VI | EN
62. Cụm văn bia cổ ở làng Tỳ Điện - Một di tích cần được khảo cứu (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

CỤM VĂN BIA CỔ Ở LÀNG TỲ ĐIỆN - MỘT DI TÍCH CẦN ĐƯỢC KHẢO CỨU

ĐẶNG VĂN THƯ

Huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh

Trung tâm huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh vào thời Lê Trung hưng có bốn thôn: Thượng, Trung, Trịnh, Miếu, được chia thành hai xã Tỳ Bà và Mạc Xuyên, sau bốn thôn hợp thành một làng gọi là làng Mạc. Năm 1955, làng Mạc cải tên thành làng Tỳ Điện, nay thuộc xã Phú Hòa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh.

Làng Tỳ Điện là đất “Địa linh - Nhân kiệt” sinh ra nhiều nhân vật nổi tiếng nên được lập thành nhiều nơi thờ tự. Xã Phú Hòa được phong tặng xã Anh hùng trong kháng chiến chống Pháp và Tỳ Điện đã lập được nhiều chiến công thời đó.

Làng Tỳ Điện có ba cụm bia đá cổ:

Cụm bia ở Từ chỉ họ Đặng thờ các chỉ vị họ Đặng được khắc xong năm 1675. Di tích được xếp hạng lịch sử cấp Nhà nước vào năm 1987.

Cụm bia ở đình và chùa thờ Thành hoàng làng và Hậu phật, đồng thời ghi tên những quý nhân có lòng công đức cho làng để xây dựng đình và chùa. Di tích này được xếp hạng lịch sử cấp tỉnh vào năm 2007.

Cụm bia ở đền thờ Hoàng Phi tiết nghĩa - Nguyễn Thị Kim (1765 - 1804) cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu đến tìm hiểu, song việc công nhận giá trị lịch sử của cụm bia này thì chưa. Tôi đưa thông tin này, mong các nhà nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu ý đến và có sự đánh giá đúng tầm lịch sử của nhân vật được thờ tự trong cụm bia của đền thờ này.

Cụm bia số 1 và số 2 đã được Nhà nước xếp hạng lịch sử tôi xin không giới thiệu trong bài viết này, nay tôi xin giới thiệu chi tiết về chủ nhân được thờ phụng tại cụm bia số 3: Hoàng Phi Tiết nghĩa Nguyễn Thị Kim(1).

Tiểu thư Nguyễn Thị Kim, húy Nguyễn Thị Cố, sinh năm Ất Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 26 (1765), tại thôn Thượng xã Tỳ Bà huyện Lương Tài phủ Thuận An xứ Kinh Bắc. Bà xuất thân trong một gia đình quý tộc, bố làm quan Tham đốc được phong Miên Trung Hầu, anh trai Nguyễn Quốc Đống tước Phương Thái hầu.

Năm 16 tuổi (Tân Sửu - 1781), Tiểu thư được tuyển vào Cung sắc phong Hoàng phi của vua Lê Chiêu Thống,

Năm 21 tuổi (Bính Ngọ - 1786), Hoàng phi sinh Nguyên tử (con trai đầu lòng).

Năm 24 tuổi (Kỷ Dậu - 1789), vua Quang Trung kéo quân ra Bắc Hà đánh bại quân Thanh, Lê Chiêu Thống bỏ nước chạy sang nhà Thanh, cùng đi có anh trai của Hoàng phi là Phương Thái Hầu Nguyễn Quốc Đống. Hoàng phi chạy theo, ra đến bờ sông Nhĩ Hà (sông Hồng) thì cầu phao qua sông bị đứt, bà quay lại rồi tìm đường trốn về quê Tỳ Bà, sau xuống tóc đi tu ở chùa Dương Nham, huyện Giáp Sơn (nay thuộc huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương), suốt 19 năm không ai biết.

Năm Nhâm Tý (1792) Nguyên tử lên 6 tuổi bị mắc bệnh đậu mùa và mất ở đất Thanh. Năm sau (Quý Sửu - 1793), vua Lê Chiêu Thống cũng băng hà.

Năm Giáp Tý, niên hiệu Gia Long thứ 3 (1084), quân thần đi theo Lê Chiêu Thống có Lê Quỳnh, Nguyễn Quốc Đống làm tớ tấu lên vua Thanh xin được chuyển hài cốt Vua, Hoàng Thái hậu, Nguyên tử,… về nước và được vua Thanh chiếu chuẩn cho. Ngày 15/8 năm đó, đoàn phục dịch đưa hài cốt Vua về tới ải Nam Quan, triều Nguyễn cử quan Hiệp Trấn Bắc Thành Đặng Trần Thường đi tiếp nhận di hài cốt của vua Lê. Hoàng phi, năm đó 39 tuổi, cũng theo đoàn đi đón hài cốt của chồng và con. Đoàn đi tiếp nhận hài cốt lúc đi về đã nghỉ qua đêm ở đền thờ Trà Quận Công Đặng Thế Công tại thôn Phúc Lãm, xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (tên ngày nay), dân làng Phúc Lãm còn truyền tụng lại đến ngày nay.

Từ ngày nhìn thấy di hài cốt của chồng và con, bà Nguyễn Thị Kim mỗi ngày chỉ uống hai chén nước cháo rồi túc trực bên quan tài. Ngày 10/10 thì cải khâm hài cốt sang quách mới, Hoàng phi liền uống thuốc độc tự tử theo chồng và con. Ai nghe tin ấy đều thương xót, xứ thần nhà Thanh bấy giờ đang ở đấy cũng than thở ngợi khen.

Ngày 13/10, các quan sắm quách khâm liệm cho Hoàng phi, ngày 28 cùng rước xuống thuyền đưa về Thanh Hóa. Ngày 24/11, các quan làm lễ an táng Vua, Thái Hậu, Hoàng phi và Nguyên tử ở cạnh lăng vua Lê Hiển Tông trên núi Bàn Thanh thuộc xã Bố Vệ, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Vua Gia Long giao cho 20 mẫu ruộng để xã Bố Vệ thờ cúng.

Hoàng phi chết theo chồng, người khắp trong nước và cả người Trung Quốc đều khen bà tiết nghĩa. Hiệp Trấn Bắc Thành Đặng Trần Thường, sau khi hoàn tất công việc được giao đã có câu khóc bà:

Phiên âm: “Tiết nghĩa tàn đăng hạ

Cương thường nhất chước trung”

Dịch nghĩa:

“Tiết nghĩa dưới ngọn đèn tàn

Cương thường nhất chỉ có chết”

Tại xã Tỳ Bà, vua Gia Long cho lập đền thờ và dựng bia khắc chữ: “Khâm tử An trinh tuẫn tiết Nguyễn Thị Kim chi môn”. Nghĩa: “Kinh ban cho cửa nhà Nguyễn Thị Kim là người An trinh chết theo tiết”

Năm Đinh Mùi, vua Tự Đức nguyên niên (1847), Tri huyện Lương Tài Lê Khắc Cầm về nhậm chức đến viếng đền bà thấy: “quê hương Lương Tài có người trinh nghĩa như vậy thật là hạn hữu ở đời, nên để gương này mãi mãi cho đời sau”. Ông đã vận động Hương lý các thôn, xã trong huyện góp công, góp của xây dựng lại thành một am thờ có quy mô hơn. Am thờ mới có tường bao quanh, phía trước dựng hai cột đồng trụ, tậu thêm một mẫu 2 sào ruộng cấp cho xã Tỳ Bà luân lưu canh tác hàng năm lấy hoa lợi chi vào việc tứ thới, bát tiết phụng sự cúng lễ.

Năm Tân Hợi, Tự Đức thứ 4 (1851), Lê Khắc Cầm dựng thêm Trinh Nghĩa Am bia ký, khối bia có kích thước: 120x80x35cm, khắc đủ 4 mặt chữ Hán cùng 2 tấm bia nhỏ hiện còn lưu giữ ở sân đền.

Hiện nay, đền thờ bà Nguyễn Thị Kim vẫn còn và đã được nhiều lần tôn tạo. Đền tọa lạc trên một khu đất rộng chừng 200m2, phía tây bắc làng Tỳ Điện, cách đình làng 50m.

Một tấm bia khổ 120x90x50cm dựng giữa ban thờ khắc Hán tự có nội dung như sau (do cụ Nguyễn Viết Quý phiên âm):

Cố

Anh

Phong

Vạn

Cổ

Tồn

Trinh Nghĩa Am Ấn Bảo

Sắc phong Hoàng đế Gia Long

An Trinh Tuấn Nghĩa

húy

Nguyễn Thị Kim

 

Nguyễn

Triều

Gia

Tặng

Thiên

Thu

Tạo

Chi môn Thuận An phủ Lương Tài huyện

Tri huyện Nguyễn Đăng Sỹ phụng khắc


        Đồng binh Chương sự Tô phái hầu Nguyễn Huy Túc (bề tôi cũ của nhà Lê) đã làm một bài thơ Nôm, 126 câu, thể song thất lục bát, được khắc vào bia kể lại sự tích này.

Mở đầu bằng 4 câu:

“Đất Thuận An cạnh sông Thiên Đức(2)

Người đời xưa gọi ấp Tỳ Bà,

Khúc Tỳ mượn ý đặt ra

Trời sinh người đẹp, sánh hoa đại đề(3)

Kết thúc bằng 6 câu:

Thân khuê các giúp bề tiết giáo

Mặt phấn son phụ đạo cao hình(4)

Sơ thơ cù cát đã đành(5)

Trúc lý vẫn đẹp, lưu danh muôn đời(6)

Người xưa làm việc dễ rồi,

Nay làm việc khó, không người đó sao?!(7)

Trên mộ bia nhỏ còn ghi lại 6 câu thơ của Tri huyện Hoàng Tấn Đạt (cụ Nguyễn Viết Quý phiên âm, tác giả lược dịch):

“Đạo cương thường ngàn năm ghi bia đá

Trí ở đời, thiên hạ ngẫm mà soi

Tình nghĩa vợ chồng, thủy chung như nhất

Mãi muôn đời nhật nguyệt hãy chứng cho

Ở trời đất hỏi ai tuấn kiệt?

Thân nữ nhi đạo cũng ngời trong”

Còn một số thơ ca của các văn nhân, mặc khách đến viếng thăm đền có đề tặng (di bản đã mất) nhưng nhân dân Tỳ Điện và con cháu bà còn truyền tụng, vì khuôn khổ của bài viết tác giả không trình bày xin quý vị lượng thứ.

 

Chú thích:

(1) Bài viết dựa trên 4 cứ liệu sau: 1. Khảo sát tại chỗ đền Bà làng Tỳ Điện; 2. Chuyến khảo sát lịch sử thờ Đặng Thế Công Thành hoàng làng Phúc Lãm, xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, tháng 2/1999; 3. Tiểu thuyết lịch sử “Hoàng Lê nhất thống chí” của Ngô gia văn phái; 4. Đại Nam thực lục chính biên (Triều Nguyễn - Tập I).

(2) Thiên Đức là tên cổ của con sông Đuống ngày nay, có nhánh chạy sát làng Tỳ Điện, nay gọi là sông Lai Hạ.

(3) Hoa Đại Đề: tên một khúc ca cổ ví người con gái đẹp như hoa.

(4) Tiết giáo, Cao hình: việc giáo dục của ông Tiết và việc hình án của ông Cao Dao, hai ông là danh thần mẫu mực dưới đời vua Thuấn.

(5) Hai bài thơ: Cù Mộc và Cát Đàm trong kinh thi đều ca ngợi các bà Hậu, Phi nhà Chu.

(6) Tương truyền khi vua Thuấn chết ở núi Tương Ngô, hai bà vợ là Nữ Anh và Nga Hoàng đến viếng khóc lóc thảm thiết. Nước mắt của hai bà thấm vào các khóm trúc thành ra các cây trúc có vân rất đẹp, tục gọi là “Trúc Tương Phi”. Sau hai bà cùng nhảy xuống sông Tương chết theo chồng.

(7) Hai câu thơ này ý nói: Chết ngay theo chồng như Nữ Anh và Nga Hoàng là việc dễ, còn đã chịu đựng đau khổ một thời gian dài rồi mới chết như bà Nguyễn Thị Kim là việc khó./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.900-905)

Đặng Văn Thư
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm