VI | EN
61.Bài băn bia THUẬN AN BÁT THẬP VẬN do vua Tự Đức làm (TBHNH 2002)
TBHNH2002

BÀI VĂN BIA THUẬN AN BÁT THẬP VẬN
DO VUA TỰ ĐỨC LÀM

TRẦN THỊ THANH

Trường Đại học Khoa học Huế

I. Vài nét về bài văn bia Thuận An bát thập vận và cửa biển Thuận An

        Cửa biển Thuận An vừa là một địa danh lịch sử, vừa là một cảnh đẹp nổi tiếng của xứ Huế. Dưới triều Nguyễn, vua Thiệu Trị đã xếp Thuận An vào đệ thập cảnh (cảnh đẹp thứ mười) trong “thần kinh nhị thập cảnh (trong 20 cảnh đẹp của đất thần kinh).

        Cửa biển này nằm cách kinh thành Huế 13 km đường bộ và gần 10 km đường thuỷ về phía Đông Bắc. Tên xưa nhất của nó là Yêu Hải môn tục gọi là cửa Eo. Đến năm 1813 dưới thời vua Gia Long, nơi này được đổi là cửa Thuận An và sử sách triều Nguyễn gọi một cách chính thức là Thuận An hải khẩu. Đây là một vị trí chiến lược rất xung yếu về giao thông vận tải đường thuỷ, cũng như quốc phòng của Kinh đô, nên dưới triều Nguyễn một pháo đài lớn đã được dựng ở đây (năm 1813 nó có trong Đại nội, các vua triều Nguyễn đã cho chạm khắc toàn cảnh Thuận An hải khẩu trong đó có cả hình ảnh toà thành này vào Cửu đỉnh.

        Các vua Triều Nguyễn, từ Minh Mệnh đến Thiệu Trị và Tự Đức đều có thơ ca ngợi cảnh đẹp của cửa biển Thuận An và coi đây là một kỳ quan của xứ Huế. Riêng vua Tự Đức, ông đã làm khoảng 100 bài thơ về mảnh đất duyên hải này và Thuận An bát thập vận (gồm 160 câu, 80 vần) là một trong những bài thơ đó.

        Dưới triều vua Minh Mạng, ông đã cho xây dựng ở cửa biển Thuận An một hành cung để các vua về đây nghỉ mát trong những ngày hè, và nghỉ ngơi sau những lúc duyệtkhán những cuộc tập trận của thuỷ quân. Hành cung này đến năm 1876 được sửa sang lại. Nhân việc đó, vua Tự Đứcđã sai triều thần khắc bài thơ này vào bia và cho dựng ở hành cung. Hiện nay tấm bia vẫn còn nằm trong nhà bia trên nền hành cung cũ (nay là trường trung học cơ sở Thuận An).

        Về hình thức tấm văn bia được làm bằng chất liệu đá thanh, đặt trên đế bia cũng làm bằng đá xanh. Bia cao 2,35 m (tính từ đế đến đỉnh bia), dày 0,24 m. Lòng bia khổ 1,33 m x 0,23 m. Trán bia chạm hình long ẩn vân. Diềm bia chạm hình long, vân cách điệu. Toàn bộ nội dung bài thơ nói về cảm xúc của nhà vua khi đứng trước một kỳ quan của tạo hoá bởi “cửa biển Thuận An là miệng cười duyên dáng của nàng sông Hương”. Toàn bộ vẻ đẹp tự nhiên thuần khiết của dòng sông Hương, niềm tự hào của xứ Huế thơ mộng đã lan toả về đây, để vùng cửa biển ấy toả ngát một trời thơ, làm say lòng nhiều tao nhân mặc khách.

II. Phiên âm và dịch nghĩa bài văn bia Thuận An bát thập vận

       1. Nguyên văn chữ Hán:

御 製 詩

順 安 八 十 韻

不 出 門 庭 外

焉 知 天 地 寬

神 京 標 勝 致

造 物 設 奇 觀

俗 效 傳 腰 錄

嘉 名 錫 順 安

長 城 沙 一 帶

遠 障 樹 重 巒

江 海 分 纖 界

源 流 歷 萬 灘

自 然 通 戶 闢

屹 爾 鎮 城 盤

屯 壘 群 星 拱

閭 閻 比 屋 攢

蛤 州 中 虎 踞

鎮 浪 右 龍 蟠

港 曲 天 留 險

川 歸 派 自 湍

樹 屏 江 道 蔽

作 表 海 程 看

守 國 謀 宏 遠

朝 尊 世 淼 漫

魚 鹽 生 聚 處

商 漕 往 來 團

奧 府 真 無 敵

歸 墟 諒 不 謾

歷 朝 常 命 駕

長 夏 屢 停 鑾

衛 士 扶 葩 蓋

舟 師 泛 木 蘭

羽 旄 晴 有 色

鉦 鼓 肅 無 讙

岸 惹 香 盆 靄

流 諧 劍 珮 珊

威 儀 咸 穆 穆

順 路 豈 曼 曼

倏 忽 臨 行 殿

從 容 繫 小 欄

詰 戎 奚 弛 備

就 請 為 承 歡

水 陸 排 蛇 陣

師 徒 整 鶡 冠

擲 毬 光 灼 灼

射 俑 力 單 單

川 岳 縱 橫 勢

風 雲 變 化 端

令 何 殊 徙 木

韜 必 究 登 壇

巨 駁 憑 沙 礫

危 旌 拂 日 丹

電 飛 騰 火 藥

霆 擊 走 金 丸

餘 響 濤 猶 怒

飛 煙 霧 正 漫

鯨 逃 休 恃 屈

蛟 蟄 欲 翻 瀾

極 遠 仍 堪 達

無 堅 不 立 鑽

也 能 祈 爾 爵

何 吝 錫 之 鞶

備 豫 先 心 養

愉 怡 後 色 難

祛 炎 惟 小 扇

薦 爽 適 輕 紈

珠 漾 投 香 餌

漪 敲 挈 竹 竿

金 鉤 纔 一 下

玉 尺 已 頻 檀

竹 膾 求 鮮 膩

調 羹 合 辣 酸

瓊 卮 虔 獻 壽

彩 戲 幸 加 餐

睡 穩 簾 垂 竹

涼 宜 席 拭 芄

習 勞 還 駁 射

虛 費 豈 珠 彈

遠 望 周 寰 宇

高 樓 擬 井 翰

洪 纖 皆 歷 歷

潮 汐 自 洹 洹

巨 浸 涵 雲 漢

奔 濤 聘 雪 鸇

星 宸 分 隱 現

日 月 互 溫 寒

兔 湧 燈 猶 韞

烏 騰 瘺 未 闌

樓 臺 迷 蜃 吐

霄 漢 邈 鵬 摶

鳥 女 魂 仍 恨

鮫 人 淚 豈 乾

波 神 遙 跨 鯉

僊 呂 忽 乘 鸞

何 處 真 壺 嶠

其 中 植 玉 玕

松 喬 空 杳 渺

秦 漢 重 盤 桓

不 免 隨 羊 跡

胡 為 食 馬 肝

遊 仍 循 夏 諺

步 莫 學 邯 鄲

雲 屈 隄 防 整

邰 陽 巿 肆 攤

化 鋪 盈 路 徑

船 集 列 江 干

浦 漵 迵 波 繞

筌 蔘 雜 木 攢

閒 拋 撈 月 罟

靜 看 候 風 烷

自 適 親 鷗 鷺

居 奇 裕 蟹 鰻

如 梭 舟 汎 汎

竟 日 客 拌 拌

柳 蔭 青 林 鬱

漿 含 白 露

坐 陰 堪 避 暑

清 熱 勝 穿 禪

岸 掘 如 盆 淺

流 盈 豈 省 眢

化 工 周 島 澨

甘 飲 樂 瓢 簞

沙 軟 行 頻 塌

蓬 輪 步 不 攔

非 眈 仍 躑 躅

孰 笑 共 船 跚

蟛 媧 兒 爭 走

螵 蛸 藥 可 剜

身 中 兼 萬 物

眼 下 湊 千 般

與 眾 原 同 樂

齊 心 罔 詭 讕

吾 民 呈 土 產

食 品 賜 朝 官

謀 口 誰 遑 計

為 肱 願 共 胖

魚 麗 哥 在 留

鴻 漸慶 于 磬

有 志 思 調 捺

何 心 道 伐 檀

持 螯 懲 畢 卓

彈 鋏 哂 馮 驩

適 值 來 呈

分 甘 勝 炙 獾

沈 淪 猶 未 拔

寤 寐 得 無 歡

還 浦 應 方 孟

離 潮 豈 為 韓

今 貧 由 六 郡

古 盛 只 三 單

幾 得 伊 耕 野

空 懷 呂 釣 磻

儻 惟 堪 趙 魏

何 以 贖 林 潘

去 食 寧 無 信

當 勞 忍 使 摶

共 將 肝 腑 誓

無 忝 股 肱 殫

大 厲 茲 生 蓋

深 期 及 早 完

重 來 孚 燕 喜

百 韻 進 揮 翰

嗣 德 二 十 九 年 七 月 初 三 日

       Phiên âm:

Ngự chế thi

THUẬN AN BÁT THẬP VẬN

Bất xuất môn đình ngoại.

Yên tri thiên địa khoan.

Thần kinh tiêu trắng trí.

Tạo vật thiết kỳ quan.

Tục hiệu truyền Yêu lục.

Gia danh tích Thuận An.

Trường thành sa nhất đới.

Viễn chướng thụ trùng loan.

Giang hải phân tiêm giới.

Nguyên lưu tịch vạn than.

Tự nhiên thông hộ tịch.

Ngật nhĩ trấn thành bàn.

Đồn luỹ quần tinh củng.

Lư diêm tỷ ốc hoàn.

Cáp Châu trung hổ cứ.

Trấn Lãng hữu long bàn.

Cảnh khúc thiên lưu hiểm.

Xuyên quy giang đạo tế.

Thụ bình giang đạo tế.

Tác biểu hải trình khan.

Thủ quốc mưu hành viễn.

Triều tôn thế miểu man.

Ngư diêm sinh tụ xứ.

Thương tào vãng lai đoàn.

Áo phủ chân vô định.

Quy khư lượng bất man.

Lịch triều thường mệnh giá.

Trường hạ lũ đình loan.

Vệ sĩ phù ba cái.

Chu sư phiếm mộc lan.

Vũ mao tình hữu sắc.

Chinh cổ túc vô hoan.

Ngạn nhạ hương bồn ái.

Lưu hài kiếm bội san.

Uy nhi hàm mục mục.

Thuận lộ khởi man man.

Điều hốt lâm hành điện.

Thung dung hệ tiểu lan.

Cật nhung hề thị bị.

Tựu thỉnh vị thừa hoan.

Thuỷ lục bài xà trận.

Sư đồ chỉnh hạt quan.

Trịch cầu quang chước chước.

Xạ dũng lực đan đan.

Xuyên nhạc tung hoành thế.

Phong vân biến hoá đoan.

Lệnh hà thù tỉ mộc.

Thao tất cứu đăng đàn.

Cự bác bằng sa lịch.

Nguy tinh phất nhật đan.

Điện phi đằng hoả dược.

Đình kích tẩu kim hoàn.

Dư hưởng đào do nộ.

Phi yên vụ chính man.

Kình đào hưu thị quật.

Giao trập dục phiên lan.

Cực viễn nhưng kham đạt.

Vô kiên bất lập toàn.

Dã năng kỳ nhĩ tước.

Hà lận tích chi bàn.

Bị dự tiên tâm dưỡng.

Du di hậu sắc nan.

Khư viêm duy tiểu phiếm.

Tiến sảng thích khinh hoàn.

Châu dạng đầu hương nhĩ.

Y sao xiết trúc can.

Kim câu tài nhất hạ.

Ngọc xích dĩ tần đàn.

Tác khoái cầu tiên nhị.

Điều canh hợp lạt toan.

Quỳnh chi kiền hiến thọ.

Thể hí hạnh gia xan.

Thuỵ ổn liêm thuỳ trúc.

Lương nghi tịch thức hoàn.

Tập lao hoàn bác xạ.

Hư phí khởi châu đàn.

Viễn vọng chu hoàn vũ.

Cao lâu nghĩ tỉnh hàn.

Hồng tiêm giai lịch lịch.

Triêu tịch tự hoàn hoàn.

Cự tẩm hàm vân hán.

Bôn đào sính tuyết chiên.

Tinh thần phân ẩn hiện.

Nhật nguyệt hỗ ôn hàn.

Thố dũng đăng do uẩn.

Ô đằng lâu vị lan.

Lâu đài mê thận thổ.

Tiêu hán mạc bằng đoàn.

Điểu nữ hồn nhưng hận.

Giao nhân lệ khởi can.

Ba Thần dao khoá lý.

Tiên lữ hốt thừa loan.

Hà xứ chân Hồ Kiệu.

Kỳ trung thực Ngọc Can.

Tùng Kiều không yểu điệu.

Tần Hán trọng bàn hoàn.

Bất miễn tuỳ dương tích.

Hồ vi thực mã can.

Du nhưng tuần Hạ Ngạn.

Bộ mạc học Hàm Đan.

Vân Quật đê phòng chỉnh.

Thai Dương thị tứ than.

Hoá phô doanh lộ kính.

Thuyền tập liệt giang can.

Phố tự hồi ba nhiễu.

Thuyên sâm tạp mộc hoàn.

Nhàn phao lao nguyệt cổ.

Tĩnh khán hậu phong hoàn.

Tự thích thân âu lộ.

Cư kỳ dụ giải man.

Như thoa chu phiếm phiếm.

Cánh nhật khách phan phan.

Liễu ấm thanh lâm uất.

Tương hàm bạch lộ đoàn.

Toạ âm kham tỵ thử.

Thanh nhiệt thắng xuyên đan.

Ngạn quật như bồn thiển.

Lưu doanh khởi tỉnh oan.

Hoá công chu đảo phệ.

Cam ẩm lạc biều đan.

Sa nhuyễn hành tần tháp.

Bồng luân bộ bất lan.

Phi đam nhưng trịch trục.

Thục tiếu cộng bàn san.

Bành oa nhi tranh tẩu.

Phiêu sao dược khả oan.

Thân trung kiêm vạn vật.

Nhãn hạ thấu thiên ban.

Dữ chúng nguyên đồng lạc.

Tề tâm võng quỷ lan.

Ngô dân trình thổ sản.

Thực phẩm tứ triều quan.

Mưu khẩu thuỳ hoàng kế.

Vi quăng nguyện cộng bàn.

Ngư lệ ca tại lữu.

Hồng tiệm khánh vu bàn.

Hữu chí tư điều nại.

Hà tâm đạo phạt đàn.

Trì ngao trừng Tất Trác.

Đàn kiệp sẩn Phùng Hoan.

Thích trị lai trình ngạc.

Phân cam thắng chá hoan.

Trầm luân do vị bạt.

Ngộ mị đắc vô hoan.

Hoàn phố ưng phương Mạnh.

Ly triều khởi vị Hàn.

Kim bần do Lục quận.

Cổ thịnh chỉ tam đan.

Kỷ đắc Y canh dã.

Không hoài Lữ điếu bàn.

Thảng duy kham Triệu Nguỵ.

Hà dĩ thục Lâm Phan.

Khứ thực ninh vô tín.

Đương lao nhẫn sử đoàn.

Cộng tương can phủ thệ.

Vô thiểm cổ quăng đàn.

Đại lệ tư sinh cái.

Thâm kỳ cập tảo hoàn.

Trùng lai phu yến hỷ.

Bách vận tiến huy hàn.

(Tự Đức nhị thập cửu niên thất nguyệt sơ tam nhật)

       2. Dịch nghĩa:

Ngự chế thi

TÁM MƯƠI VẦN VỀ THUẬN AN

Không ra khỏi kinh thành.

Sao biết trời đất rộng.

Thần kinh nêu danh thắng.

Tạo vật xếp kỳ quan.

Tương truyền tên Eo cửa.

Vua ban danh Thuận An.

Thành dài một dải cát.

Bình phong xa lớp cây.

Biển sông không ranh giới.

Nguồn nước trải thác ghềnh.

Tự nhiên thông cửa lớn.

Thành cao ngất quanh co.

Đồn luỹ như sao chụm.

Làng xóm sát tựa nhau.

Cáp Châu thế hổ cứ.

Trấn Lãng dáng rồng nằm (1).

Cảng sâu tạo thế hiểm.

Sông hợp nhánh đổ về.

Bên bờ trùm cây mọc.

Làm nêu dẫn nước về.

***

Giữ nước mưu đồ lớn.

Triều dâng thế nước tràn.

Nơi dân chài sinh sống.

Tàu buôn qua lại luôn.

Ẩn chứa nguồn của cải.

Về lập chợ thật nên.

Trải các triều vua trước.

Thường tránh nắng ở đây.

Vệ sĩ nâng lọng hoa.

Thuỷ binh thuyền rẽ sóng.

Cờ phướn rực sắc trời.

Trống chiêng khua rộn rã.

Hương khói ngút ngàn bờ.

Kiếm bội hoà dòng nước.

Hết thảy thật uy linh.

Đường xuôi thật rộng rãi.

Bỗng chốc tới hành cung (2)

Ung dung cột dây ngựa.

Sai chuẩn bị cung tên.

Cuộc vui xin truyền lệnh.

Thuỷ bộ bày trận xà,

Thầy trò chỉnh trang phục.

Đá cầu loang loáng bay.

Bắn tên lao vun vút.

Thế sông núi tung hoành.

Tựa gió mây biển hoá.

Cây đổ khi lệch truyền.

Lên đàn bàn thao lược.

Cất mịn đặt súng to.

Giữa trời cao cờ phất.

Lửa vọt ánh chớp bay.

Đạn nổ vang rền tiếng.

Dư âm sóng nộ cuồng.

Sương mờ bay tựa khói.

Hang thẳm kình chốn sâu.

Giao long nép sóng cả.

Trúng được nơi cực xa.

Cứng bền nên đứng vững.

Thật xứng danh thần công.

Sao tiếc vành đai thiếc.

***

Phụng dưỡng trước dốc tâm.

Đạo hiếu sau vui vẻ (3).

Xua nóng quạt nhỏ này.

Khiến nhẹ lâng sảng khoái.

Quăng mồi câu xuống nước.

Sóng xao kéo cần tre.

Lưỡi câu vàng mới hạ.

Dây câu ngọc đã rung.

Cá béo tươi làm bữa.

Canh chua nên vị cay.

Chén quỳnh dâng chúc thọ.

Bữa ăn sáng vị thêm.

Buông mành say giấc ngủ.

Gió mát trải chiếu chơi.

Bắn súng xong mệt nhọc.

Há hư phí đận đâu.

Xa ngắm toàn vũ trụ.

Lầu cao nhìn xung quanh.

Lớn nhỏ đều thấy hết.

Triều lên xuống mênh mang.

Dải ngân Hà ngậm nước.

Sóng xô ngựa trắng in.

Giăng hàng sao ẩn hiện.

Ngày nóng đêm đổi hàn.

Trăng mọc đèn chưa rạng.

Chiều muộn qua ngang trời.

Lâu đài mờ ảo ảnh (4)

Chim bay tựa ngân hà.

Điểu nữ (5) hồn chưa thoả.

Giao nhân (6) lệ ngập trời.

Sóng thần rung khơi thẳm.

Tiên Lữ bỗng cưỡi loan.

Nơi nào đúng Hồ kiệu.

Trong đó trồng Ngọc Can.

Kiều Tùng (7) xa mờ mịt.

Tần Hán nỡ dứt tình.

Không tránh theo dấu cũ.

Làm sao ăn gan người.

Chơi xa theo Hạ Ngạn.

Chẳng học đất Hàm Đan.

Chỉnh đốn đê Vân Quật.

Dựng quán chợ Thai Dương (8).

Đường bày đầy hàng hoá.

Thuyền tấp nập ven sông.

Sóng vờn quanh bờ bãi.

Đó đơm buộc cọc cây.

Nhàn tung rớ mò nguyệt.

Lặng ngắm cờ tung bay.

Đàn cò bay gần đích.

Cua cá thoả thích ngược lướt.

Nườm nượp khách tới lui.

Liễu biếc xanh rừng rậm.

Lớp sương đọng trắng ngần.

Ngồi bóng râm tránh nắng.

Mái lộng tưởng cõi thiền.

Bờ hang như bồn cạn.

Dòng đầy há giếng khô.

Hoá công bày sông bãi.

Vui uống bầu cam lồ.

Cát mềm dưới chân lún.

Lướt sóng theo thuyền buồm.

Chẳng say nhưng chếnh choáng.

Ai cười tập tễnh đi.

Trẻ con tranh còng cáy.

Thuốc Phiêu Sao làm ra.

Trong mình kiêm vạn vật.

Dưới mắt bày muôn loài.

Chung vui cùng dân chúng.

Đồng lòng chẳng dối lời.

Dân ta trình thổ sản.

Thực phẩm triều quan ban.

Mưu miệng ai hiến kế.

Mong cùng chia miếng ngon.

Tới đăng (9) lấy cá ngon.

Đặt lên mâm mừng thọ.

Ấn tay cùng suy nghĩ.

Lòng sao theo phạt đàn (10).

Bắt cua răn Tất Trác.

Đàn gươm cười Phùng Hoan.

Thình lình dâng cá sấu.

Chia ngon nướng lợn rừng.

Trầm luân chưa rũ bỏ.

Thức ngủ chẳng được vui.

Về sông ưng học Mạnh.

Triều rút há làm Hàn.

Nay nghèo do lục tỉnh (11).

Xưa thịnh bởi tam Đan (12).

Được cơ Doãn cày ruộng (13).

Không mong Lã điếu Bàn (14).

Triệu Nguỵ chịu yên vị.

Phan Lâm chuộc (15) nỗi gì.

Bỏ ăn vì tin vắng.

Nhẫn nhục nén khôn nguôi.

Thề gan cùng tuế nguyệt.

Không chịu nhục phần nào.

Đời này mài chí lớn.

Kỳ sau sớm vẹn toàn.

Tin đến lại mừng rượu.

Ngọn bút trăm vần tuôn.

(Ngày mồng 3 thánh 7 năm Tự Đức thứ 29 (21 8 1876)

4. Chú giải:

(1). Cáp Châu, Trấn Lãng: là tên hai địa danh ở gần cửa Thuận An. Địa hình của nó rất đẹp. Tuy nhiên đồn luỹ cũng được dựng ở đây để đề phòng khi có biến.

(2) Hành cung: là nơi triều đình nhà Nguyễn xây ở dưới Thuận An để làm chỗ nghỉ ngơi của các vua khi về tuần hạnh (nay là trường Trung học cơ sở Thuận An) nơi còn lưu lại dấu vết cũ là nhà bia và tấm văn bia).

(3) Vui vẻ: là dịch từ chữ “sắc nan”. Bởi con giữ hiếu với cha mẹ, mà khó nhất là giữ sắc mặt thường thấy vui vẻ.

(4) Lâu đài mờ ảo ảnh: là dịch từ câu “Lâu đài mê thẩn thổ”. Bởi vì “thận khó” tức là loài giao long dưới biển thở hơi ra. Người Tàu thời xưa cho rằng: loài giao long thở ra thì hơi bốc lên mặt biển tạo nên thành quách, lâu đài mờ mờ, ảo ảo mà người nào có con mắt tinh tế sẽ nhìn ra.

(5) Lấy điển tích từ truyền thuyết Trung Quốc. Truyện kể rằng: ngày xưa có nàng Tinh Vệ, con vua Hiên Viên thời Tam Hoàng Ngũ Đế bị chìm thuyền chết ở biển, sau hoá thành con chim ngày ngày miệt mài ngậm đá ném lấp biển, với hy vọng có lúc đầy để không còn người chết đuối. Dùng điển tích này tác giả muốn nói lên tâm trạng của mình, bởi giữa ý nguyện của một ông vua cách rất xa với hiện thực đã xảy ra.

(6) Giao nhân: Nghĩa là người Giao sống dưới nước như cá, khi khóc nước mắt biến thành hạt ngọc châu (theo sách “Báu vật chí” của Trung Quốc).

(7) Kiều, Tùng là 2 vị tiên thời xưa tên là Xích Tùng Tử và Vương Kiều.

(8) Vân Quật và Thai Dương là 2 địa danh ở gần cửa Thuận An.

(9) Đăng: là dụng cụ để bắt tôm cá của những người dân chài.

(10) Phạt đàn: là tên một bài thơ trong Kinh Thi. Bài này mô tả những người nông dân suốt ngày chặt cây nhọc nhằn bên bờ suối mà chẳng được gì. Trong lúc đó, bọn “quân tử” ăn không ngồi rồi không cấy gặt mà lúa vẫn đầy kho, không săn mà thịt thú khô đầy bếp.

(11) Lục tỉnh: sáu tỉnh Nam Bộ: Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên lúc bấy giờ đã lần lượt rơi vào tay giặc Pháp.

(12) Tam đan: là 13 xứ Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ.

(13) Y Doãn là người giúp vua Hữu Sằn cày ruộng. Người có công giúp vua Thành Thang tiêu diệt nhà Hạ lập nên nhà Thương, sau ông còn giúp cháu vua là Thái Giáp bảo tồn đế nghiệp.

(14) Lã điếu Bàn: Nghĩa là Lã Thượng (Khương Tử Nha) người nghèo khó làm nghề đồ tể, đến lúc 70 tuổi đi câu cá ở Thạch Bàn (sông Vị) để kiếm cái sinh nhai. Tại đây ông gặp Tây bá vương tức Chu Văn vương và được mời về kinh. Ông giúp triều đại này diệt Ân lập Chu.

(15) Lâm, Phan: là Lâm Duy Hiệp và Phan Thanh Giản. Hai vị quan triều Nguyễn này được triều đình giao nhiệm vụ điều đình với thực dân Pháp để chuộc lại đất ở Nam kỳ.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.502-523

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm