55. Tấm bia trên cánh đồng Thanh Lam - Huế (TBHNH 2000)
TẤM BIA TRÊN CÁNH ĐỒNG THANH LAM - HUẾ
NGUYỄN ĐÌNH THẢNG
Đại học Huế
Bia ở Huế có nhiều, không chỉ có trong những nơi tôn nghiêm như lăng tẩm, chùa chiền, mà còn có cả ở những nơi gó biển đầu gành. Có tấm kích thước quá cỡ, chữ căng dày cả hai mặt trước sau, đến gần 5000 chữ (nóii chính xác hơn nữa là 4934 chữ). Đó là “Khiêm Cung ký” ở lăng Tự Đức. Cũng có những bia cỡ nhỏ, đủ chép một bài thơ luật Đường ngự chế của một ông vua nào đó, kèm theo sau là vài câu lạc khoản để xác định nơi ấy là cảnh đẹp thứ mấy của đất Thần kinh.
Từ Huế theo đường thiên lý hướng vào nam, cách Huế chừng 15 cây số, trên cánh đồng Thanh Lam, nay thuộc xã Thủy Phương, huyện Hương Thủy (Thừa Thiên Huế), có một tấm bia đá, kích thước vào loại trung bình; 1,20m x 0,80m, viết một mặt theo thể chữ khải. Theo lời truyền miệng của dân làng thì đây là tấm bia “Bà chúa”. Vừa rồi, tôi mới có dịp đến xem tận nơi.
Với nhan đề: “Thanh Lam tự điền bi ký” (Bài ký về ruộng tự điền ở Thanh Lam), do Miên Thẩm viết vào tháng 11 năm Ất Sửu (1865), niên hiệu Tự Đức. Tôn lần đọc và ghi chép, mới biết đây là một bài ký có nội dung hay, có ý nghĩa nhân văn rõ rệt. Bia được dựng ngay trên bờ ruộng, mà vùng ruộng này xưa kia là của Công chúa Nguyệt Đình, con gái thứ 18 của vua Minh Mạng, em cùng mẹ với Miên Thẩm, mua để làm tự điền lập tự cho nhà chồng.
Mở đầu bài ký, tác giả viết: “Doanh điền trí sản tương di tử tôn, tha nhật vô cùng kế nhi bất tất giả, phi dã. Khoái mục tiền chi dục nhi vong thân, hậu chi sở đương ưu đương vi, diệc phi dã. Viết, ngô tử tôn hiền tự vi chi, bất hiền tuy ưu chi, vi chi, diệc vô dã, dĩ thử uỷ chi, diệc phi dã. Tất dã, diệc ưu ngô sở đương ưu, vi ngô sở đương vi nhi dĩ!”. Nghĩa là: Có người tạo ruộng để của cải cho con cháu mai sau làm cái kế không cùng, mà không quả quyết làm cho bằng được, là sai rồi. Có người lại quá vội vã với sự việc ham muốn trước mắt nên đã phí sức mình, cũng là điều sai, cái đó sau sẽ lo sẽ làm cũng được. Lại có nguời nói, con cháu ta tài giỏi thì chúng sẽ tự làm lấy, chúng không có tài thì dù ta có lo, có làm cũng hóa ra vô ích. Đó là lấy cớ để từ chối việc làm của mình, cũng là điều sai nốt! Có điều cần khẳng định là, lo cái mà ta phải lo, làm cái mà ta nên làm, thế thôi!”.
Về việc tạo ruộng tự điền của Công chúa Nguyệt Đình, tác giả viết: “Thanh Lam tự điền giả, Thái trưởng Công chúa Nguyệt Đình, vi tử tôn tha nhật chi sở trí dã. Sơ, Phò mã Phạm Kế Chi vô tử, chúa duy nhất nữ, khuyến Kế Chi dưỡng huynh tử vi hậu. Kế Chi một tam niên, tang tất. Mỗi phủ nhi khấp viết: “Sở thiên dĩ hỉ. Mạo chư cô vị kham ưu, vị vong nhân bất khả dĩ đãi sở dĩ nhẫn tử, ưu sở đương vi chi vi cập dã. Toại cấu mộ năng mãi điền giả, du niên bất năng đắc. Cầu chi tận lực, hội Dã Lê nhân Nguyên Duy Qui hóa tư điền. Điền tại Thanh Lam Thượng thôn, phàm tam mẫu, bát cao linh. Thanh Lam nhân ngôn chư chúa. Toại khuynh tư đắc chi”. Nghĩa là: “Tự điền ở Thanh Lam là ruộng của Thái trưởng công chúa Nguyệt Đình tạo ra để làm cái kế mãi mãi cho con cháu ngày sau vậy. Trước đây, chồng bà là Phò mã Phạm Kế Chi không có con trai. Bà chỉ có một cô con gái. Bà Khuyên Kế Chi nuôi con trai của anh ruột mình làm hậu tự. Kế Chi qua đời đã ba năm, đoạn tang xong, bà thường vỗ về con mình mà khóc rằng: “Việc ông nhà ta đã xong rồi, giờ con còn bé bỏng, chưa biết thế nào đây. Ta không thể ngồi yên đợi đến ngày sắp chết, mới lo cái mà mình phải làm thì đâu có kịp!”. Bà bèn nhờ người có khả năng tìm mua ruộng tư. Nhưng rồi, hết năm này sang năm khác không thể tìm được. Khi sự mong muốn của bà đến tột độ thì gặp dịp Nguyễn Duy Qui, người Dã Lê cần bán ruộng tư. Ruộng tọa lạc ở thôn Thanh Lam Thượng, gồm hơn ba mẫu, tám sào. Bà bèn đem bán những vật tư trang trong nhà để đủ tiền mua ruộng ấy”.
Tiếp đó, tác giả lại nói lên nỗi lòng của bà thổ lộ với con cháu sau khi mua được ruộng: “Ký nhi thán viết: “Dĩ thử vi tử tôn phú tắc bất túc, vi tử tôn tha nhật ngư thục chi tế, xước hữu dư hỉ. Phù khuê điền chi chế, thất kỳ lai dĩ cửu. Khanh, đại phu chi hậu hữu thức vi, chí bất năng phụng phục lạp, cố ngô vị nhữ tào mưu chi…Thẩn ngô thiếu thời phụng cung đình, nghi phạm, cần kiệm, cẩn khác, bất cảm xa căng, nhữ tào cái tập khiến dã. Ngô khổ tâm cấu thử phí. Thả bất tỉ vị thường lân, diệc tập kiến chi dã. Nhữ tào tha nhật tư vị vong nhân, sở thường ưu, sở thường vi, nhi ưu sở đương ưu, vi sở đương vi, ngô khả dĩ minh mục hỉ…”. Nghĩa la: “Thế rồi, bà còn than rằng: “Đem số ruộng này hòng làm giàu cho con cháu thì đâu có đủ! Ruộng này để cho con cháu ngày kia sắm cá cơm cúng giỗ thì chắc dư thừa. Thật ra, chế độ khuê điền được đặt ra đã mất tác dụng từ lâu rồi. Con cháu các quan khanh, đại phu có gia đình về sau đã tàn lụi, đến nỗi không thể thờ phụng giỗ chạp được, cho nên ta vì bọn mày mà lo toan điều đó… Huống chi, từ thuở bé ta được sống trong cung đình, luôn giữ khuôn phép, cần kiệm, kính cẩn, không dám xa hoa. Điều đó, đại khái bọn mày đã thấy cả rồi. Ta rất khổ tâm, vì đã dùng của cải gây ra sự tốn kém này. Và còn không lường được mình là con người chưa từng tham lam, mà ai cũng luôn thấy đó. Một ngày kia, bọn mày còn nhớ đến ta, thì hãy nhớ đến cái mà ta đã từng lo, đã từng làm và lo cái đáng lo, làm cái nên làm, là ta có thể nhắm mắt được rồi…”.
Cuối cùng, tác giả có vài lời nhận định về việc làm của bà chúa và tác dụng giáo dục của nó: “… Thân thuộc hỉ chúa chí ái kỳ tử, năng bất thất nghĩa phương chi giáo. Vị trí điền hựu chước hồ trung đạo, bất xa, bất lận, túc dĩ, cung tư thình nhi dĩ. Tha nhật tử tôn chi hiền, bất hiền bất do thử. Nhi chí hữu sở tổn, đạo hữu sở ích tất di chi. An khả dĩ căng thức nhi chư chúa trung hữu vị chi cập. Tư kỳ diệc văn phong nhi khởi giả hồ!. Thư cơ tiệm quảng. Kỳ tha nhật khử căng khí dì ưu sở ưu, vi sở vi nhi dĩ hỉ…”. Nghĩa là: “Bà con rất mừng khi biết bà rất thương con và có khả năng dạy con không trái với nề nếp. Để ruộng cho con cháu, mà chọn đúng đạo “trung”, nghĩa là không xa xỉ không tham lam tiếc rẻ, chỉ đủ để cúng giỗ mà thôi. Ngày kia con cháu có tài cũng không xuất phát từ đấy. Cái mà bà để lại là, có cái chí phải bớt đi và có cái đạo được thêm vào, chứ đâu có thể cho rằng bà chưa đạt đến những điều thuộc về sự kính cẩn. Nghĩ đến việc này như nghe một luồng gió mới dấy lên, ngõ hầu ngày càng lan rộng. Rồi một ngày kia con cháu sẽ bỏ di cái thói kiêu ngạo để lo cái đáng lo, làm cái đáng làm mà thôi!...”.
Qua những đoạn văn chính được trích trên đây, chúng ta có thể hình dung được điều mà Miên Thẩm đề cập đến là, ở trên đời có bao nhiêu việc phải lo, phải làm, “Nhưng có điều cần khẳng định rằng, lo cái mà ta phải lo, làm cái mà ta cần làm, thế thôi!”.
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.435-439