73. Các thông tin trên bia và sách phả ở làng Trung Tự cũ về một thầy giáo được phong Phúc thần Đại vương (TBHNH 2003)
CÁC THÔNG TIN TRÊN BIA VÀ SÁCH PHẢ Ở LÀNG TRUNG TỰ CŨ VỀ MỘT THẤY GIÁO ĐƯỢC PHONG PHÚC THẦN ĐẠI VƯƠNG
NGUYỄN HẢI TRỪNG
Đống Đa - Hà Nội
Hai làng cổ Trung Tư và Kim Liên của Thăng Long - Hà Nội (nay thuộc phường Phương Liên và Kim Liên, quận Đống Đa) có một nhân vật đáng chú ý. Ông tự là Nguyễn Hy Quang, quê nội ở Trung Tự, quê ngoại và quê vợ ở Kim Liên, chỉ là một nhà giáo nhưng có công trong xây dựng đất nước nửa cuối thế kỷ XVII nên được phong Phúc Thần Đại Vương.
Tôi đã sưu tầm được trong sách cổ một số thông tin tương đối có thể giúp hiểu hành trạng ông và đã gắng tìm cho được bia của từ đường ông (vì từ đường đã bị tàn phá năm 1947 trong chiến tranh). Tìm mãi không kết quả nhưng khi đọc sách Đông Tác Nguyễn Thị Gia Huấn (ở Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu A.673) thấy tác giả Nguyễn Văn Lý (1795-1868) có sao lục văn bia trong đó, dài khoảng gần 600 chữ, không kể phần ghi về mồ mả, con cái. Văn bia do Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý soạn, có thể là vào năm 1849 khi từ đường được trùng tu lớn.
Trong các tư liệu ở sách cổ, đáng chú ý nhất là bộ Thọ Xương Đông Tác Nguyễn thị toàn phả gồm 3 quyển của Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý. Tác giả đã để hơn 20 năm sưu tầm biên soạn, khi nghỉ hưu lại sửa chữa bổ sung, độ tin cậy của sách có thể coi là cao (trong báo cáo sẽ gọi tắt là Toàn phả). Các thông tin trên đã được kiểm chứng bằng các sách sử.
Dưới đây xin trích dẫn một số thông tin về Phúc thần Đại vương Nguyễn Hy Quang:
1. Sau lời mở đầu một cách tự nhiên mà rất thành kính, văn bia ở từ đường ông nêu ngắn gọn về cuộc đời và sự nghiệp ông. Xin trích đoạn nói về thời kỳ đầu:
Phiêm âm: Cổ chi hữu đức huân danh giả tất minh vu đỉnh lễ chi tắc đã, từ đường chi hữu bi nghĩa thủ chư thử quyển... Đại vương công... Lê Đức Long lục niên Giáp Tuất tam nguyệt dã sinh Hữu dị chất khôi thạc bất phàm. Sinh bình thụ lập mỗi dĩ cổ nhân tự lệ. Niên nhị thập tứ, Đinh Dậu khoa hương thí Giải Nguyên. Tầm đăng anh tuấn khoa.
Tạm dịch: Xưa nay, những người có đức có công lao đều được ghi bia, đó là phép tắc về lễ vậy. Ý nghĩa tấm bia trong từ đường cũng là từ lòng thành như thế. Đại Vương sinh tháng 3 năm Đức Long thứ 6 triều Lê, Giáp Tuất 1634. Khi sinh ra, tướng mạo khôi ngô khác người. Bình sinh ông lấy gương người xưa để tự gắng sức luyện rèn. 24 tuổi thi Hương khoa Đinh Dậu, đỗ Giải nguyên. Lại đỗ khoa chọn người anh tuấn (tức khoa Sỹ Vọng là khoa thi triều đình cho mở để gạn lọc, không bỏ sót anh tài).
Về thời kỳ này, có một thông tin nữa đáng chú ý (đã được nêu trong Báo cáo Hán Nôm học năm 2002 về tấm bia hộp ở đình Trung Tự): “(Quang ra đời) vào lúc không những nhà nghèo mà còn đã 3 đời lưu lạc, cùng toàn dân làng trú nhờ ở làng Kim Hoa (đời Thiệu Trị nhà Nguyễn đổi là Kim Liên). Nguyên do là đất làng bị kể quyền thế lấn chiếm gần hết. Lớn lên, ông tích cực mưu trí cùng một số người làng tìm cách đòi lại đất cho làng. Năm 1673, triều đình đã xử cho dân Trung Tự đạt ý nguyện chính đáng đó. Năm sau, dân trở về làng cũ, ông có công lớn trong việc tạo dựng ổn định quê hương”. Phả họ Nguyễn Đông Tác, chữ Quốc ngữ của Thiều Chửu (xuất bản 1940 - trang 10) viết: “Cụ thực là một bậc có công gây dựng làng ta là thứ nhất vậy”.
Thời kỳ đầu của ông còn được Toàn phả cho biết thêm chi tiết:
Phiêm âm: Đề đốc Phạm Công Uy hữu đông sàng chi tuyển dĩ kỳ nữ, Tôn nhân thế chi bất luận tài... Hội thí luy trúng trường. Cảnh Trị bát niên, Canh Tuất thu, trúng Sỹ Vọng... thụ Thường Tín phủ Giáo thụ.
Tạm dịch: Đề đốc Phạm Công Uy (người làng Kim Hoa) kén rể đã gả con gái cho ông, không kể giàu hay nghèo...Thi Hội, ông trúng trường. Đến năm Canh Tuất Cảnh Trị thứ 8 (1670), ông đỗ Sỹ Vọng... nhậm chức Giáo thụ phủ Thường Tín.
2. Công việc ở thời kỳ tiếp theo của ông được văn bia ghi như sau:
Phiêm âm: Vương thượng văn kỳ danh tức triệu sung Vương thế tử Lương Mục Công thật liêu.
Tạm dịch: Nhà Chúa nghe tiếng bèn cho triệu vào, sung hàng tân khách của Vương thế tử Lương Mục Công.
Toàn phả viết cụ thể hơn:
Phiêm âm: Phụng Vương thượng phóng cập di tài Lại bộ Bồi tụng Thân công (An Dũng nhân) đối công tài kham đại dụng, liêu bằng như xuất nhất khẩu, đặc triệu đáo. Công niên tứ thập lệnh sung Vương thế tử Thái phó Lương Mục Công phụ đạo... Minh công hỷ vị: Vương tá tương đắc hà vãn tứ thi... Nhân tế dịch thánh hiền khổn áo tham kê đế vương trị đạo. Trứ vi "Quân thần luận"...
Tạm dịch: Vâng lệnh Chúa thượng đến tận nơi tìm hiểu để không bỏ sót nhân tài. Bồi tụng Thượng thư Bộ Lại là Thân công người An Dũng, thấy tài của ông có thể kham được việc lớn, bạn bè đồng liêu cũng đều nói như thế, bèn đặc triệu ông. Năm 40 tuổi có lệnh cử ông làm người phụ đạo (góp ý về đường đi nước bước) cho Thế tử nhà Chúa là Thái phó Lương Mục Công. (Sau nhiều lần đàm đạo) Minh công vui mừng bảo: “Sao ta gặp người phụ tá tương đắc chậm đến thế, và tặng thơ...”. Nhân đó Chúa tinh tế tìm hiểu thật cặn kẽ các vấn đề then chốt, sâu xa của đạo trị quốc của đế vương. Ông đã viết bản Quân thần luận.
Văn bia tuy xúc tích cũng dành một đoạn nói rõ về bản Quân thần luận:
Phiêm âm: Quân thần luận tựu trung luận thuật quân thần chi đạo dữ tri nhân, an dân, binh hình thiết thật đẳng kiện sự. Vương thượng dĩ vi Ngụy Trưng "thập tiệm" đương bất thị quá thù thán thưởng yên.
Tạm dịch: ... (Quân thần luận) bàn về đạo vua tôi, cùng (phép) hiểu biết người, yên dân và việc binh việc hình cần kíp thiết thực... Nhà Chúa cho rằng “Mười điều tiến dần” của Ngụy Trưng(1) cũng không hơn được nên rất tán thưởng.
Trong từ đường cũng có đôi câu đối như sau:
Quân thần luận liệt nhất thiên gia mô ý phạm
Thanh tích bỉnh bưu thiên cổ tẫn trực cô trung.
Tạm dịch ý: Một thiên Quân thần luận, khuôn mẫu đẹp đẽ về phép tắc,
Tiếng thơm sáng muôn thuở về lòng trung thành chính trực.
3. Văn bia tiếp đó dành một đoạn nói về việc Tấn Quốc Công thụ giáo ông
Phiêm âm: Tầm phụng chỉ giáo tuân kỳ tử Tấn Quốc Công, Tấn Quốc Công, Lương Mục Vương chi tử dã. Công ư thử nhất chức bất cẩu duy tư thành tựu kỳ đức nghiệp dĩ thù Lương Mục Vương tri kỷ chi ân sủng... Tấn Quốc Công thượng ấu hiệp xúc đình tiến chỉ chi gian tiểu tâm, cẩn chân bất thất thốn xích.
Tạm dịch: Vâng lệnh Chúa thượng, ông còn dạy con của Lương Mục Vương là Tấn Quốc Công. Trong chức phận này, ông lo chuyện về lâu về dài, đã suy tư nhiều nhằm sao cho trò đạt được đức nghiệp để báo đáp ơn tri kỷ của Lương Mục Vương...
Tấn Quốc Công lúc còn nhỏ tuổi đã được ông xốc nách đưa lên điện đình, chỉ bảo cặn kẽ chu đáo.
Xin chú thích một chút: Tấn Quốc Công (1669-1703) tên là Trịnh Nhuế (Bính), sau là Tấn Quang Vương, đã thụ giáo ông từ 1674 hoặc 1675. Cha của Nhuế là Lương Mục Công là người đã được chọn làm Thế tử nhưng ốm chết trước khi cha là thế tử Định Vương Trịnh Căn lên làm Chúa năm 1682 kế vị Tây Vương Trịnh Tạc. Vì con của Lương Mục Công còn nhỏ nên em ruột là Trịnh Bách lên làm Thế tử Khiêm Quốc Công, Tiết chế.
Toàn phả cho biết tiếp đó:
Phiêm âm: Đinh Mão Xuân, Tiết chế Khiêm công hoăng. Vương tôn Thái úy Tấn Quốc Công nhập thừa đại nghiệp khai Tiết chế phủ, thống suất bách quan... Triệu Hộ bộ Tả thị lang Mai Sơn Nam Nguyễn Công viết Thứ, dữ công vi chi phụ tá đại ngôn.
Tạm dịch: Mùa xuân năm Đinh Mão 1687, Tiết chế Khiêm Công qua đời, cháu Chúa là Thái úy Tấn Quốc Công mở phủ Tiết chế, thống suất trăm quan. (Nhà Chúa) triệu Tả Thị Lang Bộ Hộ là Mai Sơn Nam Nguyễn Viết Thứ cùng ông làm phụ tá...
4. Sau đó hơn 4 năm, ở tuổi 58 ông chủ động xin về nghỉ. Bia có lời ghi về tính cách, đức hạnh của ông trong thời kỳ làm việc:
Phiêm âm: Hoặc hữu trấm chi giả công nghị nhiên trung kính bất diêu, mỗi dĩ cố chi trình yếu tồn cô tự hiệu tại quan chi nhật môn bất thụ tư quý, ngật vu uy ngật vu phú kỳ thanh bạch công chính.
Tạm dịch: Nghe chuyện bịa đặt dèm pha, ông cứng cỏi vững vàng không dao động. Ông thường lấy khuôn phép người xưa để tự mình gắng sức, vươn lên hơn người. Trong việc quan, ông không bao giờ nhận quà cáp riêng, không màng quyền uy, không màng giàu có, luôn thanh bạch, công minh chính trực.
Sau khi ông mất năm Nhâm Thân 1692, theo văn bia:
Phiêm âm: Vương thượng chẩn kỳ trung cần, tặng Thị lang, gia tặng Công bộ Thượng thư, Hiển Quận công, phong Phúc Thần, Trực Ôn Văn Nhã, Thông mẫn Tài tuấn, Đại độ Khoan hòa Đại vương, chuẩn kỳ lương Đông Tác dữ Kim Liên nhị phường dân vi tạo lệ, xuân thu quốc trí tế yên.
Tạm dịch: Nhà Chúa xét thấy ông trung chính cần mẫn, tặng phong Thị lang, gia phong là Thượng thư, tước Hiển Quận công, phong Phúc Thần Trực Ôn Văn Nhã, Thông mẫn Tài tuấn, Đại độ Khoan hòa Đại vương, giao cho dân 2 phường Đông Tác và Kim Hoa làm tạo lệ, hàng năm xuân thu hai lần làm quốc tế.
Quyển II của bộ Toàn phả có sao nguyên văn các sắc phong, lệnh chỉ về các việc tặng ân điển, bài cầu xin tuổi thọ khi thầy Hy Quang ốm nặng và bài văn tế, hai bài viết rất tình cảm do Tấn Quốc Công thân soạn. Trong sắc phong Phúc Thần năm 1745, có lời đánh giá khá cụ thể về ông, hơn nữa với độ lùi về thời gian hơn 50 năm chắc là có tính khách quan cao hơn, xin trích dẫn:
Phiêm âm: Lương đống hoành tài, Phan Dư lệnh khí, Bồi giảng ác nhi tựu tương thánh học, nhược thời sư đốc phỉ chi cần. Lỵ phồn cơ nhi phủ phất hoàng du, tư nhật mậu tán tương chi lực...
Tạm dịch: Tài cao bậc lương đống, vật báu (của triều đình) như ngọc Phan dư. Trong màn giảng, giúp trau dồi học vấn của thánh hiền ngày càng tiến tới. Kịp thời và hết lòng cần mẫn phụ tá. Góp nhiều ý hay tốt đẹp vào mưu lược lớn (quốc gia), ngày lo nghĩ giúp (triều đình) xây dựng nền thịnh trị.
Cuộc đời cùng đức độ tài năng và sự cống hiến của nhà giáo Nguyễn Hy Quang có thể là một tấm gương sáng cho các thế hệ chúng ta.
Chú thích:
(1) Ngụy Trưng là một đại thần tài giỏi đã giúp vua Đường Thái Tông Trung Quốc làm nên sự nghiệp lớn./.
Thông báo Hán Nôm học 2003, tr554-560