63.NAM VIỆT TIỀN TRIỀU LOẠI BIÊN tác phẩm mới tìm thấy ở Huế (TBHNH 2001)
NAM VIỆT TIỀN TRIỀU LOẠI BIÊN
TÁC PHẨM MỚI TÌM THẤY Ở HUẾ
Nhà nghiên cứu Hán Nôm - Huế
"Nam Việt Tiền Triều loại biên", một tác phẩm chép tay vừa được tìm thấy, không rõ tác giả. Tác phẩm có nội dung biên khảo các đề mục có quan hệ với "Tiền Triều", nghĩa là từ triều Lê trở về trước. Căn cứ nhiều chi tiết đã được trình bày trong sách thì tác phẩm có thể được viết tại Huế vào nửa sau thế kỷ thứ XIX. Sách dày 24 trang, mỗi trang có 16 dòng, mỗi dòng có trên 50 chữ. Ngoài phần chính có thêm cước chú khá rõ ràng. Nội dung biên khảo được chia thành 25 đề mục như: Thiên văn khảo, Địa lý khảo, Sơn xuyên khảo, Phong vật khảo... Quốc sử khảo v.v... (xin thuyết minh chi tiết ở phần phụ lục).
Như chúng tôi đã khẳng định, tác phẩm này được khảo cứu về những sự kiện có liên quan đến triều đại trước qua hai chữ "tiền triều", mặc dù trong một vài chỗ có tên một vài người sống dưới triều Nguyễn như Tự Đức, Nguyễn Đức Đạt, Nguyễn Thông..., nhưng đó chẳng qua để làm sáng tỏ một vài chi tiết về mặt sử liệu có liên quan mà thôi.
Qua khảo cứu từng đề mục, chúng tôi thấy người viết có trình độ Hán văn uyên bác. Văn viết ngắn gọn, trình bày mạch lạc, sử liệu chính xác. Khi cần phê phán người viết nêu lập luận khá chặt chẽ, có sức hấp dẫn lôi cuốn sự chú ý của người đọc. Để làm dẫn chứng cho những nhận định trên, chúng tôi xin trích một đoạn trong phần "Quốc sử khảo":
"... Quốc sử chi tác thuỷ ư Trần. Thái Tông mệnh Lê Văn Hưu biên "Đại Việt sử" (Tự Triệu Võ Đế chí Lý Chiêu Hoàng). Lê Nhân Tông mệnh sử quan Phan Phu Tiên tục biên "Đại Việt sử ký" (Tự Trần Thái Tông chí Minh nhân hoàn quốc). Lê Thánh Tông hựu mệnh Ngô Sĩ Liên toản tu "Đại Việt sử ký toàn thư". Lê Tương Dực hựu mệnh Vũ Quỳnh soạn "Đại Việt thông giám". Lê Tung soạn "Đại Việt tổng luận". Quang Thiệu ngũ niên mệnh Đặng Minh Khiêm tác "Sử thi". Cảnh Trị tam niên mệnh Phạm Công Trực tục biên chí Trang Tông Vạn Lịch niên gian, tổng phân vi nhi thập tam quyển. Nội hữu ngoại kỷ, bản kỷ, thực lục, tục biên chi phân. Chính Hoà thập bát niên, mệnh Lê Hi loại biên tự Cảnh Trị chí Đức Nguyên, phàm thập tam tải, danh vi "Bản kỉ biên". Tha như Hồ Tông Thốc chi "Việt sử cương mục". Luận giả (Sĩ Liên) xưng ký thư sự thận trọng nhi hữu pháp bình, sự thiết đáng nhi bất nhũng nhiên. Binh hoả chi hậu, kỳ thư bất truyền. Cận nhật Dực Tông Anh Hoàng đế hữu "Việt sử tổng Vịnh", Nam Sơn Phu tử hữu "Việt sử thặng bình", Gia Định Nguyễn Thông hữu "Việt Sử thông giám". Tha như "Lê Hoàng nhất thống" phỏng "Tam Quốc chí" thể, phân vi nhị thập hồi, bất tri hà nhân sở tác, diệc cận thế chi giai sử dã".
Dịch nghĩa: "... Quyển sử đầu tiên ở nước ta có từ thời Trần. Trần Thái Tông sai Lê Văn Hưu viết "Đại Việt sử", bắt đầu từ Triệu Võ Đế đến Lý Chiêu Hoàng. Lê Nhân Tông lại sai sử thần Phan Phu Thiên viết "Đại Việt sử ký tục biên" (từ Trần Thái Tông đến khi quân Minh về nước). Lê Thánh Tông lại sai Ngô Sĩ Liên viết "Đại Việt sử ký toàn thư". Lê Tương Dực sai Vũ Quỳnh viết Đại Việt thông giám", Lê Tung soạn "Đại Việt tổng luận". Năm Quang Thiệu thứ 5, vua sai Đặng Minh Khiêm sáng tác quyển "Sử Thi". Năm Cảnh Trị thứ 3, vua sai Phạm Công Trứ viết tiếp đến thời Vạn Lịch Lê Trang Tông, chia làm 23 quyển, trong đó có các phần: Ngoại kỷ, Bản kỷ, Thực lục và Tục biên. Năm Chính Hoà thứ 18, vua sai Lê Hi viết tiếp Loại biên, từ Cảnh Trị đến Đức Nguyên, gồm 13 năm lấy tên là "Bản kỷ biên". Ngoài ra, Hồ Tông Thốc viết "Việt sử cương mục". Nhà sử học Ngô Sĩ Liên cho rằng, sách này ghi chép sự việc rất thận trọng, mọi việc được nêu lên rất xác đáng mà không hề làm dụng của người khác. Sau nạn binh lửa sách này bị thất truyền. Gần đây, Dực Tông Anh Hoàng đế viết "Việt sử tổng vịnh". Nam Sơn phu tử viết "Việt sử thặng bình". Nguyễn Thông, người Gia Định viết "Việt sử thông giám". Ngoài ra, còn có "Lê Hoàng Nhất thống chí", phỏng theo thể "Tam Quốc chí", chia thành 20 hồi, không rõ tác giả. Đây cũng là một bộ sử tốt...".
Trong mục "Khoa cử Khảo", ngoài việc khảo cứu về khoa cử qua các triều đại, tác giả còn nêu lên những điều bất cập có ý phê phán việc tuyển chọn người tài. Xin trích một đoạn để làm dẫn chứng:
"Đinh gia khải vận chi sơ, khoa cử thượng vị hưng dã. Phụ phần hiệp sách chi nho, hoa cổn sơn long vị tri xí mộ, thượng kiến trầm ư nguyện khác chi trung, nhi Thái sư tích hiệu Sùng chân, thụ quan Tăng, Đạo, đắc dĩ sài hồ. Giai phẩm tắc nhất thế hiền tuấn, hà tự đăng sĩ tiến chi đồ. Lý Thị Khai cơ chi thuỷ, học hiệu thượng vị hưng dã. Thái Tông Đại Thuận chi gian, Hoành từ, Bác sĩ đại hữu thiết khoa, do vị tận côi kỳ chi ngạn, nhi tăng đạo nho khoa điển sư tích hiệu. Chúc bát giả đắc dĩ xí hồ nho thân, tắc nhất thế nhân tài hà tự triển kinh luân chi tích. Trần tự Thái Tông định khoa giáp hữu tam khôi chi tuyển, khai đại tị hữu kinh trại chi ohân, nho học nhân chi sảo chấn hỉ. Tuy ưu du tam muội, sở học phi ư chính đồ. Nhiên cầu hiền chi lộ ký khai, tức đa sĩ hữu trác ma chi nguyện. Cố Trần gia trung thần nghĩa sĩ hiệt ngoan đương thế, vị tất bất do khoa mục trung lai, hữu dĩ diên quốc tộ ư nhất bách dư tải chi trường. Lê tự Thánh Tông thí cử nhân hữu thu thí, xuân vi chi tuyển, định khoa giáp hữu xuất thân, cập đệ chi sai, khoa mục tòng tư thịnh hành hỉ...".
Dịch nghĩa: "Lúc nhà Đinh mới giành được Độc lập Tự chủ, khoa cử chưa được đặt ra. Nhà nho đang trong thời kỳ phác thực, như những con sơn long sặc sỡ trong rừng, chưa ai hiểu tài năng để mến mộ. Quan chức ở triều đình đều do Thái sư cất nhắc, mà phần đông là các sư sãi và đạo gia. Các nhà hiền tài không có cách nào để dấn thân trên con đường sĩ hoạn. Lúc nhà Lý mới bắt đầu xây dựng cơ đồ thì nho học vẫn chưa phát triển. Đến đời Lý Thái Tông, niên hiệu Đại Thuận, các khoa thi Hoành từ, Bác sĩ mới được đặt ra, nhưng vẫn chưa phát hiện được người tài. Phép thi còn gồm cả Nho - Phật - Lão. Các nhà sư "chúc bát" còn đang lấn át các nho thần, nên những nhân tài đương thế chưa có cơ hội phát triển Kinh Luân. Đến đời Trần Thái Tông khoa giáp mới được định ra, đặt lệ thi tuyển "tam khôi" và cứ ba năm một lần mở ra kỳ thi "Đại tị". Trong phép thi có chọn ra Kinh và Trại Trạng nguyên. Nho học từ đó mới được chấn hưng. Qua con đường cầu hiền, nhiều bậc trung thần nghĩa sĩ đời Trần là những nhà thông tuệ, phần lớn xuất thân từ khoa bảng nung nấu ý chí sắt thép có đủ khả năng kéo dài vận nước hàng trăm năm. Từ thời Lê Thánh Tông trở về sau, việc chọn lựa người tài trong khoa mục, có lệ "Thu thí" và "Xuân vi". Những người trúng cử Hương khoa vào mùa thu năm trước sẽ được ra dự kỳ thi Hội vào mùa xuân năm sau. Trong lệ khoa cử còn đặt ra các học vị "Cập đệ" và "Xuất thân". Khoa mục thịnh hành từ đó. Vận nước của triều Lê nhờ đó mà kéo dài hơn 400 năm...".
Qua 25 đề mục khảo cứu trong tác phẩm "Nam Việt Tiền Triều loại biên", chúng ta thấy tác giả khảo cứu từng mục rất cụ thể mang đầy đủ ý nghĩa khoa học. Nhiều đề mục có liên quan đến các chủ trương chính sách lớn như: Khoa cử, sùng văn, thượng võ, tácthành nhân tài, giáo hoá chính tục v.v... Dù ngắn gọn, nhưng cụ thể và không hề sơ lược.
Xin trân trọng giới thiệu tác phẩm cùng bạn đọc. Có kèm theo hai nguyên bản Hán Nôm và trích dịch "Quốc sử khảo" và "Khoa cử khảo" để làm dẫn chứng.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.541-545