VI | EN
60.Về phương pháp và quan niệm văn bản học trong dịch thuật Hán - Nôm (TBHNH 2001)
Thông báo Hán Nôm học 2001

VỀ PHƯƠNG PHÁP VÀ QUAN NIỆM VĂN BẢN HỌC
TRONG DỊCH THUẬT HÁN - NÔM

NGUYỄN HỮU SƠN

Tiến sĩ Ngữ vănViện Văn học

Trong suốt thời Trung đại Việt Nam, chữ Hán - Nôm giữ vị trí chủ đạo trong việc tàng trữ các giá trị truyền thống tinh thần dân tộc, các nguồn thư tịch văn hoá viết - bao gồm các tác phẩm văn học, sử học, triết học và nhiều thể thức văn bia nữa. Liên quan đến khoa Hán - Nôm là cả một hệ thống các chuyên ngành, các phương diện và đối tượng cụ thể khác nhau như sưu tầm, bảo quản thư tịch và tài liệu; dịch thuật văn bản; nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của chữ Hán - Nôm; nghiên cứu ngữ pháp Hán - Nôm; nghiên cứu nội dung các tác phẩm Hán - Nôm đã được dịch thuật; thêm nữa là việc giảng dạy và học tập bộ môn Hán - Nôm, hay nói khác đi là việc truyền đạt và tiếp nhận di sản Hán - Nôm trong nhà trường và xã hội hôm nay... Trước những vấn đề chuyên sâu và phức tạp này, chúng tôi chỉ giới hạn ở việc nhận mạnh thêm mấy suy nghĩ về quan niệm văn bản và dịch thuật Hán - Nôm (mà cũng dừng lại chủ yếu ở phần tác phẩm văn học), chứ không nhằm bàn về các phương thức, cách thức và nghệ thuật dịch cụ thể. Điều này cũng có nghĩa là chúng tôi chưa bàn về chuyện dịch như thế nào mà chủ ý nhận mạnh vấn đề có tính lý thuyết là phương pháp khảo sát, đánh giá, chọn lựa văn bản cũng như quan niệm chung về phương pháp xử lý văn bản và dịch thuật Hán - Nôm.

Sau quá trình nghiên cứu lâu dài của nhiều thế hệ học giả, đến nay chúng ta đã xác định được bài thơ Nam quốc sơn hà có tới khoảng ba chục văn bản khác nhau, với những khác biệt về câu chữ như: Nam quốc - Nam thiên (?), sơn hà - dĩ định (?), Nam đế cư - đế Nam quân (?), Tiệt nhiên - Hoàng thiên (?), phân định - dĩ định - định phận (?), nghịch lỗ - Bắc lỗ (?), và nhất là câu kết:

- Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

- Bạch nhận phiên thành phá trúc dư

- Tống binh bất miễn tán như vân

- Nhất trận phong ba tận tảo trừ (?), v.v...

Hơn nữa, xuất xứ bài thơ cũng được dẫn từ rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau như sử ký (Đại Việt sử ký toàn thư, Việt sử tiêu án), truyện ký ghi chép thần linh (Việt điện u linh), ghi chép truyền thuyết và truyện cổ tích (Lĩnh Nam chích quái) cùng nhiều bản thần phả, sự tích ở các đền miếu khác nữa(1). Ngoài ra, ngay vấn đề tác giả và thời điểm xuất hiện bài thơ cũng còn nhiều điểm đáng bàn: Có khi bài thơ được gán cho thần Trương Hống, Trương Hát vốn là thuộc tướng của Triệu Quang Phục (thế kỷ VI) đọc để giúp Lê Hoàn đánh quân Tống vào năm 981, có khi được coi là hiện tượng âm phù giúp Lý Thường Kiệt phá tan quân Tống vào năm 1076 - nghĩa là cách nhau ngót một thế kỷ. Đứng trước tình hình chưa thể xác định chắc chắn tác giả và thời điểm xuất hiện bài thơ, GS. Hà Văn Tấn viết: "Chẳng hạn, không một nhà sử học nào có thể chứng minh được rằng bài thơ Nam quốc sơn hà Nam đế cư là của Lý Thường Kiệt. Không có một sử liệu nào cho biết điều đó cả. Sử cũ chỉ chép rằng trong trận chống Tống ở vùng sông Như Nguyệt, một đêm quân sĩ nghe tiếng ngâm bài thơ đó trong đền thờ Trương Hống, Trương Hát. Có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt đã cho người ngâm thơ. Đi xa hơn, có thể đoán rằng Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Nhưng đó chỉ là "đoán" thôi, làm sao nói chắc được bài thơ đó là của Lý Thường Kiệt. Thế nhưng, cho đến nay, mọi người đều tin rằng đó là sự thật, hay đúng hơn, không ai dám nghi ngờ đó không phải là sự thật" (2). Tiếp sau, GS. Bùi Duy Tân đã nêu đề nghị: "Từ lâu, nhiều học giả, vì những lý lẽ khác nhau, vẫn coi Lý Thường Kiệt là tác giả bài thơ. Bây giờ nên để khuyết danh", hoặc ghi tên Lý Thường Kiệt có thêm dấu (?) ở sau, để tỏ ý nghi ngờ và có chú giải thêm (3)... Trên thực tế, đây chỉ là một trong vô vàn trường hợp tác phẩm Hán - Nôm còn có nhiều nghi vấn về tác gia, về nguồn gốc xuất xứ và quá trình biến động của văn bản (chưa nói đến cách hiểu và lời dịch). Do đó với đông đảo bạn đọc và học sinh phổ thông sẽ được tiếp nhận văn bản ở dạng kết quả một tác phẩm hoàn chỉnh, mà bỏ qua nhiều công đoạn khảo cứu quan trọng khác (4). Đây cũng là dẫn chứng điển hình để nhấn mạnh công việc dịch thuật Hán - Nôm cần đặc biệt tôn trọng nguồn gốc xuất xứ văn bản, cần có quan niệm đúng đắn về tính hoàn chỉnh của văn bản đặt trong mối liên hệ chặt chữ với bối cảnh văn hoá và thời đại.

Qua hơn mười thế kỷ, nền văn học Hán - Nôm tồn tại và phát triển trong môi trường văn hoá có tính chất tự thân - nghĩa là người ta có thể sáng tác, lưu truyền, đọc hiểu mà không cần quan khâu phiên dịch. Chuyển sang thế kỷ XX, các văn bản Hán - Nôm từng bước được dịch và phiên âm sang chữ quốc ngữ - tiếng Việt. Ngay hồi đầu thế kỷ, hàng trăm bài thơ thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn đã được giới thiệu khá hệ thống trên các tạp chí Nam Phong (1917 - 1934), Tri tân (1941 - 1945) đồng thời với việc xuất bản nhiều bộ sách biên dịch văn, sử khác nữa. Trong khoảng vài ba chục năm gần đây, nhiều công trình dịch thuật Hán - Nôm có tầm vóc lớn, hướng đến những bước tổng hợp mới đã lần lượt ra đời. Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, có khá nhiều công trình tập hợp tổng thành kiểu này lại không thể hiện đầy đủ cấu trúc, qui mô của văn bản gốc; thậm chí còn cắt xén, trích dẫn, qui nạp văn bản theo một hệ thống mới khiến cho người đọc hiện đại không còn hình dung được các đặc trưng và tính chất nguyên hợp của tác phẩm thời Trung đại. Đơn cử về mối quan hệ gắn kết hữu cơ giữa một bài thơ Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm của Trần Thánh Tông (1240 - 1290) với chỉnh thể văn bản Thánh đăng ngữ lục (hay nói khác đi là mối quan hệ giữa bộ phận "tàng trữ giá trị thi ca" với chỉnh thể tác phẩm), PGS.TS. Phạm Tú Châu đã khảo sát chi tiết vẫn đề và đi tới kết luận: "Đến đây, tên bài Độc Phật sự đại minh lục hữu cảm (Cảm xúc khi đọc Phật sự đại minh lục) do nhóm soạn thảo Thơ văn Lý - Trần II, quyển Thượng, mà chúng tôi là một thành viên, dựa vào văn cảnh trongThánh đăng ngữ lục để đặt cho bài thơ trên dường như không còn thích hợp. Một lẽ do nội dung, tính chất như trên trình bày, một lẽ nữa xem xét lại văn cảnh, thì văn cảnh cũng dường như chưa hẳn đã hiểu được như thế". Đến đây tác giả chú thích: "Nguyên văn Thánh đăng ngữ lục ở câu ngay trước bài thơ viết: "Thường khai Phật sự. Đại minh lục hữu thi vân...". Trước đây hiểu là "thường mở xem Phật sự đại minh lục, có thơ rằng..." và sửa lại cách chấm câu. Còn nếu theo cách chấm câu vốn có, thì hiểu là "Thường mở Phật sự (công việc nhà Phật: tụng Kinh sám hối, cũng có thể đàm đạo về lẽ huyền của đạo Phật). Sách Đại minh lục có thơ rằng:...". Hiểu theo cách sau thì phải xem có sách Đại minh lục hay không, sách của nước nào, có chép bài thơ trên của Trần Thánh Tông hay không v.v... Những điều này còn chờ thêm tư liệu mới có thể giải đáp cặn kẽ được" (5). Như vậy việc đặt bài thơ trong tổng thể "bối cảnh", "văn cảnh", "nguyên văn" để có thể xác định việc "sửa lại cách chấm câu", "theo cách chấm câu vốn có" hay "hiểu theo cách sau"... là đặc biệt quan trọng, cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa bài thơ và toàn văn tác phẩm. Rõ ràng đây là yêu cầu quan trọng bậc nhất trong phương pháp và quan niệm khoa học về việc phải tôn trọng tính tổng thể, hoàn chỉnh, toàn vẹn của các văn bản Hán - Nôm trước khi tiến hành phiên dịch chúng.

Nhìn rộng ra, một số tập, một số phần, đoạn thuộc loại sách kiểu như Thơ văn đời Lý, Thơ văn Lý - Trần, Thơ Thiền Việt Nam, Tổng tập văn học Việt Nam... đã xây dựng lại một số nhân vật và truyện thiền sư trong sách Thiền uyển tập anh (1337) như là những đơn vị tác gia độc lập, trích tuyển và đặt tên lại cho một số bài kệ, lời thị tịch, lời răn dạy đệ tử và hiểu đó như là những tác phẩm thơ ca thực thụ. Trên thực tế cách làm này đã phá vỡ tính hệ thống của cấu trúc tác phẩm (tóm tắt phần văn xuôi kể chuyện cuộc đời thiền sư thành tiểu sử tác giả, phân xuất các bài kệ vốn là một bộ phận gắn bó hữu cơ với phần văn xuôi ghi chép cuộc đời thiền sư thành các sáng tác thi ca độc lập), khiến người đọc không thể nắm bắt được thực chất đặc trưng hỗn dung văn hoá (đan xen văn - sử - triết), hỗn dung thể loại (đan xen văn xuôi và thơ ca, lời giảng đạo văn xuôi và khả năng chưng cất thành văn vần, đan xen tư duy ghi chép tiểu sử - biên niên sử và khả năng thêu dệt, trầm tích các yếu tố folklore...) của tác phẩm Thiền uyển tập anh. Mặc dù có lợi thế trong cách xây dựng và xếp đặt tác gia (ưu thế này càng trở nên rõ ràng hơn khi chúng được đặt thành mục từ trong các bộ Từ điển văn học, Từ điển danh nhân văn hoá) song rõ ràng quan niệm về văn bản Hán - Nôm như vậy chỉ thoả mãn một số phương diện chủ quan nhất định mà không khôi phục đầy đủ văn bản nguồn gốc, không đáp ứng được yêu cầu cao của giới nghiên cứu và cũng không giúp được cho bạn đọc hình dung đúng đắn diện mạo tác phẩm xưa. Cũng với tác phẩm Thiền uyển tập anh, đôi khi vì những quan niệm ngoài khoa văn bản học mà người biên dịch đã loại bỏ ngay cả từng thiên truyện, chẳng hạn việc lược bỏ truyện Quốc sư Minh Không được giải thích: "Tại đây Thiền uyển tập anh (bản Vĩnh Thịnh) cũng chép việc Quốc sư Minh Không chữa bệnh hoá hổ cho Lý Thần Tông, tương tự như trong Lĩnh Nam chích quái, lại có những đối thoại xa lạ với Phật giáo, ngờ do người in bản Vĩnh Thịnh thu nạp vào một cách thiếu cân nhắc. Vì lí do đó chúng tôi tạm lược bỏ truyện Minh Không, không đưa vào bản dịch này" (6). Hiển nhiên những phương pháp khảo sát và cách thức quan niệm văn bản kiểu này làm mất đi tính hệ thống, tính hoàn chỉnh của nguyên tác; và kéo theo đó sẽ làm cho giới nghiên cứu và bạn đọc nói chung tiếp nhận sai lệch diện mạo tác phẩm. Thêm nữa, khi khảo sát vấn đề văn bản Tân đính Lĩnh Nam chích quái cũng như đánh giá thao tác biên soạn, trích tuyển của người hiện đại với bản dịch này, GS. Bùi Văn Nguyên nhấn mạnh: "Trở lại với Vũ Quỳnh, tác giả Tân đính Lĩnh Nam chích quái với giả thiết Vũ Quỳnh biết Trần Nhân Tông, tổ phái Yên Tử, là tác giả Lĩnh Nam chích quái, thì chắc chắn Vũ Quỳnh sẽ không dùng chữ "tân đính", vì ông không có quyền đính chính mới, ông chỉ có quyền viết bổ sung. Thật ra, cũng không nên bổ sung, mà phải tôn trọng sách cũ đời Trần, chỉ có thể chắp nối (tức tục biên). Nhân đây tôi lưu ý rằng đến lượt người hiện đại khi làm sách cũng lại không tôn trọng tính toàn vẹn, hoàn chỉnh ở văn bản Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh với quan niệm "dựa theo văn bản của Bùi Văn Nguyên, có bổ sung chú thích và lược bớt tên truyện biền ngẫu cho ngắn gọn hơn" (7). Cách biên soạn, trích tuyển, thay đổi câu chữ như thế rõ ràng đã ảnh hưởng đến diện mạo văn bản Tân đính Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh. Vấn đề đặt ra ở đây là cần có một quan niệm khoa học về văn bản Hán - Nôm, nghĩa là cần phiên dịch toàn văn, cần tôn trọng đến tối đa diện mạo và chỉnh thể các văn bản nguồn gốc.

Trong những năm gần đây đã xuất hiện thêm nhiều bộ tuyển tập, toàn tập về từng tác phẩm, tác gia, giai đoạn, loại hình và thể loại văn học. Đây là một cố gắng đáng ghi nhận, đặc biệt với thành công ở các bộ toàn tập về thể thơ văn tác gia lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu... Cũng cần nói thêm rằng, trong tình hình việc sưu tầm, phát hiện văn bản mới tương đối chững lại, bản thân các tư liệu được gọi là "mới" cũng chỉ có ý nghĩa vi chỉnh, bổ sung một vài điểm nào đó, khó có khả năng làm thay đổi diện mạo mỗi giai đoạn văn học..., thì việc hướng tới tổng hợp, biên soạn các công trình lớn là cần thiết (như các nước thuộc vùng văn hoá "khối chữ vuông" Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc đã làm khá tốt). Song theo chúng tôi, trước khi đi đến xây dựng các bộ toàn tập, tổng tập đồ sộ thì lại rất cần rà soát lại tình hình văn bản từng tác phẩm, từng tác giả một cách cụ thể, chi tiết, hệ thống. Bởi lẽ ngoài tác phẩm Thiền uyển tập anh đặc biệt quan trọng còn chưa được quan tâm đúng mức trên kia, nói ngay với các tác phẩm khá quen thuộc như Việt điện u linh (1329), Lĩnh Nam chích quái (1492) thì thực chất tác giả là ai, quá trình diến biến văn bản ra sao, số lượng truyện trong đó cụ thể là bao nhiêu và câu chữ ở các dị bản khác nhau thế nào.... quả thực vẫn là câu hỏi chưa dễ trả lời. Như vậy, nếu bản thân biệt tập (tập lẻ, tập riêng) chưa được xử lý thật tốt thì việc xây dựng các vựng tập (tập lớn, toàn tập, tổng tập) đương nhiên cũng chưa đủ độ tin cậy và trước sau cũng phải làm lại. Rõ ràng khi các biệt tập Thiền uyển tập anh, Tam tổ thực lục, Thánh đăng ngữ lục, Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái.... chưa được biên dịch thật chuẩn xác, chu toàn thì làm sao chúng đủ tư cách khoa học đứng vững vàng trong một bộ tuyển tập, toàn tập hay tổng tập? Thêm một vài dẫn chứng cho thấy từng điểm trong sợi dây chuyền các bộ sách lớn kiểu này nhất thiết cần phải tháo gỡ, làm lại, chẳng hạn với việc xuất hiện công trình khảo cứu công phu Những vấn đề văn bản học "Quân trung từ mệnh tập" của Nguyễn Trãi (1998) hay việc lần đầu tiên công bố chính xác, đầy đủ văn bản Nam Ông mộng lục (1999), .v.v..

Từ một vài khía cạnh đã nêu chúng tôi muốn nhấn mạnh thêm quan niệm về tính hoàn chỉnh của các văn bản Hán - Nôm, về yêu cầu xử lý thật tốt các biệt tập trước khi tính đến xây dựng các vựng tập. Do đó nhiệm vụ đặt ra trước mắt vẫn phải là tiếp tục kế thừa thành tựu lớn học giả đi trước, tiến hành hệ thống hoá, khảo sát và so sánh kỹ lưỡng các nguồn văn bản; xác lập bản trục, khảo hiệu nguyên văn và bản hiệu đính; từng bước rà soát lại bản dịch và phấn đấu có được nhiều biệt tập thật sự có giá trị khoa học. Công việc nặng nề này trước hết đặt lên vai các nhà Hán học - các nhà nho tân học không chỉ thành thục nghệ thuật chuyển chữ ra chữ mà còn cần có trình độ tư duy nghiên cứu sâu sắc, có quan niệm thực sự khoa học về văn bản - để tiến tới vài ba chục năm nữa chúng ta sẽ có được những bộ vựng tập kho tàng dịch bản Hán - Nôm đầy đủ, chính xác.

Chú thích:

1. Xem Bùi Duy Tân: Bàn thêm về văn bản và tác giả bài thơ Nam quốc sơn hà. Tạp chí văn học, số 10 - 1996, tr.29 - 33. In lại trong sách Khảo và luận một số tác gia - tác phẩm văn học trung đại Việt Nam. Tập I, Nxb Giáo dục, H.1999, tr.13 -22.

2. Hà Văn Tấn: Lịch sử, sự thật và sử học. Báo Tổ Quốc. số 401, tháng 1 - 1988. In trong Giáo sư sử học, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997, tr.85 - 94.

3. Xem Văn học 9, Tập Một (Đỗ Bình Trị - Bùi Duy Tân chỉnh lý). Nxb Giáo dục, H, 1995, tr.29.

Bùi Duy Tân: Sđd: tr.22.

4. Nguyễn Hữu Sơn: Để hiểu bài giảng văn học cổ trong sách giáo khoa... Văn nghệ Tp. Hồ Chí Minh, số 23 - 1999; In trong Văn học và tuổi trẻ, Tập 40 - 1999, tr. 20 - 23; In lại trong Điểm tựa phê bình văn học. Nxb Lao động, H, 2000, tr.57 - 64.

5. Phạm Tú Châu: Xác định tính chất và bối cảnh ra đời bài Cảm xúc khi đọc Phật sự đại minh lục của Trần Thánh Tông qua nghiên cứu so sánh. Tạp chí Hán - Nôm, số 3 - 1998, tr.39.

6. Thiền uyển tập anh, Phân viện Nghiên cứu Phật học - Nxb Văn học xuất bản, H, 1990, tr. 213.

7. Bùi Văn Nguyên: Nỗi niềm và cố gắng của Vũ Quỳnh khi ông viết Tân đính Lĩnh Nam chích quái. Tạp chí Văn học, số 8-2001, tr.4.

Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.507-516

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm