49 . Bản Di chúc của Ông Ích Khiêm (TBHNH 1998)
BẢN DI CHÚC CỦA ÔNG ÍCH KHIÊM
NGUYỄN ĐÌNH THẢNG
Đại học Huế
Sống trên đời này chẳng ai giống ai, cả đến cái chết cũng vậy, không phải người nào cũng như người nào. Cái chết của Ông Ích Khiêm không giống bất cứ trường hợp nào. Ông chết trong lúc nước nhà rối ren đến tột độ. Bên trong thì các quyền thần làm khuynh đảo triều đình “4 tháng 3 vua” sau khi Tự Đức mất. Bên ngoài thì giặc Pháp lợi dụng hòa ước để thôn tính nước ta. Phần lớn văn thần võ tướng kể các vương công trong hoàng tộc là những người bạc nhược cầu an, có khi ra mặt làm tay sai cho giặc. Trước tình hình ấy ông có ý kiến chỉ trích việc làm mờ ám của hai vị đồng phụ chánh là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết, nên ông bị hạ ngục và đưa vào giam ở ngục Bình Thuận với tội danh “quân phạm”.
Ở ngục Bình Thuận ông định sẵn cái chết cho mình. Trước khi chết một ngày, ông ung dung thư thái viết một bản di chúc để lại cho gia đình vào khoảng 1.5000 từ bằng chữ Hán với nhan đề: “Bình Thuận ngục trung di chúc, thê tử huynh đệ đồng khán chiếu biện”, nghĩa là: “Lời di chúc trong ngục Bình Thuận để vợ con, anh em cùng soi xét”.
Mở đầu bản di chúc ông đặt vấn đề sống chế, ông nói: “Cổ vân: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung, nghĩa đương nhiên dã. Ngã sự tiên hoàng đế tam thập dư niên, thân vi chiến tướng, nghĩa tuy quân thần, ân do phụ mẫu, nhi báo bổ tằng vô nhất hiệu. Thần chủ ưu thần nhục, chủ nhục thần tử, nãi cổ kim chi thông nghị. Kim chủ nhục như thử, ngã hà cảm ái kỳ tử dĩ di tu hồ? Nhân chúc gia đình sổ ngữ, dĩ miễn di hám”. Nghĩa là: “Từ xưa đã có câu: Vua bắt tôi chết, tôi không chết là bất trung. Đó là cái nghĩa đương nhiên. Ta theo đấng tiên đế đã hơn 30 năm, thân làm chiến tướng, tuy nghĩa vua tôi nhưng ơn coi như cha mẹ. Thế mà sự đền đáp của ta mảy may không có hiệu quả. Vả lại, người đời xưa nay thường nói: Vua lo tôi nhục, vua nhục tôi chết. Nay vua nhục như thế, ta nào dám tiếc mạng sống đề chuộc lấy sự hổ thẹn ư? Nhân đây, ta dặn gia đình vài lời để khỏi ân hận. “Đó là lý do cái chết của một bậc trung thần, hết lòng vì vua vì nước. Cái chết thật vô cùng oan uổng mà triều đình Huế phải gánh phần trách nhiệm.
Con người thương nước thương dân bao giờ cũng là người yêu thương gia đình, cha mẹ, vợ con tha thiết nhất. Trong di chúc ông dặn vợ con và anh em rằng: “Ngã sinh mẫu kim niên bát giới bát thập, bệnh hoạn lưu liên, ngã ký bất phúc bất hiếu, vô luận dĩ! Nhĩ đẳng thả ghi tận tâm kiệt lực ngưỡng sự, miễn tăng ngã chi bất hiếu. Tử tối tiên chi sự dã”. Nghĩa là: “Mẹ ta năm nay vừa đúng 80, đau ốm quanh năm. Ta đã vô phúc đành chịu là đứa con bất hiếu. Điều đó thôi không bàn nữa! Chúng mày hãy hết lòng hết sức phụng dưỡng mẹ già, để khỏi tăng thêm tội bất hiếu của ta vậy. Đó là điều trước tiên”.
Ông dành toàn bộ bản di chúc cho từng sự việc cụ thể. Nhà cửa ruộng vườn, của cải, phần nào thuộc về ai: Vợ cả, vợ hai, người hầu, con trai, con gái, kể cả phần tự điền cho những người con chẳng may mất sớn, cho đến cả những người tôi tớ giúp việc trong gia đình, theo ông ra mặt trận, ông đều phân chia rành mạch như một bản “phân thư”. Đối với những người con “vị thành niên”, ông giao cho từng người trong gia đình chịu trách nhiệm nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.
Ông nói: “Nói về gia sản ruộng đất thì, ruộng đất ở xã Thủ Đức (2 mẫu 7 sào) trước đây đã cùng nhau họp bàn, lập văn thư đặt làm ruộng tự điền và tu tảo phần mộ cho cha mẹ ta. Ruộng đất ở Cẩm Lệ (nguyên là ruộng của ông ngoại) gồm 2 mẫu 3 sào, phần này giao cho 4 người em gái và em trai. Ruộng vườn ở xã Hóa Khuê có hơn 5 mẫu. Đây là tiền của bà Nghiêm (vợ hầu) gởi mua và đã chấp sính lễ cho 5 người con trai rồi, không nên bày đặt laịi thêm rườm rà. Ruộng đất ở Khánh Nhiếp thuộc xã Bình Thái gồm 6 mẫu (2 mẫu ruộng, và 4 mẫu đất), trừ 1 mẫu chấp sính lễ cho con trai tên là Kỳ ra rồi, số còn lại trích làm hương hỏa tự điền cho vợ chồng ta. Còn một mẫu đất vườn dùng để chi phí hương khói và tu bổ nhà thờ. Số ruộng đất ấy đã đủ cả rồi. Số 5 mẫu ruộng đất ở xứ Bà Đằng thuộc xã Phú Hòa, trích ra 3 mẫu làm ruộng tự điền cho 3 đứa con trai của ta đã mất sớm tên là Cẩn, Bách và Đồng; trích ra 1 mẫu cho riêng con gái ta tên là Đào, cũng như ruộng chấp sính lễ cho con trai vậy, ngõ hầu sau này khỏi phải mang tiếng khinh nữ trọng nam…”
Sau khi phân chia ruộng đất đâu vào đấy cả rồi, ông nói đến vườn tược nhà cửa. Ông sắp xếp cho con ông mỗi người có mảnh vườn riêng, có chỗ ở riêng. Ông nói: “Nhà thì một tòa nhà thờ ngói có cả nhà bếp và nhà khách. Gọi là một nhưng thực tế là ba, đặt làm nhà thờ của chi họ ta (nhà này ta cùng các em góp công của xây nên). Đây là nơi thờ cúng, không được đổi bán, con cháu đời đời không được thay đổi. Điều đó ta đã định từ lâu rồi. Ngôi nhà bên trái cho con trai của Cung tên là Bột, ngôi nhà bên phải cho mẹ con bà An cư trú riêng. Bà Nghiêm đã có vườn nhà rồi. Bà Tùng mới cất một ngôi nhà lá, tưởng ta sau khi “về vườn” sẽ xây thêm một ngôi nhà ngói để cùng đoàn tụ. Nào ngờ sự việc xảy ra trái ngược với lòng người. Bà nên về nhà cũ ở Bàn Thạch cùng với bà cụ thân sinh, sớm hôm chăm sóc bà cụ để an ủi lòng bà. Ngôi nhà lá mới xây giao cho thằng Thiện nhận ở…”.
Ông còn nói với bà Tùng rằng: “Tôi còn gửi ở chỗ bà 15 hốt bạc trắng (mỗi hốt 10 lượng), trích ra 4 hốt trả tiền mua nhà cho bà (nhà đó giao cho Thiện), trích 1 hốt (10 lượng) giao cho chú Thuận, để hoàn lại tiền vườn của chú Tuấn đã qua đời. Việc này phải mời anh Hương và em Tú cùng làm chứng để giải quyết xong việc ấy. Trích ra 2 hốt (20 lượng) để cho bà Cam làm vốn. Còn lại 8 hôt đem giao cho bà cả để chi dùng mọi việc…”
Trong đoạn cuối của bản di chúc chúng ta thấy, một lần nữa ông không quên dặn lại người em ruột của ông rằng: “Chí như từ mẫu, đệ Thi nghi thỉnh hồi nhĩ gia phụng dưỡng như ngã sinh thời, bách tuế hậu diệc tùy tục chiếu liệu thoả thích, dĩ uỷ ngã linh”. Nghĩa là: “Còn như mẹ già, em Thi nên đón về nhà em phụng dưỡng. Các em, các cháu cùng nhau gia tâm góp phần nuôi nấng như lúc ta còn sống. Sau khi mẹ ta “trăm tuổi” cũng tùy theo tục lệ mà lo liệu thích hợp để an ủi linh hồn ta”. Việc uỷ thác mẹ già cho em phụng dưỡng càng làm cho người đọc cảm động xiết bao! Bởi vì từ trong đáy lòng, ong luôn suy nghĩ, cháu nuôi bà duf sao cũng chẳng bằng con nuôi mẹ.
Sau khi giao trách nhiệm cho em mình phụng dưỡng mẫu thân, ông dặn người con trai của ông tên là Chân rằng: “Chân, con nên ở nhà thay gia đình lo việc hương khói và sớm hôm phụng dưỡng mẹ con, đợi đến lúc hai thằng con trai của Cung khôn lớn, có thể đảm đương được việc nhà thì con mới được ra ở riêng”. Ông còn dặn con ông tên là Kiền rằng: “Kiền, con là người lớn trong gia đình, trách nhiệm của con không nên xem nhẹ, chớ nên chơi bời lêu lổng. Chỉ xuất phát từ lòng thành thật, thì mới giáo hối được các em. Con hãy nhớ điều đó!... Hễ là con, con theo đúng đường lối của cha, không làm điều gì trái lại. Ấy là tốt rồi!... Người xưa từng nói: Cha mẹ trọn vẹn mới sinh con cái, con cái giữ được trọn vẹn mà về với cha mẹ. Ấy là hiếu rồi!”.
Khi mọi việc trong gia đình sắp xếp đâu đấy xong xuôi, ông đi đến quyết định: “Ta lấy giờ Tí, ngày 19 tháng 7 là ngày chết của ta”. Ông bảo con ông tên là Thiện rằng: “Thiện, con hãy giữ cẩn thận bản gia thư này mang về tận nhà, không nên sơ xuất, e sợ thất lạc… Khi tàn cốt ta đưa về đến nhà thì hãy tìm nơi đồng ruộng đất bằng trong xã để chôn cất ta, đừng chôn nơi sơn cốc. Trong việc chôn cất, cứ theo lệ thường, không nên hậu táng, tốn kém vô ích mà còn chuốc lấy tiếng chê cười”. Cuối cùng ông đề ngày tháng chấp bút: Ngày 19 tháng 7 năm đầu niên hiệu Kiến Phúc (1883).
“Nguyên chức Tả thị lang bộ Binh được phong tước Kiên Trung nam, hiện ở nhà ngục quân phạm tỉnh Bình Thuận là Ông Ích Khiêm (Kiêm) tự chép tay”.
Trên đây là nội dung chủ yếu của bản “di thư” còn lưu lại trong gia đình danh nhân Ông Ích Khiêm ở làng Phong Lệ, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng mà chúng tôi mới tìm thấy. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. Ngoài sự thể hiện phẩm hạnh và nhân cách của một con người trung hiếu vẹn toàn, nội dung bản di chúc còn cho chúng ta thấy một gia đình gương mẫu về nhiều mặt, trên thuận dưới hòa, cha hiền con thảo. Noi gương ông các con ông như Ông Ích Thiện, Ông Ích Hoắc; cháu nội ông là Ông Ích Đường đều là những người biết điều quên mình hy sinh vì nghĩa lớn.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.389-394)