VI | EN
66. Giới thiệu và nghiên cứu so sánh ba văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

GIỚI THIỆU VÀ NGHIÊN CỨU SO SÁNH
BA VĂN BẢN TOÀN LÊ TIẾT NGHĨA LỤC

ĐẶNG QUỲNH TRANG

Trường Đại học KHXH và Nhân văn Hà Nội

Nho giáo ở Việt Nam không chỉ thể hiện thông qua hệ thống sách vở bình giải, chú giải kinh điển Nho giáo ở Việt Nam mà còn được thể hiện một cách rất sinh động và thực tế trong đời sống văn hóa Việt Nam qua các thời kì lịch sử. Ở Việt Nam, chỉ có một số ít những nhà nghiên cứu văn hóa tư tưởng, văn học như Trần Đình Hượu, Cao Xuân Huy, Trần Nho Thìn, Trần Ngọc Vương đề cập đến một hay một vài khía cạnh của vấn đề này, càng thiếu những nghiên cứu về vai trò của Nho giáo trong việc hình thành “nền văn hóa tiết nghĩa” trong lịch sử. Điều ấy đã dẫn chúng tôi đến việc tìm hiểu và nghiên cứu về Toàn Lê tiết nghĩa lục 全黎節義錄như một trường hợp nghiên cứu điển hình (case study), một cánh cửa để hiện thực hóa đường hướng tiếp cận Nho học từ thực tế đời sống văn hóa Việt Nam.

Bước đầu nghiên cứu, chúng tôi bắt buộc phải tiến hành khảo sát và đưa ra những khảo cứu ban đầu của chúng tôi về văn bản và về những nội dung được đề cập đến trong Toàn Lê tiết nghĩa lục.

1. Mô tả các văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục

Căn cứ vào bộ Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yều thì Toàn Lê tiết nghĩa lục do Nguyễn Năng Thiệu阮能紹, Nguyễn Tôn Lễ阮尊禮biên tập và viết bài tấu năm Gia Long thứ 14 (1815). Gồm có hai bản viết, một tựa, một tấu, có chữ Nôm.

Trong quá trình tiếp xúc và tìm hiểu văn bản tác phẩm, chúng tôi nhận thấy tác phẩm Toàn Lê tiết nghĩa lục gồn có hai bản riêng biệt mang kí hiệu là A.1444 (tạm gọi là bản 1) và A.2705 (tạm gọi là bản 2). Bên cạnh đó, văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục còn được trích dẫn trong tác phẩm khác là: Danh thần danh nho truyện kí - kí hiệu A.1309 (tạm gọi là bản 3) hiện đều được lưu giữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.

Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi lựa chọn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục mang kí hiệu A.1444 làm bản nền. Mọi vấn đề tìm hiểu, nghiên cứu và so sánh đều được thực hiện chủ yếu dựa trên văn bản làm nền này.

Qua quá trình khảo sát với cả ba văn bản này, chúng tôi đưa ra những nhận xét sau:

Giống nhau

Hình thức: Bìa được đóng bằng giấy dó bồi kĩ và phết cậy sơn ta màu đen. Ruột sách bằng chất liệu giấy dó tốt. Toàn văn chữ Hán xen lẫn chữ Nôm, có những dòng lưỡng cước chú. Văn bản có xuất hiện chữ kiêng húy và chữ viết tắt. Hầu hết toàn văn bản là chữ viết tay kiểu chân thư đẹp, rõ ràng, dễ đọc. Mỗi tờ được viết trên hai mặt giấy, có chấm câu (riêng văn bản được trích dẫn trong Danh thần danh nho truyện kí là không có chấm câu), đánh dấu tên người, tên địa danh rất mạch lạc nên rất thuận lợi cho việc dịch thuật.

Nội dung: Tác phẩm gồm một lời tựa và một bài tấu cùng phần nội dung ghi chép về tên tuổi, hành trạng của các vị công thần tiết nghĩa thời Tiền Lê và hậu Lê, gồm có thượng đẳng thần và trung đẳng thần, trong đó có hai vị là liệt nữ. Sau mỗi chuyện kể về một nhân vật thường có thơ bình phẩm hoặc khen tặng.

Khác nhau

Trước tiên, chúng tôi tiến hành so sánh giữa hai văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục mang kí hiệu là A.1444 và A.2705.

 

Bản 1

Bản 2

- Kích cỡ: 27,7x14cm.

- Gồm 168 trang, tức 84 tờ. Mỗi trang gồm 8 hàng dọc, mỗi hàng gồm 23 chữ.

- Không ghi chép về thời gian ra đời sách.

- Nội dung sách chia làm nhiều mục:

Toàn Lê tiết nghĩa lục (36 tr.), Thiên Nam sự tích (70 tr.), Mộng ký(16 tr.), Tiên thích (9 tr.), Phổ kí của Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt (15 tr.), Sự tích về các địa danh(22 tr.).

Kích cỡ: 28.5x15.5cm.

- Gồm 34 trang, tức 17 tờ. Mỗi trang gồm 8 hàng dọc, mỗi hàng gồm 24 chữ.

- Có ghi chép cụ thể về thời gian ra đời sách.

- Nội dung chỉ bao gồm phần viết về Toàn Lê tiết nghĩa lục.

Riêng về văn bản Danh thần danh nho truyện kí, phần viết về Toàn Lê tiết nghĩa lục có từ trang 184 đến trang 200, tức là gồm 16 trang, mỗi trang có 9 hàng, mỗi hàng gồm 18 chữ, bao gồm cả phần tựa, lời bạt, thời gian ra đời và sự trạng các công thần tiết nghĩa thời Tiền Lê và Hậu Lê giống như ở bản 2. Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát văn bản này, chúng tôi cũng nhận thấy, ngoài phần viết về Toàn Lê tiết nghĩa lục, các nội dung khác của sách này cũng tương ứng với nội dung được trình bày trong bản 1, duy chỉ có trật tự sắp xếp là thay đổi, hoặc cách đặt tên có phần khác nhau. Cụ thể như sau:

 

Bản 1

Bản 3

Nội dung sách:

Toàn Lê tiết nghĩa lục

Thiên Nam sự tích

Mộng ký

Tiên thích.

Phổ kí của Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt

Sự tích về các dịa danh.

Nội dung sách:

Danh thần danh nho truyện kí(1)

Mộng kí

Tài nữ(2)

Tiên thích

Phổ kí của Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt

Sự tích về các địa danh

Toàn Lê tiết nghĩa lục

 

Thêm vào đó, cả hai bản này đều mang kí hiệu A - kí hiệu chỉ những sách do Viện Viễn đông Bác cổ sưu tầm. Từ những lí do trên, chúng tôi dự đoán, thực tế, chỉ có phần Toàn Lê tiết nghĩa lục (bao gồm lời tựa, lời tấu, cùng phần viết về sự trạng của công thần tiết nghĩa thời Tiền Lê và Hậu Lê), có thời gian ra đời cụ thể mới là một cuốn sách riêng bit và hoàn chỉnh. Còn các phần khác thuộc cả quyển 1 và quyển 3 chỉ là do những người thực hiện công tác sao chép cho Viện Viễn Đông Bác Cổ nhặt nhạnh và thêm thắt từ các nguồn khác nào đó để đưa vào, tạo nên hai văn bản khác nhau.

Từ dự đoán trên, tiếp tục tìm hiểu, chúng tôi phát hiện ra các phần nội dung trong hai sách trên của Toàn Lê tiết nghĩa lục vào Danh thần danh nho truyện kí (trừ phần nội dung ghi chép về Toàn Lê tiết nghĩa lục) còn được ghi chép trong văn bản tác phẩm Công dư tiệp kí của tác giả Vũ Phương Đề. Về tác phẩm Công Dư tiệp kí, được Vũ Phương Đề biên soạn vào năm Cảnh Hưng thứ 16 (1755), tức là dưới thời Lê. Thực tế, vấn đề văn bản và quá trình truyền bá của Công dư tiệp kí tương đối phức tạp. Đây vốn là quyển sách gồm những chuyện ghi nhanh trong lúc việc quan nhàn rỗi của Vũ Phương Đề, nhưng khi ra đời rất được dư luận ưa chuộng. Về tình hình văn bản của tác phẩm này, hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ 4 bản Công dư tiệp ký viết tay bằng chữ Hán mang các kí hiệu A.44, VHv.14, VHv.1324/1-2, A.1893 và 1 bản Công dư tiệp ký viết tay bằng chữ Nôm mang kí hiệu AB.481(3). Dựa trên việc tìm hiểu văn bản mang kí hiệu VHv.14, chúng tôi nhận thấy nội dung chủ yếu của tác phẩm được chia làm các phần sau:

Tiền biên: 1. Thế gia, 2. Danh thần, 3. Danh nho, 4. Tiết nghĩa, 5. Chí khí, 6. Ác báo, 7. Tiết phụ, 8. Ca nữ, 9. Thần quái, 10. Âm phần dương trạch, 11. Danh thắng, 12. Thú loại.

Tục Biên: 1. Danh thần danh nho, 2. Dâm từ, 3. Mộng ký, 4. Tài nữ, 5. Tiên thích, 6. Thần từ, 7. Sơn xuyên, 8. Cổ tự.

Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt phả ký

Bổ di

Như vậy, có thể thấy, phần lớn nội dung của Toàn Lê tiết nghĩa lụcDanh thần danh nho truyện kí đều được ghi chép trong Công dư tiệp kí, phần Tục biên. Vậy nên giải thích vấn đề này như thế nào?

Qua khảo sát văn bản Công dư tiệp kí kí hiệu A.44, chúng tôi nhận thấy, phần tục biên có viết: Chí Linh, Điền Trì, Trần Quý Nha tự” (Trần Quý Nha, người xã Điền Trì huyện Chí Linh soạn chép). Bài mục của ông ở phần Tục biên (Hậu biên), theo A.44 và VHv.14, gồm: 1. Danh thần danh nho, 2. Dâm từ, 3. Mộng ký (phụ tạp ký), 4. Tài nữ, 5. Tiên thích, 6. Thần từ, 7. Sơn xuyên.

Với tổng số 61 truyện. Bên cạnh đó, phần chép về Bạch Vân am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt phổ ký cũng có ghi: Tứ Kỳ, Ngọc Lặc, Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân thuật” (Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân, người xã Ngọc Lặc, huyện Tứ Kỳ soạn thuật). Tức là phần nội dung được ghi chép trong tục biên của Công dư tiệp kí (tương ứng với nội dung được ghi chép trong Toàn Lê tiếtnghĩa lụcDanh thần danh nho truyện ký) có khả năng không phải do Vũ Phương Đề biên soạn. Trong bài viết Góp phần giải quyết những vấn đề văn bản học đang đặt ra với Công dư tiệp kí được in trong Tạp chí Hán Nôm số 4 năm 1996, PGS.Trần Nghĩa có lí giải về vấn đề này. Ông cho rằng Công dư tiệp kí của Vũ Phương Đề khi ra đời được ưa thích, sau đó, sách ngày càng dày thêm do không ngừng được người khác tục biên, tục bổ… Trải qua quá trình tích hợp, sách lại được tế phân thành nhiều sách nhỏ. Như vậy, có thể khẳng định, phần nội dung trong Toàn Lê tiết nghĩa lụcDanh thần danh nho truyện kí có thể là một phần của Công dư tiệp kí tc biên được tế phân ra, chép cùng vào với phần Toàn Lê tiết nghĩa lục (vốn là một sách riêng biệt). Với bài viết này, chúng tôi chỉ tập trung tìm hiểu phần văn bản ghi chép về Toàn lê tiết nghĩa lục.

2. Về thời gian ra đời và thời gian xuất hiện của Toàn Lê tiết nghĩa lục

Theo khảo sát của chúng tôi với ba văn bản nói trên, thì có đến hai văn bản ghi thời gian ra đời của sách là: Hoàng triều Gia Long thập tứ niên thập nhất nguyệt cốc nhật (ngày lành, tháng 11, năm Gia Long thứ 14). Tuy nhiên, chúng tôi cũng nhận thấy có những điểm sau:

Thứ nhất: Sách có kiêng húy chữ Thời - là tên húy của vua Tự Đức. Tất cả các chữ Thời đều được chuyển sang là Thìn hoặc viết lược đi một nét.

Thứ hai: Sách có kiêng húy chữ Chiêu là tên húy của vua Thành Thái. Tất cả những chữ Chiêu trong sách đều được viết lược nét.

Từ những điều trên, chúng tôi đi đến nhận định rằng: Sách có thể được ra đời vào năm thứ 14 niên hiệu Gia Long, nhưng lại được sao chép lại vào khoảng thời Thành Thái, trong phong trào sưu tầm sách cổ của Viện Viễn đông Bác cổ. Người sao chép đã thay đổi tự dạng của những chữ Hán được chép trong đó cho phù hợp với những quy định và thói quen kiêng húy của đời Thành Thái, Tự Đức để lại, vì vậy mà trên văn bản A.1444 mới xuất hiện những chữ kiêng húy của thời này.

Tuy nhiên, những dữ kiện này không đủ chắc chắn để khẳng định thời gian cụ thể cho sự ra đời của Toàn Lê tiết nghĩa lục. Như chúng ta đã biết, kho sách của Viễn đông Bác cổ có rất nhiều điểm đáng ngờ vực. Trong phạm vi tư liệu hiện có, chúng tôi vẫn chưa đủ điều kiện để tiến hành một khảo sát chuyên sâu hơn về vấn đề này nên hiện vẫn để tồn nghi.

3. Nhan đề, nội dung chính của sách và bố cục của văn bản A.1444

Về nhan đề của cuốn sách, chúng tôi nhận thấy, đây không phải là nhan đề có tính chất tổng quát chung cho nội dung của toàn sách. Toàn Lê tiết nghĩa lục chỉ là nhan đề của phần đầu tiên - cũng là phần quan trọng nhất được đề cập trong sách, được sử dụng làm nhan đề cho toàn sách.

Theo trật tự trình bày trong tác phẩm, văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục (từ đây về sau, chúng tôi nhắc đến đều là văn bản mang kí hiệu A.1444) gồm những mục sau đây: Toàn Lê tiết nghĩa lục, Thiên Nam sự tích, Mộng ký, Tiên thích, Phổ kí của Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt, Sự tích về các dịa danh.

Dựa theo sự phân bố về dung lượng các phần được đề cập đến trong văn bản tác phẩm, chúng tôi nhận thấy, dung lượng của các phần được ghi chép trong sách là không giống nhau. Cụ thể, Toàn Lê tiết nghĩa lụcThiên Nam sự tích chiếm dung lượng đáng kể, tương đương với khoảng 2/3 sách. Mỗi câu chuyện cũng được trình bày chi tiết và hệ thống hơn. Vì vậy, chúng tôi tạm chia cuốn sách làm 3 phần như sau:

Phần 1: Toàn Lê tiết nghĩa lục bao gồm: Lời tựa: Lí do viết nên sách, Bài tấu: Trình bày chung về nội dung, Tiền Lê tiết nghĩa lục: gồm sự trạng về 8 vị thượng đẳng thần và 5 vị trung đẳng thần. Có kèm theo thơ khen tặng hoặc bình phẩm. Bao gồm:

8 vị Thượng đẳng thần là các vị: Vũ Duệ, Ngô Hoán, Nguyễn Mẫn Đốc, Nguyễn Thiệu Tri, Đàm Thận Huy, Lê Tuấn Mậu, Nguyễn Tự Cương, Nguyễn Duy Tường.

5 vị Trung đẳng thần là các vị: Lê Vô Cương, Nguyễn Hữu Nghiêm, Lại Kim Bảng, Nguyễn Thái Bạt, Nghiêm Bá Kí.

Hậu Lê công thần tiết nghĩa lục: gồm 17 vị, trong đó có hai nhân vật là liệt nữ. Cụ thể: Nguyễn Khuê, Lí Trần Quán, Nguyễn Đình Giản, Trần Danh Án, Nguyễn Trọng Đang, Hoàng Quốc Trân, Nguyễn Huy Trạc, Lê Nguyễn Thường, Trần Công Xán, Ngô Nho, Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Hồ, Đinh Văn Nhưỡng, Trần Quang Châu, Nguyễn Lệnh, Dương Thị Đoàn, Nguyễn Thị Thuấn.

Phần 2: Thiên Nam sự tích, gồm 31 câu chuyện về 31 nhân vật trong lịch sử nước Nam, thường là những người có tài về văn chương hay tài lạ nổi trội, đi kèm những câu chuyện liên quan như: Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Đức Trinh, Ngô Công Hoán, Đinh Công Cưu, Nguyễn Công Mậu, Trần Công Bảo, Hùng Khê Phạm trạng nguyên, Nham Sơn hầu Nguyễn Doãn Khâm, Đồng Công Hãng, Nguyễn Xuân Quang, Phạm Công Duy Khâm, Nguyễn Công Lễ, Dương Công, Nguyễn Công Thọ, Nguyễn Công Quang, Nguyễn Công Đăng, Nguyễn Đăng Hảo, Nguyễn Quý Đức, Lê Anh Tuấn, Lê Hy, Vũ Duy Đoạn, Giáp Hải, Bảng nhãn họ Hà, Nguyễn Công Duy, Nguyễn Giản Thanh, Nguyễn Công Mẫn, Vũ Thành, Nguyễn Thế Nghi, Vũ Thoát Dĩnh, Ức Trai tiên sinh, Phạm Nhan.

Phần 3: Phần tạp truyện

- Mộng ký: Chuyện báo mộng trong thi cử, mang màu sắc thần kì. Gồm 13 truyện, trong đó có một truyện viết về người kì nữ. Phần nhiều các nhân vật không ghi tên tuổi, quê quan, chỉ ghi chung chung. Gồm 12 người.

- Tiên thích: Gồm 2 truyện về các nhân vật: Trúc Lâm đệ nhị đại tổ sư hiệu pháp Loa tôn giả Trần Thiệu Phong và Huệ Nhân vương người xã Linh Giang huyện Chí Linh.

- Phổ kí của Bạch Vân Am cư sĩ Nguyễn Văn Đạt. Húy của ông là Bỉnh Khiêm, hiệu là Bạch Vân Am cư sĩ. Người ở xã Trung Am - huyện Kiệt Đặc: “45 tuổi đỗ Trạng nguyên, khoa Ất Mùi, niên hiệu Đại Chính thứ 6 (1535) đời Mạc Đăng Doanh. Ông đi thi Hội và thi Đình đều đỗ đầu, làm quan đến chức Thượng thư và Thái phó, tước Trình Quận công. Năm 1542, khi đó ông 52 tuổi, cáo quan xin về trí sĩ, nhưng vua Mạc Phúc Nguyên vẫn thường sai trung sứ đến hỏi quốc sự. Ông mất năm Mạc Diên Thành (1585), thọ 90 tuổi.(3)

- Sự tích về các địa danh: Sông, núi, cửa biển. Có thơ ngự chế của vua. Gồm: Côn Sơn ở xã Vô Ngại, huyện Chí Linh, Đền thờ Cao Sơn đại vương ở xã Lang Giản huyện Chí Linh, Động Huyền Thiên ở xã Kiệt Đặc - huyện Chí Linh, Núi Phượng Hoàng ở xã Kiệt Đặc - huyện Chí Linh, Sông Lục Đầu ở huyện Chí Linh, Sự tích cửa biển Thần Phù, Sự tích về cửa Cờn Hải, Sự tích về cửa Hội Thống, Sự tích về cửa Nam giới, Sự tích về cửa Kỳ La, Sự tích về Cửa Biển, Sự tích về cửa Xích Lỗ, Sự tích về cửa Bố Chính.

Trong khuôn khổ giới hạn của bài viết, chúng tôi bước đầu đã giới thiệu và so sánh ba văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục hiện đang được lưu trữ trong thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Những đối chiếu về mặt văn bản này rất quan trọng trong việc xác lập diện mạo của Toàn Lê tiết nghĩa lục để làm cơ sở cho những nghiên cứu sâu hơn về tác phẩm như là một nguồn dữ kiện quan trọng, xác lập một hình dung về nền văn hóa tiết nghĩa của Nho giáo.

 

Chú thích:

(1) Phần này chỉ khác về tên gọi, còn nội dung hoàn toàn giống với phần Thiên Nam sự tích trong Toàn Lê tiết nghĩa lục bản A.1444.

(2) Phần này trong văn bản Toàn Lê tiết nghĩa lục được chép chung vào với phần Mộng ký.

(3) Các nhà khoa bảng Việt Nam, Ngô Đức Thọ chủ biên, Nxb. Văn học, tr.375./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.919-928)

Đặng Quỳnh Trang
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm