57. Gia phả họ Lê ở làng Bồ Đề và tư liệu về Lê Văn Duyệt (TBHNH 1997)
GIA PHẢ HỌ LÊ Ở LÀNG BỒ ĐỀ VÀ TƯ LIỆU
VỀ LÊ VĂN DUYỆT
NGUYỄN ĐỈNH THẢNG
Đại học Huế
Đầu tháng 7 năm 1997, có dịp về Quảng Ngãi, tôi được đưa đến thăm từ đường họ Lê ở làng Bồ Đề, được đọc một bản gia phả viết bằng chữ Hán và các đạo sắc phong của Quận công Lê Văn Duyệt. Việc đánh giá công, tội của Lê Vă Duyệt xin giành cho các nhà sử học. Ở đây, tôi chỉ giới thiệu các tư liệu mà mình được đọc.
Bản gia phả gồm 50 trang giấy bản, chữ chép tay bằng bút lông rất đẹp. Nội dung được chia làm ba phần chính:
Phần đầu là lời tựa, nêu tông tích của họ Lê từ khi về định cơ ở làng này. Trong bài tựa, công trạng của hai anh em Lê Văn Duyệt và Lê Văn Phong được đề cập đến nhiều nhất:
Huynh nam, đệ bắc oai danh chấn;
Tử hiếu, thần trung tiết nghĩa cao.
Nghĩa là:
Anh trấn trong Nam, em trấn ngoài Bắc, lừng lẫy uy danh;
Con tròn đạo hiếu, tôi vẹn lòng trung, nêu cao tiết nghĩa.
Trong lời tựa còn nhắc đến nỗi oan của dòng họ lê sau vụ biến Phiên An và cuối cùng được phục hồi danh dự.
Phần thứ hai là phần nội dung tộc phả, được ghi từ đời thứ nhất, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, đến đời thứ 10 vào những năm đầu của niên hiệu Bảo Đại.
Phần cuối cùng là phần nội dung bản án của Lê Văn Duyệt; đơn xin minh oan và khai phục tước hàm cho ông của con cháu ông; một bài dụ của vua Tự Đức về việc việc khai phục nguyên hàm cho các ông Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Lê Văn Quân và Lê Chất là những công thần thời Gia Long và một bài chế riêng đối với ông Lê Văn Duyệt. Ngoài ra, còn có ba đạo sắc phong cho ông Lê Văn Duyệt và một số giấy tờ, bằng cấp khác có liên quan.
Theo gia phả thì, Lê Văn Duyệt là ông tổ đời thứ tư (4), người gốc làng Bồ Đề, thuộc tổng Lại Đức, huyện Mộ Hoa, phủ Tư Nghĩa (nay là thôn Bồ Đề, xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Ông sinh ngày 6 tháng 9 năm Giáp Dần (1764). Bình sinh ông là người ngay thẳng, anh minh, cương nghị hơn người, gặp bất kỳ việc gì cũng tỏ ra quả cảm, quyết đoán. Năm 17 tuổi ông theo phò tá Nguyễn Ánh, sau đó cùng các tướng lĩnh đưa Gia Long sang Xiêm đến thành Vọng Các (Bangkok) và lập được nhiều công lớn. Gia phả còn ghi rằng, ông là một thiên tướng giáng sinh, được thánh thần phù giúp, nên mỗi khi lâm trận đều bách chiến bách thắng, thế gian ít người được vậy. Ông được Gia Long phong Vọng Các công thần, chưởng Tả quân, Bình tây tướng quân và được sai vào làm Tổng trấn thành Gia Định, kiêm lý cả hai trấn Bình Thuận và Hà Tiên. Ông lâm bệnh và qua đời vào ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832) thọ 68 tuổi. Ông được ban tứ sắc phong: Tá vận công thần, Đô thống phủ Chương phủ sự, Thái Bảo quận công. Vì có công lớn nên ba đời tiên nhân của ông, kể từ bố ông trở lên, được phong tước hầu.
Tằng tổ (ông cố) của ông là Lê Văn Tính được phong tặng: Quang tiến Hộ quân võ lược tướng quân, Cẩm y vệ Cai đội, Tính Thiện hầu.
Hiển tổ (ông nội) của ông là Lê Văn Hiếu được phong tặng: Quang tiến Chiêu nghị tướng quân, Cẩm y vệ Cai cơ, Hiếu Thuận hầu,
Hiển khảo (bố) của ông là Lê Văn Toại được phong tặng: Chưởng cơ Quyên Thanh hầu, tặng Thống chế, gia tặng Tráng võ tướng quân, Trụ quốc Đô thống.
Cũng theo gia phả thì, ông Lê Văn Toại có 4 người con trai mà Lê Văn Duyệt là con cả, rồi đến Lê Văn Oai, Lê Văn Phong và Lê Văn Đến. Lê Văn Oai và Lê Văn Đến sinh và mất năm nào không rõ. Lê Văn Phong cũng là người có tài mưu lược, đã từng giữ chứ Tả doanh Đô thống chế, lãnh chức Phó tổng trấn Bắc Thành, được tặng Tráng võ tướng quân, Hữu trụ quốc Thiếu bảo. Ông Lê Văn Phong có 27 người con trai. Vì Lê Văn Duyệt là “hoạn quan”, nên theo chỉ dụ của Gia Long, lấy người con trai cả của Lê Văn Phong là Lê Văn Yến lập tự cho Lê Văn Duyệt. Lê Văn Yến được ấm thụ Khinh kỵ Đô úy, lấy công chúa Anh Nghĩa, con gái thứ 10 của vua Gia Long và bà Lê Thị Bình (nguyên là vợ Quang Toản và là em ruột công chúa Ngọc Hân) làm vợ, nên đã được phong là Phò mã Đô úy.
Sau vụ biến Phiên An kéo dài hơn 2 năm (1836-1838) của Lê Văn Khôi, là con nuôi của Lê Văn Duyệt, vốn là người họ Bế ở Cao Bằng. Lê Văn Duyệt bị triều đình khép vào tội gây mầm mống phản nghịch, nên lăng mộ ông bị san bằng, 36 đạo sắc phong của ông bị thu hồi và thiêu hủy. Lần theo gia phả chúng tôi thấy, không chỉ riêng ông bị trả thù, mà tất cả con cháu dòng họ Lê của ông đều bị Minh Mệnh ra lệnh hành quyết. Trong đời thứ 5, ngoài Lê Văn Phước, người con trai duy nhất của Lê Văn Oai (em ruột Lê Văn Duyệt), chỉ có tên mà không thấy ghi ngày tháng năm sinh và mất, nên không thể tra cứu được, còn 27 người con trai của Thiếu bảo Lê Văn Phong thì không một ai còn sống sót sau năm 1838. Người “thọ” nhất cũng chỉ có 30 tuổi. Phò mã Lê Văn Yến (1808-1838), người được lập tự cho Lê Văn Duyệt, là một trong 7 người bị hành quyết lần cuối cùng vào ngày 23 tháng 3 năm Mậu Tuất (1838). Phần mộ của cả 7 người đều được táng một nơi tại huyện Hương Thủy, Thừa Thiên.
Gia phả còn ghi, Phò mã Lê Văn Yến có 4 người con trai là: Lê Văn Hạo, Lê Văn Tải, Lê Văn Diễn và Lê Văn Minh. Cái chết của Hạo và Tải không rõ lý do, cũng có thể tin là đã bị giết. Riêng Diễn và Minh thì được tha tội chết mà phải bị đi đày, vì cả hai còn ở lứa tuổi “vị thành niên”, dưới 14 tuổi. Đến đời Tự Đức hai anh em còn sống sót này mới được ân xá và được phép sung vào quân ngũ. Lê Văn Diễn được ấm thụ Kỵ đô úy Lê Văn Minh làm đến chức Chánh lãnh binh.
Chúng tôi thấy trong gia phả còn có tờ đơn của Lê Văn Diễn nhờ Thọ Xuân Công Miên Định (em ruột vua Thiệu Trị) đề xuất với Tự Đức xin minh oan cho ông nội mình. Để làm rõ hơn, chúng tôi xin trích dịch một đoạn trong lá đơn này:
“… Nguyên ông nội tôi là ngài cố Lê Văn Duyệt, trong năm Canh Tí (1780), Thế Tổ Cao Hoàng đế chính vị ở Gia Định, Ngài được tuyển vào làm Nội giám. Sau vâng mệnh hộ giá sang Xiêm đến thành Vọng Các. Ông tôi và Võ Tánh cùng 24 vị theo hầu xe vua, trước sau có ghi công trạng. Sau khi thu phục thành Phú Xuân, ông tôi đượ dự vào hàng đại thần võ công thời Trung hưng. Năm Gia Long thứ 3 (1804) được mông ân phong tặng chức tước cho ba đời về trước, từ ông cố tôi trở lên. Năm Gia Long thứ 11 (1813) với tư cách là một công thần thời Vọng Các, ông tôi được giao giữ chức Tả quân Bình tây tướng quân, kiêm Giám thần sách, Tổng trấn Quận công vào trấn thành Gia Định và liên nhiệm cả hai trấn Bình Thuận và Hà Tiên. Tiếp theo đó được vua ban sắc lấy cha tôi là Lê Văn Yến, con trưởng của người em ruột ngài là ngài nguyên giữ chức Tả doanh Đô thống chế Lê Văn Phong lập tự cho ngài. Năm Minh Mệnh thứ 5 (1824) cha tôi được ấm thụ chức “Khinh kỵ Đô úy và được phép lấy bà công chúa thứ 10 làm vợ, nên được thăng Phò mã Đô úy. Ông tôi ốm và qua đời vào năm Minh Mệnh thứ 13 (1833) được mông ân ban tứ sắc phong: “Tá vận công thần, Đô thống phủ Chương phủ sự, Thái bảo Quận công”. Ngay từ buổi đầu gặp vận gió mây, xông pha lửa đạn, ông tôi đã hiến dâng công lao nhỏ mọn của cả đời mình. Sau khi nước nhà thu về một mối, ông tôi được ủy thác trọng trấn một vùng hùng phiên, sau trước một mực trung trinh, giữ lòng trong trắng. Công trạng của cả cuộc đời được ghi trong chính sử và liệt truyện, rành rành như những bức chạm có thể khảo tra.
Thế rồi sau đó, biến loạn Phiên An nổi dậy, Ngài bị triều đình chỉ trích, truy lột tước quan, chết rồi mà vẫn còn bị hỏi tội. Họ tộc tiêu điều, gia đình tan nát. Tàn hồn lấp lánh, cuối cùng trở thành bóng ma, không người cúng giỗ đã trải qua 15, 16 năm rồi…
Ngửa trông đức vua rộng lượng, tội tha công nhớ, không những anh em chúng tôi được trả quyền sống mà cha, ông chúng tôi ở dưới cửu tuyền cũng được hàm ơn khôn xiết. Tôn vốn chẳng dám nhiều lần van xin, chỉ biết nghĩ thầm, rằng từ buổi đầu khi nước nhà được khôi phục, các công thần tá dực, sống có tiếng vang, chết có hiển hiệu, như trường hợp Ngô Hữu Hựu, bộ Hình, trước có can tội, sau con cháu kêu nài, ông ta được khai phục nguyên hàm, tước lộc đời đời vinh hiển.
Sau khi ông tôi qua đời, vụ án mới xẩy ra, thế mà cha tôi cũng phải chịu tội và bị miễn chức lúc sinh thời. Về việc này các quan đại thần, đình thần và tỉnh thần đã cùng nhau hợp nghi, nhiều lần thỉnh cầu, nhưng cho đến nay ông tôi vẫn chưa được mông ân khai phục. Chúng tôi vô cùng cảm kích, dám đem việc này trình bày đầy đủ. Cúi xin ngài Chính đường (tức Thọ Xuân công) thay mặt các quan đề bạt, ngõ hầu ông tôi, cha tôi được mong ân lượng thứ…
Muôn đội ơn ngài!”
Sau nhiều lần đề bạt của Thọ Xuân công, cùng các quan đình thần, tỉnh thần như Võ Xuân Cẩn, Phan Đình Bình, Đỗ Sung… hợp nghị tâu lên, Tự Đức chính thức ban “dụ” phục chức cho cả 5 ông, gồm Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Lê Văn Quân, Lê Chất là những công thần thời Gia Long. Trong bài “dụ”, Tự Đức đã tỏ ra mình là một vị “anh quân” phân tích công, tội từng người có cân nhắc, thấu lý đạt tình. Đây là nguồn động viên lớn đối với con cháu họ và phần nào an ủi, giảm nhẹ nỗi oan hờn của những người đang nằm sâu trong lòng đất, chẳng khác nào như một luồng gió trong lành xua tan đám mây đen cho bầu trời thêm sáng rạng. Đúng như trong lời tựa của quyển gia phả họ Lê ở làng Bồ Đề đã ghi:
Tễ nguyệt, quang phong hoàn phục cựu;
Lan tôn, quế tử phát sinh tân.
Xin được trích một số đoạn trong bài “dụ” để chứng minh rằng, Tự Đức là một con người khá thông minh trong cách ứng xử. Nó vừa hợp lòng người, vừa bảo vệ được phần nào uy thế của vương triều, mà ông ta là người phải gánh chịu những mối căm hờn không đáng có, do những hành động bạo ngược của các vị “tiên đế” của ông đã gây nên, buộc ông phải giải quyết hậu quả.
“… Trẫm từng duyệt qua các sách Chính biên liệt truyện, trong đó thấy có trường hợp của hai ông Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt, là những người thuộc vào hàng có công lớn ngay từ buổi đầu của thời Trung hưng, được mông ân tri ngộ của đấng Tiên hoàng (Gia Long) tưởng chẳng có ai hơn. Chỉ tiếc rằng các ông là những người “bất học vô thuật”, giỏi nghề chinh chiến mà không hiểu được thế nào là “lễ vua, phép nước”, không thể được như Phùng Dị, Quách Tử Nghi, Từ Đạt(1) là những người giữ trọn nghĩa vẹn tình từ đầu đến cuối. Cũng như hai ông, họ chỉ để lại cho đời sau những tiếng tăm võ nghệ. Nếu như hai ông biết theo con đường ấy thì ơn vua há chẳng trọn vẹn ư? Lỗi lầm làm gì mà có được!...
“Trải qua nhiều triều đại, pháp luật đã có sẵn. Không bao giờ dùng ân huệ mà bỏ qua phép nước; cũng không bao giờ lấy tì vết mà che lấp ngọc ngà. Cái xấu chỉ có tác dụng nhất thời, cái tốt thì trường tồn mãi mãi. Các quan thời nhà Chu đều giữ phép thường của “bát nghị”(2)… Trong sách Tả truyện có nêu lên mười điều khoan giảm. Điều đó cho ta thấy, chưa bao giờ không châm chước giữa tình và lý vậy…
“Trẫm nghĩ rằng, chức tước của hai ông ấy bị tước đoạt tính đến nay đã trải qua nhiều năm rồi. Pháp luật thẳng thắn, nhưng cái công lớn của các ông, tưởng không thể bỏ…
“Để biểu hiện tấm lòng tốt và làm sáng tỏ hơn cái đạo cao dày đối với các công thần, nay gia ân truy phục hàm Vọng Các công thần, Chưởng trung quân, Bình tây Đại tướng quân, Quận công cho Lê Văn Duyệt, theo đúng nguyên hàm ngày trước. Chuẩn cho hai ông được đưa vào thờ ngang hàng với các công thần khác trong miếu “Trung hưng công thần”.
“Còn như các ông Đặng Trần Thường, Lê Văn Quân, Lê Chất, nguyên trước đều là những người có công… Nhưng công và tội của ba ông ấy không thể so sánh với hai ông Thành và Duyệt được. Nay truy phục hàm “Tham tri bộ Lại cho ông Đặng Trần Thường; hàm Bình tây Đô đốc chưởng Tiền quân cho ông Lê Văn Quân. Đây cũng là chức tước đúng với cái công ngày trước của hai ông vậy, Lê Chất từ khi rời hàng ngũ địch theo về, được cất nhắc ở địa vụ cao quí, nhưng ông khong dám tự đảm đương, mà xin nhận chức thấp hơn cùng Đồng Đô thống chế. Nay ghi khai phục hàm Tả đồn Đô thống chế là để thỏa theo nguyện vọng của ông lúc sinh thời. Công, tội của năm ông, mỗi người một khác. Trẫm hậu sinh không được rõ lắm, đâu dám phiếm luận viển vông…”
Nguồn gốc họ Lê ở làng Bồ Đề và vụ án Lê Văn Duyệt có nhiều điều khá lý thú đặt ra cho các nhà nghiên cứu. Ở đây, tôi mới làm nhiệm vụ bước đầu của người giới thiệu văn bản.
Chú thích:
1. Phùng Dị: người thời Đông Hán, phò tá Hán Quang Vũ rất mực trung trinh, được phong tước Dương Hạ hầu, chết trong khi lâm trận được tôn xưng là “Đại thụ tướng quân”.
Quách Tử Nghi: một võ quan đời Đường, có nhiều công lớn, phụ dực bốn triều nhà Đường: Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông, Đức Tông; được phong là “Phần Dương vương” và được ban danh hiệu “Thượng phụ”.
Từ Đạt: một công thần khai quốc thời nhà Minh, lúc trẻ có chí lớn, theo Minh Thái Tổ đánh dẹp khắp nơi; lập miếu công lớn, làm quan đến chức Hữu thừa tướng được phong “Ngụy Quốc công”; lúc chết được truy tặng “Trung Sơn vương”.
2. Bát nghị: Các quan đại phu thời nhà Chu khi phạm pháp, thì phải dựa vào “bát nghị” để cân nhắc tội nặng nhẹ mà không dựa vào hình thư. Tội nhẹ được tha thứ, tội nặng thì chịu hình phạt, nhưng xet mức độ khoan giáp.
Bát nghị gồm: nghị thân, nghị cố, nghị hiền, nghị năng, nghị công, nghị quí, nghị cần, nghị tân để giảm nhẹ trừng phạt cho các công thần.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.564-572 )