62. Gia phả họ Lê ở làng Bồ Đề (TBHNH 2003)
GIA PHẢ HỌ LÊ Ở LÀNG BỒ ĐỀ
NGUYỄN ĐÌNH THẢNG
Đại học Huế
Cách đây không lâu, tôi được đến thăm từ đường họ Lê, ở làng Bồ Đề, được đọc một quyển gia phả viết bằng chữ Hán và các đạo sắc phong của Quận công Lê Văn Duyệt. Việc đánh giá công tội của ông xin giành cho các nhà sử học. Ở đây tôi chỉ giới thiệu tư liệu mà mình đã được đọc.
Bản gia phả gồm 50 tờ giấy bản, chép bằng bút lông rất đẹp. Nội dung được chia làm ba phần chính:
Phần đầu là lời tựa, nêu lên tông tích của họ Lê từ khi về định cư ở làng này. Trong lời tựa công trạng của hai anh em Lê Văn Duyệt và Lê Văn Phong được đề cập đến nhiều nhất:
Huynh nam, đệ bắc oai danh chấn;
Tử hiếu, thần trung tiết nghĩa cao.
Nghĩa là:
Anh trấn trong Nam, em trấn ngoài Bắc, uy danh lừng lẫy
Con tròn đạo hiếu, tôi vẹn lòng trung, tiết nghĩa nêu cao.
Trong lời tựa có nhắc đến nỗi oan của con cháu dòng họ Lê sau vụ biến Phiên An và cuối cùng được phục hồi danh dự.
Phần thứ hai là phần nội dung tộc phả được ghi từ đời thứ nhất vào thời Nguyễn Phúc Chu đến đời thứ 10 vào đầu thế kỷ XX.
Phần cuối cùng là nội dung bản án của Lê Văn Duyệt, đơn xin khai phục tước hàm cho ông của con cháu ông, một bài dụ của vua Tự Đức về việc khai phục nguyên hàm cho các ông Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Lê Văn Quân và Lê Chất là những công thần thời Gia Long và một bài chế riêng của vua Tự Đức đối với ông Lê Văn Duyệt. Ngoài ra còn có ba đạo sắc phong cho ông Lê Văn Duyệt và các giấy tờ khác có liên quan.
Theo gia phả thì, Lê Văn Duyệt là ông tổ đời thứ năm(5), người gốc làng Bồ Đề, thuộc tổng Lại Đức, huyện Mộ Hoa, phủ Tư Nghĩa (nay là thôn Bồ Đề, xã Đức Nhuận, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi). Ông sinh ngày mồng 6, tháng 9 năm Giáp Dần (1764). Bình sinh ông là người chính trực, anh minh, cương nghị hơn người, gặp bất kỳ việc gì cũng tỏ ra quả cảm và quyết đoán. Năm 17 tuổi, ông theo phò tá Nguyễn Ánh, sau đó cùng các tướng lĩnh đưa vua Gia Long đến thành Vọng Các (Bangkok) và lập được nhiều công lớn. Trong gia phả còn ghi ông là một thiên tướng giáng sinh, được thánh thần giúp, mỗi khi lâm trận đều bách chiến bách thắng, thế gian ít người được vậy ! Ông được vua Gia Long phong: “Vọng Các công thần, chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân Kiêm Giám Thần sách quân” và được sai vào làm Tổng trấn thành Gia Định, kiêm lý cả hai trấn Bình Thuận và Hà Tiên. Ông lâm bệnh và qua đời vào ngày 30 tháng 7 năm Nhâm Thìn (1832), thọ 68 tuổi. Ông được ban tứ sắc phong: Tả Vận công thần, Đô thống phủ chưởng phủ sự, làm Thái Bảo, tước Quân Công. Vì có công lớn nên ba đời tiên nhân của ông, kể từ bố ông trở lên đều được phong tước Hầu.
Cũng theo gia phả thì ông Lê Văn Toại có bốn người con trai, Lê Văn Duyệt là con cả rồi đến Lê Văn Oai, Lê Văn Phong và Lê Văn Đến. Lê Văn Phong cũng là người có tài thao lược, đã từng giữ chức Tả doanh Đô Thống chế, lãnh Phó Tổng trấn Bắc Thành và được tặng Tráng Võ tướng quân, Hữu Trụ quốc, hàm Thiếu Bảo. Vì Lê Văn Duyệt là “hoạn quan”, nên theo chỉ dụ của vua Gia Long, chọn người con trai cả của Lê Văn Phong là Lê Văn Yến lập tự cho Lê Văn Duyệt. Lê Văn Yến được ấm thụ chức Khinh Kỵ Đô úy, lấy công chúa An nghĩa, con gái thứ 10 của vua Gia Long làm vợ, nên được phong là Phò mã Đô úy.
Sau vụ biến Phiên An của Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt, vốn là người họ Bế ở Cao Bằng, kéo dài hơn hai năm (1836-1838), Lê Văn Duyệt bị triều đình khép tội “gây mầm mống phản nghịch”, nên lăng mộ của ông bị san bằng, 36 đạo sắc phong của ông bị thu hồi và bị thiêu hủy. Lần theo gia phả chúng tôi thấy, không chỉ riêng ông bị hình phạt, mà tất cả con cháu dòng họ Lê của ông đều bị ra lệnh hành quyết. 27 người con trai của Thiếu Bảo Lê Văn Phong không một ai còn sống sau năm 1838. Người thọ nhất cũng chỉ mới 30 tuổi. Đó là Phò mã Lê Văn Yến, người được lập tự cho Lê Văn Duyệt.
Gia phả còn ghi, Phò mã Lê Văn Yến có bốn người con trai là Lê Văn Hạo, Lê Văn Tải, Lê Văn Diễn và Lê Văn Minh. Hạo và Tải không được ghi rõ lý do chết sống thế nào. Riêng Diễn và Minh thì được tha tội chết mà phải bị đi đày, vì cả hai còn ở lứa tuổi “vị thành niên”. Đến đời vua Tự Đức, cả hai anh em còn sống sót này, mới được ân xá và được sung vào quân ngũ. Lê Văn Diễn được ấm thụ chức Đô úy, Lê Văn Minh vào quân ngũ và làm đến chức Chánh Lãnh binh.
Chúng tôi thấy, trong gia phả còn có đơn của Lê Văn Diễn gửi Thọ Xuân vương Miên Định, em ruột của vua Thiệu Trị, nhờ đề xuất với vua Tự Đức xin minh oan cho Lê Văn Duyệt và cho cả dòng họ mình. Chúng tôi xin trích dịch một số đoạn trong đơn để làm rõ vụ việc này.
“... Nguyên ông tôi là Ngài cố Lê Văn Duyệt. Trong năm Canh Tý (1780), Thế tổ Cao hoàng đế định vị ở Gia Định, ngài được tuyển vào làm nội giám. Ngài cùng Võ Tánh và 42 vị khác theo hầu xe vua sang Xiêm đến thành Vọng Các, trước sau được ghi công trạng. Sau khi thành Phú Xuân được khôi phục, ông tôi được dự vào hàng công thần thời Trung hưng. Năm Gia Long thứ 3 (1804), ông tôi được mông ân phong tặng chức tước cho ba đời về trước từ ông cố tôi trở lên. Năm Gia Long thứ 11 (1813), với tư cách là một công thần thời Vọng Các (Bangkok), ông tôi được phong chức: Tả quân Bình Tây tướng quân, kiêm chức Giám Thần sách, Tổng trấn Quận công vào trấn thành Gia Định. Tiếp đó được vua ban sắc chọn cha tôi là Lê Văn Yến làm người thừa tự cho ngài... Ông tôi ốm và qua đời vào năm Minh Mạng thứ 13 (1833). Ngay từ buổi đầu gặp vận gió mây, xông pha lửa đạn, ông tôi đã hiến dâng công lao nhỏ bé của mình. Sau khi nước nhà thu về một mối, ông tôi được ủy nhiệm trọng trấn một vùng hùng phiên. Trước sau một mực trung trinh, giữ lòng trong trắng. Công trạng cả cuộc đời của ông tôi được ghi trong chính sử và liệt truyện, rành rành như một bức chạm có thể khảo tra...
Thế rồi, sau vụ biến loạn Phiên An nổi dậy, ngài bị triều đình khép tội, truy lột tước quan, chết rồi mà vẫn còn bị hỏi tội. Họ tộc tiêu điều, gia đình ly tán. Tàn hồn lấp lánh, cuối cùng trở thành bóng ma, không người đơm cúng trải qua 15, 16 năm rồi...
Ngửa trông ơn vua rộng mở, tội tha công nhớ, không những anh em chúng tôi được tròn quyền sống, mà cha ông chúng tôi ở dưới suối vàng cũng hàm ơn khôn xiết. Tôi vốn chẳng dám nhiều lời chỉ biết nghĩ thầm. Từ khi nước nhà được khôi phục, các công thần tá dực, sống có tiếng vang chết có hiển hiệu, như trường hợp ông Ngô Hữu Hựu, bộ Hình, trước có can tội, sau con cháu ông kêu xin, ông được khai phục nguyên hàm, tước lộc đời đời được hưởng. Sau khi vụ án xảy ra, cha tôi cũng phải chịu tội và bị miễn chức lúc sinh thời. Về việc này các quan đại thần cùng nhau hợp nghị và đã nhiều lần thỉnh cầu minh oan, nhưng cho đến nay vẫn chưa được mông ân khai phục. Chúng tôi vô cùng cảm kích dám đem việc này trình bày đầy đủ. Cúi xin Ngài (tức Thọ Xuân Vương) thay mặt các quan đại thần đề xuất tâu lên, ngõ hầu ông tôi, cha tôi được mông ân lượng thứ...
Muôn đội ơn Ngài ! ”
Sau nhiều lần đề đạt tâu lên của Thọ Xuân Vương cùng các đình thần như Võ Xuân Cẩn, Phan Đình Bình, vua Tự Đức chính thức ban bài dụ khai phục nguyên hàm cho cả năm ông, gồm Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Đặng Trần Thường, Lê Văn Quân và Lê Chất là những công thần thời Gia Long. Trong bài dụ vua Tự Đức tỏ ra là một vị anh quân, phân tích công tội từng người khá rõ, cân nhắc thấu tình đạt lý. Đây là nguồn động viên lớn đối với con cháu các vị và phần nào an ủi, giảm nhẹ nỗi oan hờn của những người đã nằm sâu trong lòng đất.
Trong gia phả họ Lê còn có bài chế của vua Tự Đức, đối với ông Lê Văn Duyệt, tôi xin trích dịch một (số) đoạn để minh họa một phần công trạng của ông mà triều đình đã đánh giá:
“... Một công thần thời Vọng Các là ông Duyệt, Quận công Lê Văn Duyệt, gặp hội gió mây cùng theo xa giá, dự hàng trăm trận. Phụ dực hai triều, tiếng tăm rạng rỡ, công lợp núi sông. Trong thời Minh Mạng ông bị can tội gây nên mầm mống cho bọn phản nghịch. Sau khi ông mất sự việc mới xảy ra, nên buộc ông phải chịu tội. Phép nước khó khoan dung, nhưng nguyên nhân xảy ra vụ án, xét về tình cũng nên lượng thứ...
Trẫm noi theo cái chí của Tiên đế, nghĩ đến công cũ của các bậc huân thần, bèn sai đình thần đôi lầu ba lượt thẩm tra xác đáng, cùng nhau họp bàn, nhằm truy phục tước hàm cho ông và được thờ cúng như cũ. Nay trẫm gia ân truy phục nguyên hàm: Vọng Các công thần, chưởng Tả quân Bình Tây tướng quân, tước Quận công cho ông Lê Văn Duyệt. Chuẩn cho ông được đưa vào thờ ngang hàng với các công thần khác trong miếu “Trung Hưng công thần”. Lời cáo mệnh này được ban ra, cốt là để thỏa nỗi u uất của ông.
Than ôi ! Cái công không bao giờ bị vùi dập, cuối cùng tất phải truy phục... Dương gian có lời an ủi, xin ông ở chốn cửu tuyền hãy nhận cho. Dù ông đã qua đời, nhưng vẫn coi ông như ngày còn sống. Hãy kính cẩn vâng mệnh !
Ngày 17 tháng 4 năm Tự Đức thứ 21”.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr.474-479