VI | EN
71. Bài văn bia ngự chế Tứ Thọ Xuân vương thất thập thọ tự tịnh ca
tb07

BÀI VĂN BIA NGỰ CHẾ TỨ THỌ XUÂN VƯƠNG THẤT THẬP THỌ TỰ TỊNH CA

TRẦN THỊ THANH

                                                   Đại học Khoa học Huế

 

 

1. Vài nét về tấm bia ngự chế Tứ Thọ Xuân vương thất thập thọ tự tịnh ca

Thọ Xuân vương Miên Định sinh năm 1810 mất năm 1885, là con trai thứ ba của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế (tức vua Minh Mạng). Ông là người có tài có hiếu, đức độ song toàn. Ông được các đế vương yêu mến. Năm Tự Đức thứ 32, nhân lễ mừng thọ ông bảy mươi tuổi, vua Tự Đức sắc ban cho ông bài văn ngự chế ca ngợi phúc thọ, tài đức của ông. Về sau, bài văn này được khắc vào bia đá dựng ngay trước chính điện của phủ Thọ Xuân vương (ở phía trái kinh thành Huế, được lập vào năm Minh Mệnh thứ 4 (1823) nay thuộc phường Phú Cát tỉnh Thừa Thiên Huế) để lưu truyền danh tính và công đức của ông cho con cháu đời sau.

Từ cổng chính đi vào, qua bức bình phong chúng ta sẽ thấy tấm văn bia ngự chế “Tứ Thọ Xuân vương thất thập thọ tự tịnh ca” được dựng trên ba bậc đá giữa khoảng sân rộng ngay trước nhà thờ của phủ. Hiện nay tấm văn bia hãy còn nguyên vẹn mặc dù không có nhà bia.

Bia cao 2,13m; rộng 1,09m; dày 0,20m.

Trán bia được trang trí hình long ẩn vân.

Diềm bia được trang trí bằng biểu tượng âm dương chen giữa hai con rồng đang bay lượn.

Đế bia cao 0,55m được trang trí hoa văn và có hình 4 con dơi ở bốn góc.

Lòng bia kh 0,83 x 1,13m khắc bài văn bia bằng chữ chân.

Nội dung của bài văn bia ca ngợi phú quí, trường thọ của Thọ Xuân vương Miên Định. Với lối viết văn trong sáng, sinh động, súc tích mạch lạc vua Tự Đức đã thể hiện một tình cảm kính trọng, ưu ái đối với Thọ Xuân vương, người chú ruột của mình nhưng cũng là bề tôi trung thành hết lòng vì dân vì nước vì dòng tộc đế vương. Sự trung hiếu, tài năng và đức độ của ông được vua Tự Đức khen ngợi trong bài văn bia để nêu gương cho con cháu đời sau.

2. Phiêm âm, dịch nghĩa, chú thích bài văn bia

a. Phiên âm

Ngự chế: Tứ Thọ Xuân vương thất thập thọ tự tịnh ca

Thế nhân nan đắc giả duy phước dữ thọ, hoặc hữu phước nhi vô thọ, hoặc hữu thọ nhi vô phước.Đắc kỳ nhất giả dĩ thiên bách chi nhất nhị. Đắc kỳ nhị giả cánh nhất nhị hồ ức vạn. Huống kiêm đắc hồ kỳ nhị yên giả, nhi hựu toàn bị vô thiếu khuy khuyết, tắc bách thiên vạn đức chung chi sở tuyệt vô, nhi cận hữu giả dĩ. Cái sở vị phc giả phú quý đa nam. Sở vị thọ giả dật lạc khang thái. Thế chi nhân, hoặc hữu bần nhi thọ giả, hoặc hữu tiện nhi đa nam giả, diệc hoặc hữu phú quý nhi ưu lao nhi vô nam giả. Cổ kim vãng vãng như thị, cố phong nhân chi nguyện ư hoàn diệc dĩ thử, nhi thánh đức như Nghiêu do vị năng kiêm nhi hữu chi, cố tạ nhi phất cảm đương. Thánh nhân tự tỉnh(1) do bất túc dĩ đương chi, nhi huống chúng nhân hồ, chúng nhân lâm lâm tổng tổng do tiển khắc dĩ đương , nhi huống ư đế vương t tôn chi gia hồ? Phù! dĩ công tính công tộc, thử ư bách tính. Phàm thứ dĩ vi hy hữu. Thả hựu sinh trưởng phú quý bất doanh sinh dưỡng thọ, dĩ chí ư khốn phạp trát thế sở bất miễn thị tắc tuyệt vô. Cn hữu trung bất cánh tuyệt vô, nhi cận hữu giả hồ phi chỉ nan đắc dã. Kỷ nhược nhiên tắc quả kỷ nan đắc, nhi tuyệt vô da. Dư ư thị hữu đắc nhất nhân yên. Vương dĩ văn vương chi tử, vũ vương chi đệ, thành vương chi thúc(2), tảo ưng mao thổ. Chí kim điệp thứ ích phong, vị hạ thiên tử nhất đẳng, quý dĩ quý hỹ. Lịch sự tứ triều lục trọng thiên chung(3), tứ lãi vô toán, phú diệc phú nhiên. Giai phân sở ứng đắc vị túc vi nan. Duy văn vương ấu doanh nhược đa bệnh, hà trưởng nhi sung mãn, kiện vượng, sở đắc nam nữ dĩ quá bách nhân, tắc bách chi Thi(4) do thả tốn chi. Hựu hà tất nghi kỳ dật mỹ. Huống thả tinh thần minh sảng, dũ lão dũ gia phì thạc. Kim niên giới cổ hy(5) tuy mấn phát tận bách nhi ẩm thực, chiêm thị, tư nghĩ, ngôn luận bất suy. Kim nhân khả kính khả ái, nhi bất năng tự kỷ thử. Sở dĩ vi nan đắc dã. Tuy hữu kiêm đường hoàng tộc, nhiên sự giản. Đa hạ viên trì, đệ trạch ca vũ du yến v ô bất các cực kỳ thú nghi. Kỳ đãng trí tổn nãi độc bất nhiên hà phúc chi nguyên dã. Nhi mệnh chi trường dã. Thử canh vi nan nhi vưu nan giả dã. Tích Lương Hiếu(6) cự phú nhi bất văn thọ dữ đa nam; Trung Sơn(7) đa nam nhi bất văn phú thọ; An Bình(8) hưởng niên trí thọ nhi đa nam dữ phú tắc vị chi văn. Kim Vương thanh văn tuy bất như Tùng, Tuy(9) hào hùng Tuy bất như Ninh Thuận(10), trí phú tuy bất như Định Viễn(11) nhiên nhi cổ kim chư vương giai hữu sở bất túc, duy Vương độc năng bị. Phúc tận mỹ, dụng quang ngã triều phúc trạch lưu huy giản điệp. Khởi phi tuyệt vô nhi cẩn hữu giả hồ? Phù hữu kim đức tất hữu mỹ báo. Phi Vương hữu đại ngộ nhân xứ kỳ hạt năng trí. Nhược hữu hà âm đức, hoặc hà phương thuật tắc dư bất đắc nhi tri. Duy kiến kỳ tồn tâm vương thất nhàn nhi bất hốt dữ nhân, hoà dị khả thân nhi bất khả trắc ức dĩ, thị nhi báo mỹ báo da, tức sở vị lạc dị giả thường thọ trường dã dư. Ức dĩ sơ phong mỹ tước, thánh dữ thiên hợp đức, hữu dĩ tiên định kỳ thọ mệnh dã dư. Nhiên phi vương tố hữu trung thành đức độ đoạn diệc bất năng trí thử. Phù! phú thọ đa nam giai nhân chi đồng dục, nhi Nghiêu độc từ nhượng nhi phất cảm phú giả. Cái bản kỳ thực nhi phi hư nhượng dã. Nghiêu quý vi thiên tử phú hữu tứ hải phú tắc hỹ. Nhiên nhi mao thứ chi thất chi mỹ, tắc dữ bất phú giả loại nhĩ tại vị bách niên, thọ nhất bách dư tuế, thọ tắc thọ hỹ. Nhiên nhi căng căng nghiệp nghiệp nhất nhật vạn ki , nhất nhân cơ hàn giai viết: do ngã bác thi tế chúng, do dĩ vi bệnh, thành thậm lao hỹ. Hà hữu hồ? tôn vinh an hưởng tắc dữ bất thọ giả diệc loại nhĩ. Hữu nam nhi bất thượng tắc dữ đa nam giả đại bất mâu, Nghiêu an đắc bất tự tỉnh nhi từ nhượng tai. Cố dư vị Nghiêu chi nhượng thị chân dã. Nhi Vương chi kiêm đắc diệc chân dã, thành kỷ túc hỹ, sử hỹ, mộng dĩ gia hỹ. Kim ngã dĩ suy hỹ, lực bất năng ích hỹ. Thượng hà khả chúc ư Vương, Vương dĩ lão hỹ, thời bất khả tái hỹ, kỳ hà dĩ báo ức. Dư văn chi mục thúc vị bất hủ hữu tam nhi phi thế lộc chi vị da. Dụng thị dĩ vi vương thọ nãi tác ca dĩ thân tình. Vân ca viết: thập châu tam đảo(12) đa thần tiên, dư văn kỳ danh vị kiến kỳ nhân yên. Yên hà tuyền thạch lạc di hiền, túng kiến kỳ nhân do khủng nan. Đắc toàn hà như đương thế, hữu tiên ông. Đông Trì(13), chủ nhân nãi tại Đông Trì trung. Đông Trì chi địa tuy cận thị, Đông Trì chi cảnh kiêm sơn thuỷ, dư phi mục kích văn thậm hỹ. Chủ nhân bốc cư cửu an chỉ. Thượng hữu kiều mộc giai cầm chi tương y. Hạ hữu phương liên du ngư chi toạ cơ, lương đình úc quán vô bất bị, thanh phong minh nguyệt vô yểm phiến. Nhi tôn nhiễu đằng, đãn tùy hám đệ muội, đồng bàn ngu bác kỳ. Chủ nhân tuy bất hỷ ẩm, diệc ái khách, nhất thương, nhất vịnh. Khuyến dữ kỳ cấp, quản phồn huyền cánh, xướng hòa quỳnh nhưỡng, trân hào doanh tứ. Tọa chủ nhân bất quyện, khách vong quy ký. Bốc kỳ trú hựu bốc dạ. Thẩn tư chủ ông thọ khuyến lạc kỳ. Như hà dục tương hải thủy thiêm ngân lậu, mạc sử băng luân trụy hải ba. Đình tiền đăng quả phương dự thiết trữ. Khán song tinh tương độ hà, chính cận phần dương kỳ chúc tịch nghi kỳ phước thọ. Nhật tư đa nhân thích ý, thử dĩ. Cực lục địa hành tiên tổng thị ngoa liệu. Tưởng Trần Tư Đạo Vận(14) nhất ban nhân. Tân thi, lộc phú tranh mỵ, trần vị thẩm khả đương chủ nhân ý, khả phụ chủ nhân nhân, khả chủ nhân chi danh, ư thiên xuân, phù vân lưu thuỷ, nguyên vô định, Ung Môn(15) cổ cầm, na nhẫn thính điền thị chi kinh(16) khủng tái thương miễn viên nhạn trì chung hoang kính. An đắc Cố Hổ Đầu(17), an đắc Vương Ma Cật(18). Chước đại đu, huy đại bút mô tả Đông Trì thọ tiên. Chân dung tranh quải Đông Trì dĩ dữ cửu lão chi đồ(19), tranh giáp ất, cửu lão đồ. Chu Công(20) bất thức như kim thuỳ tại vô.

Tự Đức tam thập nhị niên thất nguyệt sơ nhất nhật.

b. Dịch nghĩa

Ngự chế: Ban cho Thọ Xuân vương lời tựa cùng bài ca mừng thọ 70 tuổi

Người đời khó ai có thể được cả phúc lẫn thọ; hoặc có phúc mà không có thọ, hoặc có thọ mà không có phúc. Những người được chữ phúc thì chỉ là một hai trong trăm nghìn người. Những người được chữ thọ lại càng là một hai trong ức vạn người. Huống chi người được gồm cả hai điều, mà lại toàn vẹn không thiếu chút nào thì cái điều ấy trong trăm nghìn vạn người có đức cũng tuyệt nhiên chỉ có một mà không có kẻ thứ hai ở trên đời. Đại khái cái mà gọi là điều phúc là giàu sang và nhiều con trai. Cái mà gọi là điều thọ là được sống thanh nhàn, vui vẻ, khoẻ mạnh và hanh thông.

Người ta ở trên thế gian, hoặc có kẻ nghèo mà lại thọ, hoặc có kẻ hèn mà lại lắm con trai, hoặc cũng có kẻ giàu sang mà lại phải lo âu vất vả và không có con trai. Từ xưa tới nay thường thường là như vậy đó. Cho nên nguyện ước của mọi người đối với việc hoàn thiện cả hai điều ấy cũng là đúng thôi. Đến như thánh đức bằng vua Nghiêu còn chưa có thể được vẹn toàn hai điều ấy cơ mà! Cho nên chỉ biết cảm tạ mà không dám đòi được cả hai. Bậc thánh nhân hàng ngày tự xét thân mình còn không được cả hai mà huống chi là người thường? Rất đông những người bình thường còn hiểu rõ và cho là chuyện đương nhiên huống chi đối với gia đình của con cháu đế vương? Ôi! Họ của ông, tộc của ông đó là ở trong bách tính. Tất cả hầu như đã là hy hữu rồi. Vả lại sinh trưởng ở nơi giàu sang phú quí nhưng không kiểm soát được sự ăn uống và cuộc sống của mình để đến khi lâm vào thế khốn quẫn thiếu thốn thì sẽ bị tuyệt đường. Nếu mới chớm vào trong cảnh đó mà không thay đổi thì rất khó khăn, chẳng dừng lại được. Nếu mình cho điều đó là đúng thì quả là mình khó dứt được ra. Điều đó cũng hết đường không cứu vãn nổi.

Ở đây ta có một người. Vương, với tư cách là con của Văn Vương, em của Vũ Vương, chú của Thành Vương, sớm giữ lòng bề tôi. Đến nay nhiều lần được phong tước, vị trí ở dưới thiên tử một bậc. Nếu nói đến chữ sang thì đã thật là sang. Làm việc trải qua bốn đời vua, bổng lộc ngàn chung, phẩm vật được ban tính không thể xiết. Nếu nói đến chữ giàu thì lại càng giàu thêm. Những thân phận người khác đều ưng được gần bằng thế cũng còn khó. Ta chỉ nghe lúc ấu thời Vương rất yếu, nhiều bệnh. Sao lúc trưởng thành Vương lại sung mãn, khang kiện thịnh vượng đến vậy. Cái mà Vương có được là hơn 100 người con, thì số 100 trong Kinh Thi so ra còn kém. Vậy cớ sao những điều tốt đẹp của Vương lại phải nghi ngờ? Huống chi tinh thần của Vương minh mẫn, càng già càng bệ vệ oai phong. Nay tuổi đời của Vương đã tới “xưa nay hiếm”. Tuy râu tóc đã bạc hết nhưng ăn uống, ngủ nghê, nhìn ngắm, suy nghĩ, ngôn luận của Vương thì không suy giảm. Khiến cho người người có thể kính yêu mà chẳng tự mình đạt được như Vương có. Bởi vì làm được như Vương thì thật vô cùng khó vậy. Tuy ở trong gia đình hoàng tộc nhưng Vương sống rất giản dị. Nhiều lúc nhàn hạ Vương vui với cảnh vườn ao. Dạo chơi nhà ca vũ, thưởng thức yến tiệc, các nơi chẳng có chỗ nào Vương không lui tới. Sự thảnh thơi của Vương cuối cùng chẳng phải là sự mở đầu của chữ “phúc” đó sao? Nên mệnh của Vương mới được dài thay! Sự từng trải đó khó ai có thể làm được.

Xưa, Lương Hiếu rất giàu mà nghe đâu không thọ và không có nhiều con trai. Trung Sơn có nhiều con trai mà lại không giàu không thọ. An bình hưởng tuổi thọ mà lại nhiều con trai và giàu thì chưa hề chứng kiến. Nay tiếng tăm của Vương tuy nghe không bằng Tùng Tuy, hào hùng không bằng Ninh Thuận, giàu có không bằng Định Viễn nhưng mà phúc thọ đầy đủ cả hai thì anh em của Vương từ trước đến nay chưa ai có cả, chỉ một mình Vương có đầy đủ mà thôi. Sự đẹp đẽ tận cùng chữ phúc của Vương là do đức sáng của triều ta. Cái phúc ấy thật thấm sâu, chảy rộng sáng khắp cõi đời không có giấy bút nào tả xiết, há chẳng phải là tuyệt thế vô song khiến cho những kẻ khác cũng phải kính cẩn nghiêng mình ư? Ôi! Nay người có đức tất sẽ có báo đền. Chẳng phải Vương có may mắn gặp người gặp nơi đúng ý nên cuối cùng được đầy đủ cả hai ư? Nhược bằng nếu Vương có âm đức gì, hoặc có phương thuật gì thì ta đây không được biết. Chỉ thấy Vương còn một tấm lòng vương thất nhàn nhã mà không hốt hoảng với người đời và dễ gần gũi mà không cần lường tính. Cái điều gọi là vui vẻ dễ gần gũi ấy được báo đáp dẫn đến sự trường thọ ư? Hay là lấy cái mỹ tước được phong lúc đầu để thánh với trời cùng hợp đức hay là mệnh thọ của ông đã được trời định trước vậy. Nhưng chẳng phải vì Vương vốn trung thành đức độ nên có thể sống đến nay ư? Ôi! Giàu thọ nhiều con trai là điều mà mọi người cùng muốn. Thế mà chỉ có một mình vua Nghiêu dám từ chối, nhường nhịn mà lại chẳng dám sánh cùng. Đại khái, kỳ thực cái gốc thì chẳng phải là hư nhượng. Vua Nghiêu quí ở chỗ là thiên tử giàu có thì bốn biển giàu có. Còn cỏ tranh là vẻ đẹp của ngôi nhà thì cũng cùng một loại với kẻ không giàu mà thôi. Những bậc thiên tử ở ngôi trăm năm, thọ hơn trăm tuổi, đã thọ lại càng thêm thọ, thế mà luôn nơm nớp lo sợ một ngày nào đó có nguy cơ dân đói rét. Mọi người đều nhận xét về họ rằng: mở rộng lòng trời thi hành cứu vớt dân chúng. Còn nếu bị bệnh mà đoản mệnh thì thật là khổ rồi. Liệu có chuyện ấy chăng? Kẻ có con trai mà không coi trọng thì sánh sao được với kẻ có phúc lớn mà đẻ nhiều con trai. Vua Nghiêu bình tĩnh tự xem xét việc từ nhượng nên sự nhường của Vua Nghiêu là chân thật vậy thôi. Nên cái được cả hai (Phúc Thọ) kiêm toàn của Vương cũng là thật vậy! Chỉ cần mình thành thực là đủ rồi, đúng rồi. Nay ta yếu, sức cũng không được dồi dào, coi trọng, sao có thể chỉ ngồi nhìn Vương. Vương đã già rồi, thời gian qua đi không bao giờ trở lại nữa, biết lấy gì để báo đền đây. Ta nghe Mục Thúc nói: bất hủ có 3 điều mà cái gọi là lộc ở đời thì chẳng phải.

Dùng để mừng thọ cho Vương, ta làm một bài ca ca ngợi, để tỏ nỗi lòng tôn kính ưu ái mối thâm tình. Lời ngợi ca rằng: thập châu tam đảo có nhiều tiên. Ta nghe danh nhưng chưa sở mục. Chỉ thấy suối mây núi đá, cảnh đẹp vui với người hiền. Theo thầy người còn sợ khó, toàn vẹn chi bằng có được tiên ông. Chủ nhân Đông Trì, ở tại Đông Trì. Đất Đông Trì tuy gần chợ. Cảnh Đông Trì gồm cả núi sông. Ta chưa mục kích nhưng nghe là rất đẹp. Chủ nhân dự tính, ở yên chốn này. Trên thì có cây cao chim đẹp. Dưới thì có sen toả cá bơi. Lương đình quán ấm san sát một dãy. Gió mát trăng thanh bao bọc xung quanh. Trẻ con quấn quýt, gật đầu mỉm cười. Anh em cùng nhau đánh cờ giải trí. Chủ nhân tuy không thích uống, nhưng vì mến khách cũng uống một ly; tuy không hay hát, cũng ca một bài. Tiếng đàn sáo nổi lên rộn rã, cùng hòa vang tiếng hát véo von. Chén rượu quỳnh tương đưa nhấp trên môi. Sơn hào hải vị dâng lên đầy ắp. Chủ nhân chẳng mệt, khách cũng quên về. Chơi bói phệ từ sáng đến tối, cuộc mừng thọ chủ ông chốn này. Cớ sao nước biển lại muốn thêm lên, để giọt đồng hồ lại rơi tý tách. Chẳng phải là: khiến băng chuyển dần mà rơi xuống nước, để cho sóng biển được dịp dâng lên. Đèn trước sân thắp sáng từ lâu, xem hai chòm sao sắp đến bến sông Ngân Hà rồi đó. Chính lúc mặt trời gần lên, là lúc tiến hành mừng thọ. Mặt trời đã mọc, mọi người vui vẻ, vì chúc thọ xong. Đi hết đất đai tiên cảnh, chứng kiến mọi nơi, mới nhìn rõ đời. Nghĩ rằng Trần Tư, Đạo Uẩn đất Vận, cùng một loại người. Thi phú tài ba thật đáng yêu. Trần chưa xét kỹ nhưng sánh ngang thân chủ. Sự so sánh này giúp chủ nhân biểu lộ lòng nhân. Danh tiếng chủ nhân còn để lại, ngàn năm mây nổi nước trôi hoài. Đàn trống hài hoà âm điệu tiếp. Tiếng đàn Ung Môn như nhắc nhở ta. Cớ sao phải nghe chuyện của cây tử kinh. Để anh em họ Điền phải ôm nhau thút thít. Sợ rằng: thương ôi như nhắc nhở. Vườn thỏ ao nhạn, cỏ hoang rậm rì. Sao được Cố Hổ Đầu? sao được Vương Ma Cật? cùng nâng chén rượu, chúc thọ vui vầy. Vẫy bút vẽ tranh, chân dung tiên thọ. Ở tại Đông Trì, đất kinh đô đó. Chân dung tiên ông, sánh tranh cửu lão; giành thế nhất nhì, Chu công còn kém.

Ngày mồng một tháng 7 niên hiệu Tự Đức thứ 32 (1879).

 

Chú thích:

1. Thánh nhân tự tỉnh: lấy ý từ câu “Ngô nhật tam tỉnh ngô thân” (ta hàng ngày nhiều lần tự xét thân ta) của Khổng Tử trong sách Luận ngữ.

2. Văn Vương chi tử, Vũ Vương chi đệ, Thành Vương chi Thúc: ở đây chỉ Chu Công đời nhà Chu, con của vua Văn Vương, em của Vũ Vương và chú của Thành Vương để so sánh với Thọ Xuân vương vốn là con của Thánh Tổ, em của Hiến Tổ và chú của Dực Tông.

3. Thiên chung: nghìn chung. Chung là một dụng cụ đo lường hình như cái bát đựng được 6 hộc 4 đấu. Nghìn chung là chỉ lộc nhiều.

4. Tắc bách chi thi: ở đây muốn nói đến số con của vua Văn Vương là 100 người được nói tới ở Kinh Thi.

5. Cổ hy: là lấy chữ từ câu “nhân sinh thất thập cổ lai hy” (người đời sống đến 70 tuổi xưa nay hiếm).

6. Lương Hiếu: tức là Lương Hiếu Vương con của Hán Vũ Đế, tên là Vũ có lập cung Diệu Hoa để chiêu tập hào kiệt bốn phương.

7. Trung Sơn: tức là Trung Sơn Tĩnh Vương con thứ 7 của vua Hiếu Cảnh nhà Hán.

8. An Bình: tức là An Bình Công người đời Chiến Quốc tên là Điền Đan có công đánh đuổi quân Yên khôi phục lại nước Tề.

9. Tùng, Tuy: tức là Tùng Thiện Vương Miên Thẩm và Tuy Lý Vương Miên Trinh.

10. Ninh Thuận: tức là Ninh Thuận Quận Vương Miên Nghi con thứ tư của Thánh Tổ.

11. Định Viễn: tức là Định Viễn Quận Vương, con thứ sáu của thế tổ.

12. Thập châu tam đảo: chỉ ba đảo là Bồng Lai, Phương Trượng, Doanh Châu ở Trung Quốc tương truyền ở đây có rất nhiều tiên.

13. Đông Trì: tên địa danh thời nhà Nguyễn, hiện nay ở địa phận phường Phú Cát, thành phố uHuế.

14. Trần Tư, Đạo Vận: Trần Tư tức là Tào Thực con của Tào Tháo thời Tam Quốc được phong làm Trần Tư Vương rất giỏi làm thơ, đi 7 bước đã làm xong một bài. Đạo Vận tức là Tạ Đạo Uẩn, người đất Vận đời Tấn, cháu của Tạ An, học rộng, có tài biện bác, rất giỏi về thơ văn.

15. Ung Môn: tức là Ung Môn Chu, người nước Tề đời Chiến Quốc. Vì ông ở Ung Môn (cửa nước Tề) nên lấy hiệu là Ung Môn. Ông là một người có tài đánh đàn. Có lần Mạnh Thường Quân hỏi: tiếng đàn của tiên sinh nghe đâu khiến người vui hóa buồn có phải không? Chu đáp: đó là những người trước giàu sau nghèo, trước sang sau hèn, trải qua những cảnh khốn đốn, chứ ngài là tướng quốc, có cả ngàn cỗ xe, dầu có tài đánh đàn đi nữa cũng không làm cho ngài buồn được. Thế nhưng muôn nghìn năm sau, đảo nghiêng hồ cạn, mồ mả hoang tàn, đứa chăn trâu, kiếm củi đạp lên mộ ngài mà ca rằng: Cao ơi! Mạnh Thường Quân xưa vinh hoa phú quý thế mà nay lại suy vi như thế này ư? Mạnh Thường Quân khi nghe lời nói đó đã buồn, lại thêm nghe mấy bản đàn ai oán Chu đánh. Nước mắt dầm dề, Mạnh Thường Quân nói rằng: tiếng đàn của tiên sinh khiến tôi thành người mất nước xiêu nhà.

16. Điền thị chi kinh: cây tử kinh của họ Điền. Anh em họ Điền sau khi cha chết chia nhau gia tài, có cây tử kinh trồng giữa sân cũng định chặt mà chia nên cây này tự nhiên khô héo mà chết. Người anh trưởng khóc bảo với hai em rằng: cây lá cùng một gốc, nay ta sắp sửa phân chia nên nó đau đớn mà khô héo. Anh em ta nào khác gì cây này. Nghe nói thế hai em đều sụt sùi cảm động ôm lấy nhau, không nghĩ đến chuyện chia gia tài nữa.

17. Cố Hổ Đầu: tên Khải Chi, tự là Hổ Đầu, người nước Tấn, học rộng có nhiều tài, nhất là giỏi về họa. Người đời nói ông có tam tuyệt : tài tuyệt, họa tuyệt, si tuyệt.

18. Vương Ma Cật: Vương Ma Cật là tự của Vương Duy người đời Đường, đậu Tiến sĩ vào niên hiệu Khai Nguyên, làm quan đến Thượng Thư, giỏi thơ giỏi họa.

19. Cửu lão chi đồ: là hình vẽ chín ông già sống lâu được người đời ái mộ nên vẽ chung vào một bức tranh. Đó là những người: Bạch Cư Dị, Hồ Cảo, Cát Vận, Trịnh Cứ, Lưu Chân, Lư Chân, Trương Hồn, Địch Kiêm Mô, Lư Trinh ở Trung Quốc.

20. Chu công: tên là Cơ Đán, con thứ của Văn Vương, em của Vũ Vương, chú của Thành Vương có công gìn giữ, phát triển cơ nghiệp nhà Chu./.

Trần Thị Thanh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm