62.HOÀ VANG HUYỆN CHÍ một quyển địa chí có giá trị (TBHNH 2002)
Thứ Năm, 29/03/2007 22:52
TBHNH2002
NGUYỄN ĐÌNH THẢNGĐại học Huế Tôi được Bảo tàng Đà Nẵng trao cho quyển Hoà Vang huyện chí và nhờ dịch. Ban đầu tôi cứ tưởng có lẽ người ta đã sao chép những gì đã có sẵn trong Đại Nam nhất thống chí, nói về địa chí tỉnh Quảng Nam chăng? Nhưng đâu có phải. Càng đọc tôi càng thấy những mặt đáng quí của nó. Quyển sách có chương mục hẳn hoi, có đầy đủ những điều mà người ta cần biết về một địa phương cụ thể như: thành trì, học hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, quan tấn, thi tập, từ miếu, tự quán v.v... Đặc biệt có những mục như: nhân tài, khoa bảng viết rất cẩn thận, nghiêm túc và đầy đủ. Sách dày 64 trang chép tay, mỗi trang có 12 dòng, mỗi dòng có từ 20 đến 25 chữ, viết theo thể chân hành. Văn viết sáng sủa, mạch lạc, dễ đọc và dễ hiểu. Tác giả là cụ Trần Nhật Tỉnh, đỗ bốn lần Tú tài, người làng Quan Nam, huyện Hoà Vang. Để thấy giá trị tập sách này, tôi xin nêu một vài chi tiết để làm ví dụ. Trong mục “sơn xuyên” có nói đến Hải Vân Sơn như sau: Núi này ở phía bắc huyện Hoà Vang, cách huyện lị chừng 38 dặm. Mạch núi bắt đầu từ phía tây giáp biên giới Việt Lào, chạy thẳng đến núi Kiền Kiền, núi Đại Tu Nông, giáp giới phủ Thừa Thiên. Núi có dạng “trùng loan điệp chướng”, cao tận mây trời, chạy thẳng đến tận bờ biển. Trên đỉnh có Hải Vân Quan. Đó là phần đất tiếp giáp giữa tỉnh Quảng Nam và phủ Thừa Thiên. Trước Hải Vân Quan vài trượng có vách núi đá đứng sững. Xưa kia quân Trịnh đắp luỹ để chống Tây Sơn, nên có tên là núi Lũy. Ở chân núi phía nam có núi Thông Sơn, tục gọi là núi Hành (chữ thông là củ hành). Từ xưa dân địa phương thường lấy nghề trồng hành làm nghề chính. Đất ấy trồng hành dễ sống và có nhiều hương vị, nên có tên ấy. Năm Minh Mệnh thứ 4 ban cho tên núi là Định Hải và đặt pháo đài ở đó. Về phía tây có núi Liên Sơn và Sảng Sơn. Đây là đường trạm đi qua. Năm Minh Mạng thứ 7 đổi tên núi là Thạch Lĩnh, đường núi gồ ghề, chân núi phía nam gối eo biển có đá lởm chởm nổi lên trong nước biển tựa như hòn non bộ. Sóng biển ập vào, nước phun lên như vòi rồng. Về phía đông bắc Hải Vân có nổi lên một ngọn núi, năm Minh Mạng thứ 21 được ban tên là Ngự Hải Đài. Ở đó có ngọn đèn biển, là nổi ranh giới phía bắc của cửa biển Đà Nẵng. Cùng trong mục “sơn xuyên”. Vũng này ở phía đông huyện Hoà Vang, cũng có tên là vũng Đà Nẵng. Trà Sơn nằm ở phía đông, Hải Vân Sơn ở phía bắc, sông Câu Đê ở phía tây, chu vi chừng 29 dặm có thừa. Nước sâu, bên ngoài có bình phong án ngự tránh được sóng dữ. Ghe thuyền khi gặp gió thường núp ở đây. Vũng này lại có tên là vũng Đồng Long. Khi Lê Thánh Tông đưa quân vào nam đánh Chiêm Thành, quân dừng lại ở Hải Vân Quan, nhà vua có câu thơ rằng:Tam canh dạ tỉnh Đồng Long nguyệt.Ngũ cổ phong thanh Lộ Hạc thuyền. Nghĩa là: Canh ba vắng mặt trăng chiếu xuống vũng Đồng Long. Năm tiếng trống trong làn gió thanh trong ngắm con thuyền Lộ Hạc. Trong mục “Từ miếu” có đền Vân Long. Đền này ở phía bắc huyện Hoà Vang, gần trạm Chơn Sảng. Tương truyền nơi này có loài thú rừng tê giác, dân địa phương rất hãi không dám qua đây. Có người tên là cai đội Vân rất giỏi võ nghệ, khi đó qua nơi này, cùng đánh nhau với loại thú rừng, cuối cùng cả hai đều bị thương và chết. Triều trước có đặt đền thờ và có sắc phong là Long Vân tôn thần. Câu chuyện được kể như sau: “Long Vân hầu, người họ Đặng ở xã Lệ Sơn, thuộc huyện Diên Phước, là con trai của Đặng Sĩ Lâm, đi lính được làm chức Cai đội và được phong tước hầu. Trên đường về thăm bố, khi đến phía nam Hải Vân Quan gặp sơn tê xuống khe nước, dân đều lo sợ. Cai đôi Vân và tê rừng đấu nhau từ giờ Mão đến giờ Ngọ. Tê rừng bị thương chết. Vân khát nước cũng chết luôn. Cư dân ở đây rất đỗi nhớ ơn ông, chôn cất tử tế và lập đền thờ. Khi có gia sự thường đến cầu đảo rất linh ứng. Sau đó họ hàng ông ở Lệ Sơn nghe tin ông mất, họ đến tận nơi đưa hài cốt ông về an táng bên mộ bố ông. Nay con cháu họ Đặng vẫn còn và đặt lệ cúng tế ông như cũ. Trong mục “Quan tấn” có nói đến thành Điện Hải như sau: Thành này ở về phía đông huyện Hoà Vang, cách huyện lỵ chừng 12 dặm về phía bên trái cửa biển Đà Nẵng. Chu vi 139 trượng, cao một trượng hai thước, hào sâu 7 thước, thành có ba cửa, một kỳ đài, 30 bệ pháo. Năm Gia Long thứ 12 đắp đài ở cửa Đà Nẵng, gần sát biển. Năm Minh Mạng thứ 4 thành được dời đến chỗ hiện nay. Năm Minh Mạng thứ 15 xây thành bao bọc. Năm Thiệu Trị thứ 7 xây thềm xếp đá. Năm Tự Đức thứ 11, quân Pháp đổ bộ vào Đà Nẵng, thành Điện Hải bị chiếm. Sau khi quân Pháp rút khỏi Đà Nẵng, bờ thành được nâng cao thêm một thước và có đặt lỗ châu mai. Trên đây là một vài chi tiết được rút ra từ phần địa chí của huyện Hoà Vang. Phần này sẽ nói đến các nhà khoa bảng và nhân vật lịch sử của huyện. Tính từ khoa Canh Ngọ (1810), niên hiệu Gia Long thứ 9 đến khoa Quí Mão (1903), niên hiệu Thành Thái thứ 15, các nhà khoa bảng trong huyện gồm có: một Tiến sĩ, 15 Cử nhân và 52 Tú tài. Có nhiều người đỗ hai lần tú tài trở lên. Đặc biệt có cụ Lâm Hữu Chánh, người xa Cẩm Toại, tổng An Châu Thượng, đỗ Tú tài lần đầu vào khoa Canh Tí (1840), niên hiệu Minh Mạng thứ 21. Qua nhiều khoa thi Hương trải qua các triều Thiệu Trị và Tự Đức, cụ đỗ tiếp 6 lần Tú tài nữa. Sau khi đỗ Tú tài lần thứ 7 cụ được bổ dụng Tri huyện, huyện Kim Thành (Hải Dương). Cụ Hà Văn Hải đỗ Hương cống khoa Canh Ngọ (1810), niên hiệu Gia Long thứ 9 là người khai khoa của huyện Hoà Vang dưới triều Nguyễn. Huyện Hoà Vang chỉ có một người đỗ đại khoa là Tiến sĩ Đỗ Thúc Tịnh. Hành trạng của Tiến sĩ Đỗ Thúc Tinh được ghi như sau: Ông người làng La Châu, tổng Phước Tường Thượng, đỗ Cử nhân khoa Bính Ngọ (1846) và đỗ Tiến sĩ khoa Mậu Thân (1848). Ông học rộng hiểu sâu, thông cả Nho, Y, Lý, bốc. Sau khi đỗ Tiến sĩ ông được bổ làm Tri phủ, phủ Thiệu Hoá. Đến nhận nhiệm sở chưa được bao lâu thì ông phải về quê chịu tang mẹ. Năm Tự Đức thứ 6, ông được tái bổ làm Tri phủ phủ Diên Khánh (Khánh Hoà). Từ xưa, nơi này phải chịu nhiều nỗi khổ cực của miền núi rừng. Đây là nơi cọp dữ có tiếng: “Cọp Khánh Hoà, ma Bình Thuận” Vừa đến nhận nhiệm sở ông đã thân hành đốc suất dân các làng sửa sang đường sá, săn đuổi cọp dữ, chẳng bao lâu cọp dữ đã phải lánh xa, dân làng được chiêu mộ từ các nơi đã lần lượt trở về. Xóm làng bắt đầu được qui tụ. Ông vận động các nhà giàu có giúp dân mua sắm nông cụ, trâu bò để khai khẩn đất hoang. Người già được nuôi nấng, người ốm được cứu chữa thuốc thang. Những nhà nghèo khó được chẩn cấp. Bọn cường hào gian ác bị trừng trị. Loạn du thủ du thực được răn đe. Năm Tự Đức thứ 8 (1855), ông được cải bổ Viên ngoại lang và được về kinh thăng chức Ngự sử. Nhưng cả hai lần đều được dân chúng cả phủ Diên Khánh kêu lên quan trên, xin cho ông được lưu nhiệm. Quan tỉnh Khánh Hoà dâng sớ tâu vua. Vua Tự Đức ban lời châu phê (chữ phê của vua viết bằng son đỏ) rằng: “Cai viên tại chức năng thanh bần tự thủ, tận tâm dân sự. Tiết cứ cai tỉnh thần đề đạt như xuất nhất từ. Tự thử liêm cán đễ nhân, tuân vi phủ huyện chi tối. Đỗ Thúc Tịnh trước tức hàng thực thụ Hàn lâm thị độc, nhưng lãnh cai phủ Tri phủ, dĩ vi thần lại chi khuyến. Khâm thử!” Nghĩa là: “Ông ấy đang ở đương chức, lại có khả năng giữ mình ở mức thanh bần, hết lòng vì dân. Cứ theo lời đề đạt của quan tỉnh thì ông ấy là người thanh liêm mẫn cán hết mình. Nay ta ghi tặng ông Đỗ Thúc Tịnh được đứng vào hàng thực thụ Hàn lâm viện Thi độc, nhưng vẫn giữ chức Tri phủ phủ ấy, để khuyên các quan lại khác noi theo. Hãy kính cẩn vâng mệnh!” Năm Tự Đức thứ 9, ông được thăng chức Án sát tỉnh Khánh Hoà. Năm Tự Đức thứ 11, ông lại được thăng Bố chánh sứ, chức quan đứng đầu tỉnh ấy. Cùng năm đó, ông được cử làm Khâm sai, sung chức Phó chủ khảo trường thi Gia Định. Năm Tự Đức thứ 14, ông được điều về kinh thăng chức Hữu thị lang và được nhận tấm huy chương “Rồng vàng”. Lúc này Pháp đã chiếm cứ Gia Định, các tỉnh Định Tường, Vĩnh Long liên tiếp bị thất thủ. Ông khẳng khái dâng sớ tâu vua, xin ra biên thuỳ chống giặc. Ông được vua khen ngợi và được triệu vào bệ rồng để tiếp kiến. Ông được bổ dụng chức Tuần phủ tỉnh Định Tường và nhận áo mũ ra đi. Đến nơi, ông treo bảng chiêu mộ binh lương. Chẳng bao lâu quân số lên đến hàng ngàn. Vũ khí tự tạo và lương thực các nơi được mang về đầy ắp. Ông tổ chức và chỉ huy nhiều trận tập kích quân giặc, liên tiếp thu nhiều trận thắng. Ngày 25 tháng giêng năm Nhâm Tuất (1862), chẳng may ông bị cơn bạo bệnh và qua đời ở trong quân. Năm ấy ông vừa tròn 45 tuổi. Được tin buồn, vua Tự Đức rất đổi đau thương và ban chiếu chỉ: “Trước đây, Gia Định, Định Trường thất thủ, Đỗ Thúc Tịnh khẳng khái xin đi vào nam, trước là để úy lạo binh sĩ, sau là chiêu mộ binh dân, toan lo việc cứu nước. Dù việc chưa thành, nhưng cái chí của ông đáng được khen ngợi. Nay chẳng may ông mất trong quân, ta rất đỗi đau buồn. Nay ghi vào điển chương truy tặng ông hàm thực thụ Tuần phủ tỉnh Định Tường, để chiếu theo đó mà cấp ban tử tuất. Nay cấp một tấm gấm thêu, năm tấm lụa, mười tấm vải, tám mươi lạng bạc, giao cho tỉnh thần Quảng Nam đưa về tận quê. Khi linh cữu đưa về đến nhà, các tỉnh thần hãy chuẩn bị lễ phẩm, vâng mệnh ta tổ chức lễ tế để an ủi linh hồn ông. Sau khi mọi việc xong xuôi, các tỉnh thần hãy xuất 200 quan tiền, để chi vào việc nuôi nấng con ông. Khi các con ông đến tuổi trưởng thành, Bộ sẽ phúc tấu để được lục dung. Hãy kính cẩn vâng mệnh!” “Hoà Vang huyện chí” là một quyển sách có giá trị trong việc nghiên cứu lịch sử và địa lý của một địa phương cụ thể, hiện được lưu trữ ở Bảo tàng Đà Nẵng. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.524-529
|