tông Nguyên, đề cao văn chương của Hàn Dũ, khâm phục nhân cách của Hàn Dũ khi đi làm Thứ sử ở Viên Châu (nay là huyện Nghi Xuân tỉnh Quảng Châu - Trung Quốc). Thông cảm với nỗi khổ của người dân vùng biên viễn Nguyễn Thân giống Hàn Dũ đã thâm nhập vào cuộc sống của họ, thăm hỏi tìm hiểu cuộc sống cực khổ của dân, giúp dân loại bỏ được tập tục xấu, ngăn chặn được hành động quấy phá, xây dựng được cuộc sống mới cho dân yên vui. Việc xây chùa “Bình Man tự” cũng là ý thức về một sự hòa bình êm ấm để dưới cửa bà sa bồ đề không còn cảnh chém giết nữa. Đây cũng là một thông điệp mang tính muôn đời muốn gửi đến cho con người.

2. Dịch nghĩa, chú giải bài Bình Man tự ký

Chính văn:

平 蠻 寺記

古來佛寺之設大意有三:有祈福,有志勝,有記事.祈福者,固滿天下者也.而非吾儒之所樂為.若吾省之天印,承府之天台,平定之靈峰,寧平之碧峒志其勝也.

陳大儒范公五老平吳凱還建平吳寺.黎進士黎公如虎奉使如明蒙封國師,回軺建國師寺,皆記事也.誠予之所願學而未有可因之机.嗣德癸亥冬,予奉旨南回征剿,省轄上游諸山川予之輪蹄殆在而予之寓,目會心亦歷,惟石像一境橫山列乎.西大山鎮乎,北蠻賓山居乎,東南廉水一帶迂迴屈曲.于其間宸而登臨眺望則西通蠻境,東達民居,北連一二兩奇 蠻,南界三五兩奇汛.辰而散步遊觀,則山高水深,林幽石滑,水流激石依然鍾磬之聲.風遏鳴條宛妳笙簧之韻.吾閫中之最要衝大形勢好景致此地.蓋廉之矣,皇朝嘉隆年間鎮官曾設奇堡于此.欲以扼蠻,尋為蠻扼而堡,遂廢惡獸惡蠻,復據此而為巢穴者.幾五十年于斯,予每巡邊經遏未常不繾綣而為此江山持也.嗣德十九年擬設游堡于此地,派兵以守之.又扼要伏截披山通道徒此荒者.闢險者夷橫山大嶺之間,數千餘里,無復有蠻梗夷.豈非人之所棄裁之所取而江山,之亦有所寺歟用.今四通有路,駐札有屯,神祈有廟,交易有場.轄民之樵採者至此而止降.蠻之夷易者亦至此而還.是則昔為扉象之所而今為煙火之鄉,昔為盜賊之放而今為車馬之衢.夫四五十年醜類縱橫之域,至茲而.幾千百載化工造設之奇至玆而如顯,不可不為此江山喜也.而予以來稽古人之志,不可不因而併成之耳.於是謀諸一二同志鳩工取材即于廉溪之北岸,廢堡之遺基而棟宇之.數月而成扁之曰:平蠻寺.非予之有樂於禪也.蓋欲表邊疆之勝.邊事之徂就而又將,使自慈悲不殺之,梵音而消荒忽無常之.蠻態此或一机會也.若夫,心閒事簡,月下風前,婆娑乎菩提般若之門,笑傲乎山草溪花之際.辰與道人偶,樵者行師,柳子厚之餘風,學韓文公之高,致此景懷唯予與此江知

.皇朝嗣德己巳年,靖蠻剿撫使封贈禮部尚書阮公 幃縉,字彤雲拱.

成泰丙午年,冬月,吉日,長子輔政大臣勤政殿大學士庸烈將延祿郡公致政石池阮紳,字儒伯,並庶男京兵九衛統制阮紋,嫡孫兵部侍郎阮繼 謹奉鐫石.

 

Dịch nghĩa:

Bài ký về chùa Bình Man

Từ xưa đến nay, việc xây chùa thờ phật đại ý có ba lẽ: lẽ thứ nhất là xây chùa để cầu phúc, lẽ thứ hai là xây chùa để thể hiện cái thắng chí, lẽ thứ ba là xây chùa để ghi lại sự việc. Việc xây chùa cầu phúc vốn là việc đầy rẫy trong thiên hạ. Mà nó chẳng phải là cái việc làm vui thích của nhà nho ta. Giống như núi Thiên Ấn của tỉnh ta, núi Thiên Thai của Thừa phủ, núi Linh Phong của Bình Định, núi Bích Động ở Ninh Bình đều là nơi thể hiện cái thắng chí của con người vậy.

Bậc đại nho nhà Trần là ông Phạm Ngũ Lão khi đánh giặc Nguyên(1) trở về đã xây dựng chùa Bình Ngô; Tiến sĩ đời Lê là ông Lê Như Hổ phụng chỉ nhà vua đi sứ, được nhà Minh phong tặng làm Quốc sư khi quay trở về thì xây chùa Quốc Sư. Những việc ấy đều được ghi lại vậy. Thật ra, cái sở nguyện của ta là muốn học người xưa mà chưa có cơ hội để thực hiện. Vào mùa đông, năm Quí Hợi đời Tự Đức, ta phụng chỉ đi đánh giặc ở phương Nam quay về, địa hạt những miền thượng du của tỉnh, những nơi ta từng ở, từng nhìn, từng để tâm đến thì dấu xe của ta in khắp núi sông. Ta thấy có đá bày ra la liệt giống như cảnh tượng của dãy hoành sơn. Phía tây là quả núi lớn trấn giữ, mọc ở phía bắc là núi Man Tân; phía đông nam là một dải nước trong vắt chảy vòng quanh uốn khúc. Ở giữa nơi này có hành cung mà bước lên cao nhìn ra xa thì thấy phía tây thông với biên cảnh bọn man di, phía đông nhìn thấu khu dân cư, phía bắc liền nối liền miền man cảnh, phía nam là địa giới của những lần con nước lên. Buổi sáng mà đi tản bộ du lãm để xem xét thì thấy núi cao nước sâu, rừng rậm đá nhẵn. Nước chảy qua kẽ đá, tiếng tựa như chuông khánh. Gió bị chặn lại trong rừng tre tạo thành âm thanh phảng phất như tiếng sênh tiếng sáo. Hình thế cảnh đẹp đất này tạo thành nơi đại xung yếu phía cổng thành ngoài của nước ta. Đại khái, gộp tất cả những lợi thế trên nên những năm giữa triều đại Gia Long đã đặt một chức quan để trấn giữ rồi xây một thành nhỏ ở đấy nhằm kiểm soát bọn man di và ngăn chặn việc quấy phá thành của bọn chúng, đuổi bọn ác thú dã man, khôi phục lại cứ điểm hiểm yếu này để làm sào huyệt.

Khoảng dăm mươi năm ở đây, mỗi lần ta đi tuần tiễu ở miền biên cảnh, chẳng lúc nào mà không chăm chút trông coi miền biên cương này. Năm Tự Đức thứ 19, đất này dự định sẽ xây một thị trấn nhỏ (thành nhỏ) để du lịch rồi phái binh đến để trấn thủ. Hơn nữa lại đặt ra một ách trọng yếu trông coi để làm tiện việc thông đường rẽ núi ở miền đất hoang vu này. Việc khai khẩn ở vùng đất hiểm yếu của bọn man di trên dãy núi lớn nằm ngang dài khoảng hơn nghìn dặm này vừa để vực dậy người man vừa để cản trở người man chớ hòng quậy phá. Việc ấy hà chẳng phải là cái điều mọi người nói: “vứt bớt quân bị mà giữ được giang sơn” ư?. Điều đó cũng có dụng công của chùa này. Nay bốn phía đều có đường thông, đóng quân có đồn trú, thờ thần có miếu mạo, giao dịch có thị trường. Người dân trong hạt đi hái củi đến đó cũng được chiếu cố, người man đi đến đó cũng được quay trở về. Nơi đó xưa kia nghi ngút cỏ cây mà nay là làng xóm rực hồng ánh lửa, xưa kia là nơi tụ điểm của bọn đạo tặc mà nay có con đường lớn thông đi các ngả tấp nập ngựa xe. Ôi! Bốn năm mươi năm khu vực này là nơi bọn xấu tung hoành, đến nay mới được yên ổn. Mấy trăm nghìn năm hóa công tạo thiết nên vùng đất kỳ lạ đến nay còn hiển hiện, không có thể không vì điều đó của giang sơn mà mừng vui được ư? Rồi nay ta kể lại cái chí của cổ nhân để nhân đó mà làm chùa. Lúc đó ta bàn mưu với một vài người cùng chí hướng, họp thợ lấy gỗ dựng ở phía bờ bắc của khe suối nước trong một ngôi nhà trên nền còn sót lại của thành nhỏ bỏ hoang. Vài tháng thì hoàn thành rồi treo biển lên đó lấy tên là “Bình Man tự”. Đó chẳng phải là niềm vui ở cửa Thiền của ta ư? Đại khái đó là ta muốn biểu dương niềm chiến thẳng ở vùng biên cương. Cuối cùng việc chết chóc ở vùng biên sẽ không lặp lại, khiến cho lòng tự từ bi sẽ không giết hại ai, hoa cỏ tiêu hoang bỗng trở nên cõi vô thường, thói man di ở đây không có cơ hội bùng phát. Nhược bằng lòng nhàn sự giản, trước gió dưới trăng, cửa bà sa bồ đề bát nhã, cười ngạo nghễ trong khoảng rừng cỏ suối hoa, lúc thì ngẫu hứng đàm đạo cùng đạo sĩ, lúc thì đi theo nhặt củi cùng tiều phu, tôn cái khí khái kiên cường của Liễu Tử Hậu(2), học cái giỏi giang văn hào của ông Hàn Văn(3). Cuối cùng cảnh này, lòng này chỉ có ta cùng giang sơn biết điều đó.

Năm Kỷ Tỵ thời Tự Đức (1869), người dẹp loạn quân man, tiễu trừ giặc dã, phủ dụ dân chúng khiến được phong tặng là Lễ Bộ Thượng thư, họ Nguyễn, tên húy là Tấn, tự là Đồng Vân (ráng hồng) viết.

Ngày tốt, tháng mùa đông năm Bính Ngọ, niên hiệu Thành Thái (1908), con trưởng là phụ Chính đại thần Đại học sĩ điện Cần Chánh, Dung Liệt tướng Diên Lộc Quận công, Chí Chính Thạch Trì Nguyễn Thân tên tự là Nho Bá (anh cả giới nho học) cùng với con trai thứ giữ chức Kinh binh Cửu Vệ Thống chế Nguyễn Văn, Đích tôn Binh Bộ Thị lang Nguyễn Kế kính cẩn phụng sự khắc bia.

Chú thích:

(1) Nguyên bản là “Ngô”, nhưng chúng tôi dịch là giặc Nguyên, bởi người Việt gọi giặc phương Bắc là giặc Ngô

(2) Liễu Tử Hậu: tức là Liễu Tông Nguyên một trong tám tác giả nổi tiếng của văn học Trung Quốc đời Đường Tống, người có khí tiết khẳng khái từng viết bài văn “Bổ xà giả thuyết” đề nói lên câu chuyện bắt rắn của người dân đất Vĩnh Châu nhằm lên án chế độ phong kiến hà khắc. Ông sinh năm 773, mất năm 819, thọ 47 tuổi, tên tự của ông là Tử Hậu.

(3) Hàn Văn: chính là Hàn Dũ, hiệu là Xương Lê, một văn hào ở đời Đường, sinh năm 768, mất năm 824, thọ 56 tuổi, người đứng đầu trong tám tác gia văn học đời Đường Tống. Sau khi mất, ông được truy tặng là Lễ Bộ Thượng thư, tên thụy là Văn./.

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.326-332)

Trần Thị Thanh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm