VI | EN
70. Về mười lăm đạo sắc phong mới tìm thấy ở đình làng Nguyệt Áng
tb2006

VỀ MƯỜI LĂM ĐẠO SẮC PHONG
MỚI TÌM THẤY Ở ĐÌNH LÀNG NGUYỆT ÁNG

LƯƠNG THỊ THU
Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Nguyệt Áng còn có tên gọi Nguyệt Đảm nằm ở phía nam kinh thành Thăng Long, xưa thuộc tổng Vĩnh Ninh huyện Thanh Trì trấn Sơn Nam, nay thuộc xã Đại Áng huyện Thanh Trì thành phố Hà Nội. Đây là một làng giầu truyền thống văn hóa, có nhiều người học giỏi thi đỗ cao làm quan, lập nhiều công tích được nhân dân ngưỡng vọng, trong đó nổi tiếng nhất là họ Nguyễn và họ Lưu. Họ Nguyễn có Nguyễn Đình Trụ thi đỗ Hội nguyên Tiến sĩ khoa Bính Thân (1656) niên hiệu Thịnh Đức đời Lê Thần Tông; Nguyễn Vĩnh Trinh thi đỗ Trạng nguyên khoa Kỉ Hợi (1659) niên hiệu Vĩnh Thọ đời Lê Thần Tông, từng đi sứ Trung Quốc, được phong tước Quận công. Họ Lưu có Lưu Dĩnh thi đỗ Tiến sĩ khoa Quý Mùi (1773) niên hiệu Cảnh Hưng đời Lê Hiển Tông; Lưu Quỹ thi đỗ Cử nhân khoa Tân Mão (1831) niên hiệu Minh Mệnh đời Nguyễn, làm quan đến Đốc học...

Đình làng Nguyệt Áng thờ Ông Ba Đại vương, tương truyền thần là con trai thứ ba của Kinh Dương Vương. Bản thần tích bằng chữ Hán hiện lưu giữ trong đình làng cho biết, Ông Ba Đại vương sinh ngày 12 tháng 5 năm Giáp Thìn(1), khôi ngô tuấn tú, thông minh tài trí. Lớn lên, Ông Ba Đại vương là người văn võ kiêm toàn, được triều đình giao cho nhiều trọng trách. Ngài là người rất thích đi thăm thú danh lam thắng cảnh. Một hôm đi đến phía nam kinh thành Thăng Long, thấy làng Nguyệt Áng có một vùng đất cao dáng trông như con rồng vàng cuộn khúc, Ông Ba Đại vương liền cho mời các cụ bô lão trong làng đến nói chuyện. Ngài giảng giải cho dân làng biết thế đất quý của Nguyệt Áng, rồi ban cấp cho 100 quan tiền quý để họ xây dựng đình miếu thờ phụng. Đồng thời lại căn dặn dân làng mua thêm ruộng dùng làm hương hỏa thờ cúng quanh năm. Nhân dân làng Nguyệt Áng từ già đến trẻ đều mừng vui khôn xiết, liền bảo nhau làm theo lời dặn của đại vương. Đến ngày 12 tháng 2 năm Bính Ngọ (?) Ông Ba Đại vương thác hóa về trời, dân làng Nguyệt Áng liền lập bài vị thờ ngài, quanh năm hương hỏa không bao giờ dứt. Các triều vua đều ban cấp sắc phong cho phép thờ phụng. Năm 1938, theo lệnh của nhà nước, dân làng Nguyệt Áng kê khai thần tích gửi lên. Hiện ở thư viện Viện Thông tin Khoa học xã hội còn lưu giữ được bản kê khai đó, kí hiệu Q4.18/11.67. Trong bản khai (kèm theo một bản thần tích bằng chữ Hán) ghi là trong đình làng còn lưu giữ được 1 đạo sắc phong. Như vậy là đến năm 1938, đình làng Nguyệt Áng chỉ thấy có 1 đạo sắc phong. Gần đây do công việc xây dựng tôn tạo lại đình làng, nhân dân lại phát hiện ra 15 đạo sắc và một bản thần tích. Nội dung bản thần tích về cơ bản giống như những điều đã trình bày ở trên, trong 15 đạo sắc phong mới phát hiện đạo sắc phong sớm nhất là năm Quý Hợi (1683) đời Lê Hi Tông, đạo sắc phong muộn nhất là năm Giáp Tí (1924) đời Khải Định nhà Nguyễn. Dưới đây chúng tôi xin thống kê cụ thể 15 đạo sắc phong này và chọn dịch 3 đạo.

A. Đời Lê có 08 đạo

1. Đạo thứ nhất ghi ngày 24 tháng 6 Chính Hòa thứ 4 (1683), đời Lê Hi Tông.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

2. Đạo thứ hai ghi ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710), đời Lê Dụ Tông.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

3. Đạo thứ ba ghi ngày 10 tháng 12 Vĩnh Khánh thứ 2 (1730), đời vua Lê Duy Phương.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

4. Đạo thứ tư ghi ngày 24 tháng 7 Cảnh Hưng thứ 1 (1740), đời vua Lê Hiển Tông.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

5. Đạo thứ năm ghi ngày 8 tháng 8 Cảnh Hưng thứ 28 (1767), đời vua Lê Hiển Tông.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

6. Đạo thứ sáu ghi ngày 16 tháng 5 Cảnh Hưng thứ 4 (1783), đời vua Lê Hiển Tông.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

7. Đạo thứ bảy ghi ngày 26 tháng 7 Cảnh Hưng thứ 44 (1783), đời vua Lê Hiển Tông.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

8. Đạo thứ tám ghi ngày 22 tháng 3 Chiêu Thống thứ 1 (1787), đời vua Lê Mẫn Đế.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 翁 巴 大 王 .

B. Đời Tây Sơn có 02 đạo

9. Đạo thứ nhất ghi ngày 21 tháng 5 Cảnh Thịnh thứ 4 (1796), đời vua Nguyễn Quang Toản.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 大 王 .

10. Đạo thứ hai ghi ngày 11 tháng 5 Bảo Hưng thứ 1 (1801), đời vua Nguyễn Quang Toản.

Tên thần ghi là: Ông Ba Đại vương 大 王 .

Tám đạo sắc phong đời Lê và một đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Thịnh ghi tên thần là Ông Ba Đại vương, nhưng chữ Ba chỉ viết là chữ đơn, không có chữ Tam chỉ ý. Đến đời Tây Sơn, thì chữ Ba đã ghi là đã có chữ Tam chỉ ý. Cách ghi này rất giống với cách ghi tên thần trong bản Thần tích viết bằng chữ Hán trình bày ở trên.

C. Đời Nguyễn có 05 đạo

11. Đạo thứ nhất một ghi ngày 14 tháng 1 Tự Đức thứ 6 (1853), đời vua Nguyễn Dực Tông.

Tên thần ghi là: Bản cảnh thành hoàng linh phù chi thần 本 境 城 隍 靈 扶 之 神

12. Đạo thứ hai ghi ngày 24 tháng 1 Tự Đức thứ 33 (1880), đời vua Nguyễn Dực Tông.

Tên thần ghi là: Bản cảnh thành hoàng linh phù chi thần 本 境 城 隍 靈 扶 之 神.

13. Đạo thứ ba ghi ngày 1 tháng 7 Đồng Khánh thứ 2 (1887), đời vua Nguyễn Cảnh Tông.

Tên thần ghi là: Bản cảnh Thành hoàng linh phù dực bảo trung hưng chi thần 翊 保 中 興 .

14. Đạo thứ bốn ghi ngày 11 tháng 8 Duy Tân thứ 3 (1909), đời vua Nguyễn Duy Tân.

Tên thần ghi là: Linh phù dực bảo trung hưng Bản cảnh Thành hoàng chi thần 翊 保 中 興 .

15. Đạo thứ năm ghi ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924), đời vua Nguyễn Hoằng Tông.

Tên thần ghi là: Linh phù dực bảo trung hưng đôn ngưng Bản cảnh Thành hoàng tôn thần 翊 保 中 興敦 凝 .

2. TRÍCH DỊCH 03 ĐẠO SẮC PHONG

Do khuôn khổ của bài viết có hạn chúng tôi chỉ xin tuyển dịch giới thiệu 3 đạo sắc mang tính đại diện.

2.1. Đạo thứ nhất

Phiên âm:

Sắc Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Tí dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Ông Ba Đại vương: Đức lẫm càn khôn; tinh trừ nhạc độc. Hòa khí ứng niên niên phong nẫm phú ân phong ích hậu dân; khánh nguyên lai diệp diệp thái hanh trường cửu mạch tăng thọ quốc. Công khổng hoằng tương trợ, lễ hạp cử bao phong. Vị mặc tướng huân vương toản tự Vương cơ, lâm cư chính phủ, tôn phù tông xã, củng cố hồng đồ, lễ hữu đăng trật, ưng gia phong khả gia phong: “Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Khang dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Đặc đạt Ông Ba Đại vương”.

Cố sắc.

Chính Hòa tứ niên nhuận lục nguyệt nhị thập tứ nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc ban cho Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Tí dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Ông Ba đại vương: Đức độ trời đất ban, tinh anh do núi sông hun đúc. Khí trời hòa thuận, 5 năm liên tiếp được mùa, dân làng no đủ; nguồn phúc dồi dào, hanh thông mãi mãi, mạch nước thêm bền. Công phò giúp đã nhiều, hợp lễ nên tôn vinh khen thưởng. Vì ngầm giúp vua nối nghiệp có công lớn vào trong chính điện, tôn phò tông xã, củng cố cơ đồ, theo lễ có tăng thêm phẩm trật, xứng đáng được gia phong là: “Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Khang dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Đặc đạt Ông Ba Đại vương”.

Vậy nên ban sắc.

Ngày 24 tháng 6 Chính Hòa thứ 4 (1683).

2. 2. Đạo thứ hai

Phiên âm:

Sắc Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Khang dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Đặc đạt Ông Ba đại vương: Trí mưu xuất chúng; khí độ việt nhân. Tai năng khử hoạn năng trừ, đức kì đại hĩ; Quốc thị hộ, dân thị bảo, công cố vĩ tai. Hưu mĩ vĩnh diễn vu kim, bao phong tải kê tại tích. Vị tự vương tiến phong Vương vị, lâm cư chính phủ, tôn phù tông xã; củng cố hồng đồ; lễ hữu đăng trật ưng gia phong, khả gia phong: “Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Khang dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Đặc đạt Trung chính Ông Ba Đại vương”.

Cố sắc.

Vĩnh Thịnh lục niên bát nguyệt sơ thập nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc ban cho Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Khang dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Đặc đạt Ông Ba Đại vương: Mưu trí hơn người, tài năng xuất chúng. Tai họa có thể bỏ, hoạn nạn có thể trừ, đức lớn lắm thay; Nước thì che chở, dân thì chăm sóc, công cao lắm vậy. Điều tốt đẹp cứ nối dài mãi cho tới nay, vậy việc ban khen sao không làm theo quy định cũ. Vì được kế nối ngôi vua, vào trong chính phủ, tôn phù tông xã, củng cố cơ đồ, theo lễ có tăng thêm phẩm trật, xứng đáng được gia phong, cho nên được gia phong là: “Đương cảnh Thành hoàng, Thông minh Dũng trí, Chấn văn Dương võ, Hộ quốc Khang dân, Tích dận Diễn phúc, Linh hiển Trinh tường, Hưu trưng Phúc khánh, Uy linh Đặc đạt Trung chính Ông Ba Đại vương”.

Vậy nên ban sắc.

Ngày 10 tháng 8 năm Vĩnh Thịnh 6 (1710).

2.3. Đạo sắc thứ ba

Phiên âm:

Sắc Hà Nội tỉnh Thanh Trì huyện Nguyệt Áng xã nguyên tự thần hiệu vị hữu dự phong, tứ kim phi ưng cảnh mệnh, đàm bố ân triêm, đặc chuẩn cấp dữ Thành hoàng chi thần sắc văn nhất đạo, tặng vi Bản cảnh Thành hoàng, Linh phù chi thần, nhưng chuẩn cai xã y cựu phụng sự. Thần kì tương hựu, bảo ngã lê dân.

Khâm tai !

Tự Đức lục niên chính nguyệt thập tứ nhật.

Dịch nghĩa:

Sắc ban cho xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì Hà Nội từ trước đến nay thờ phụng vị thần chưa được ban phong. Đến nay trẫm nối mệnh lớn, cần phải ban bố ơn sâu rộng, đặc cấp cho thần Thành hoàng một đạo sắc văn, phong tặng làm thần Thành hoàng, lại cho phép dân xã ấy được phụng thờ như cũ.

Thần hãy bảo vệ và che chở cho dân ta.

Hãy kính theo

Ngày 14 tháng 1 Tự Đức thứ 6 (1853).

Chú thích:

(1) Trong nguyên bản người viết chỉ thấy ghi năm can chi về ngày tháng năm sinh, năm mất của Ông Ba Đại vương, không thấy nhắc đến niên hiệu vua hoặc một tín hiệu gì để tìm ra niên đại chính xác, do vậy chúng tôi tạm đánh dấu hỏi để tra cứu sau./.

Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.696-703)

Lương Thị Thu
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm