VI | EN
74. Giới thiệu hai tấm bia hiện đang được lưu giữ tại chùa thôn Hội Xá xã Hương Sơn huyện Mỹ Đức, Hà Nội (TBHNH 2009)
(TBHNH 2009)

GIỚI THIỆU HAI TẤM BIA HIỆN ĐANG ĐƯỢC LƯU GIỮ TẠI CHÙA THÔN HỘI XÁ XÃ HƯƠNG SƠN HUYỆN MỸ ĐỨC HÀ NỘI

NGUYỄN HỮU TÂM - NGUYỄN QUANG TRUNG

Viện Sử học

Vừa qua, trong đợt điền dã về vùng Mỹ Đức, Hà Nội, chúng tôi đã phát hiện và sưu tầm hai tấm bia đang được lưu giữ tại địa phận thôn Hội Xá, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Đây là những tấm bia thuộc niên đại Chính Hòa triều Lê và Gia Long triều Nguyễn, nội dung văn bia có giá trị, phản ánh nhiều mặt về địa danh, lịch sử, Phật giáo và chữ Nôm… vào thế kỷ XVIII và đầu XIX, chúng tôi xin giới thiệu khái quát về từng tấm bia cùng bản dịch tiếng Việt để bạn đọc tham khảo.

1. BIA SỐ I

Đây là tấm bia được đặt trong chùa Hương Chản, bia được làm bằng đá xanh, chữ được khắc khá sâu, và được nhân dân địa phương có ý thức bảo quản khá tốt, do vậy dù đã trải qua năm tháng lâu dài (bia được khắc tháng 2 năm Đinh Mão niên hiệu Chính Hòa thứ 8 đời vua Lê Hy Tông năm 1687) tính đến nay (2009) đã là 322 năm), nhưng chúng ta vẫn có thể đọc được gần như hoàn toàn nội dung ghi trên bia.

Vài nét về hiện trạng bia: Hiện nay tấm bia được đặt dưới khu nhà sau của chùa Hương Chản thuộc thôn Hội Xá, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Nội. Bia cao 80 cm, ngang rộng 57 cm, trán bia cao 19 cm, bia dầy 17 cm. Bia gồm 2 mặt khắc chữ Hán có xen lẫn chữ Nôm (chủ yếu tên người và tên đất). Trán bia mặt 1 trang trí cách điệu Lưỡng long chầu mặt trời, có 5 chữ đại tự “Hương Chản tự bi ký” (Bài ký trên bia chùa Hương Chản), mặt 2 của bia cũng được trang trí lưỡng long chầu mặt trời nhưng con rồng không được đẹp như mặt bia 1, và mặt trời được cách điệu giản đơn hơn, có 5 chữ đại tự trên trán bia là “Hoàng đế vạn vạn niên” (Hoàng đế muôn muôn tuổi). Chữ khắc trên bia khá sâu, dễ đọc, tuy vậy có một số chữ đã mòn, mờ. Mỗi mặt bia có 25 dòng chữ, mỗi dòng gồm trung bình 28 chữ Hán, cộng thêm một số chữ ghi trên mặt cạnh bia (mặt thứ 3), tổng cộng toàn bộ văn tự được khắc trên tấm bia có ước khoảng hơn 1400 chữ Hán và chữ Nôm.

Nội dung bia nêu lên việc công đức của thập phương trong việc tu sửa Thượng điện, cây hương, nhà hậu đường, tô mới tượng Phật cùng việc bầu Hậu phật. Toàn bộ họ tên của những người góp công cùng tiền tài, vật chất đều được ghi rõ trong bia. Đặc biệt, trong số đó có vị Sa môn kính vân thủy thiền thiên Trần Đạo Viên Quang chân nhân cùng môn đệ là Trần Huyền Hưng tự Đạo Thắng chân nhân đã bỏ ra nhiều công đức, tiền tài để tu sửa động báu của Hương Sơn và mở mang xây dựng chùa Hương Chản. Cả hai vị Chân nhân đều được bầu làm Hậu phật của làng.

Sau đây cjhungs tôi xin công bố bản dịch:

BÀI KÝ TRÊN BIA CHÙA HƯƠNG CHẢN

Mặt 1:

Kính trọng việc tu sửa thượng điện, cây hương, tô vẽ tượng Phật, nhà hậu đường. Khi đó Phật pháp lưu thông, hỏi han sư tăng kính cẩn từ xưa kiếp nạn vô cùng. Đến nay chính lúc đạo Phật mở mang, Thiền tông thật sự nắm quyền giáo hóa, giao cho Vân thủy Thiền thiên đạo Viên Quang chân nhân, một lòng thanh tịnh, chuyên tâm tam bảo, bên trong tu sửa động báu Hương Tích, bên ngoài khai mở danh lam Hương Chản, khuyến khích người làm điều thiện, trừng phạt kẻ chứa mầm ác. Công đức làm tăng thêm cảnh đẹp của thiên đài, mãi luôn tỏa sáng. Đèn Thiền quả Phật, chu vi liên kết, duyên lớn đạo to, thế nước lâu bền, yên dân cầu phúc, người người khỏe mạnh, mọi vật thịnh vượng, ấy là công đức, phúc đẳng hà sa, đời đời cùng chứng, Bồ đề nảy sinh, Phật đạo viên mãn, lưu truyền thiên cổ, sáng rõ đời sau.

Toàn bộ tên người trong Hội chủ hưng công cùng thập phương công đức đã làm tròn quả phúc được liệt kê như sau:

Quan viên thôn trưởng xã Hội Xá chùa ta cựu Xã chính kiêm Cai xã là Lê Đăng Long. Trước đã thi đỗ Sinh đồ kiêm Xã chính là Nguyễn Công Luận, Cựu Xã chính kiêm Thủ dịch tổng là Lê Cao Đệ, Nguyễn Hữu Chủ, Nguyễn Hữu Tức, Nguyễn Như Thạch, Trần Công Chính, Lê Đăng Đạo, Lê Trung Tín, Trương Tiến Thiện, Nguyễn Công Vệ, Nguyễn Thế Xứng, Lê Đăng Thành, Nguyễn Tiến Trực, Nguyễn Đức Trạch nay đổi là Trần Kim Chinh tự Đạo Khuông chân nhân, Trần Đức Danh, Hoa Hữu Đăng, Nguyễn Văn Ổ, Vương Nhật Thiêm và toàn thể quan viên, hương lão, già trẻ… trên dưới trong xã, tức những người có công làm việc thiện sâu sắc vô cùng.

Phật sự đã được hoàn thành, Sa môn kính vân thủy thiền thiên Trần Đạo Viên Quang chân nhân được ban tặng là Hòa thượng Viên giác tôn giả ty Tăng lục viện Thượng Lâm được bầu là Hậu Phật, thờ tự trong nội điện cùng các tòa thờ bên trái của chùa làng, xin nguyện thờ tự lưu truyền mãi mãi, không quên việc đèn nhang trong điện thờ tam bảo để lưu lại phúc ấm cho hậu thế, công đức góp hơn 10 quan tiền cổ. Lại ủy cho môn đệ là Trần Huyền Hưng tự Đạo Thắng chân nhân, tiến hành chấn hưng tu sửa các việc cho đẹp cảnh Thiền được viên mãn. Vị Đạo Thắng chân nhân đã ứng trước công đức góp 15 đầu tiền cổ, sau lại tặng cho chùa ta 30 đầu tiền cổ. Quan viên trên dưới của chùa ta lại bầu làm Hậu Phật thờ tự hương khói xin như trước, ghi vào bia đá để lưu truyền mãi mãi (quê quán tại xã Thụy Lôi hạ huyện Kim Bảng).

Đệ tử là Trần Bình tự Đạo Hòa chân nhân.

Cúng góp công đức:

Thủ hợp xã Hội Xá là Nguyễn Văn Hiển, con trai là Nguyễn Hữu Pháp tự Phúc Quảng

Lê Chính Phúc và vợ là Đỗ Thị Hộ tự Pháp Không hiệu Diệu Hồng chân nhân cúng 4 đầu tiền.

Trùm bản giáp kiêm Trùm phủ sĩ là Nguyễn Văn Tài tự Phúc Hữu và vợ là Đinh Thị Đích hiệu Diệu Đạo chân nhân cúng 4 đầu tiền.

Cai xã kiêm Cán sự tổng là Đinh Hữu Lộc tự Đức Viên chân nhân được bầu làm hậu Thần bản giáp, vợ là Đào Thị Tòng hiệu Diệu Tuyển chân nhân, thiếp Nguyễn Thị Lai cúng 4 đầu tiền.

Xã chính là Mai Kim Quế và vợ là Nguyễn Thị Phong cúng 4 đầu tiền.

Xã trưởng kiêm Cai xã là Lê Văn Thành tự Phúc Hưng chân nhân và vợ là Đào Thị Nghi hiệu Diệu Trà chân nhân cúng 3 đầu tiền.

Trưởng lão vãi Trần Thị Hợp hiệu Viên Nữ chân nhân mua hương án và công đức vào chùa.

Hoa Thị Văn hiệu Diệu Tri chân nhân cúng 3 đầu tiền.

Đinh Văn Tiến tự Phúc Đức và vợ Nguyễn Thị Lượng hiệu Diệu Thịnh chân nhân cúng 1 đầu tiền.

Ngày lành tháng 2 năm Chính Hòa thứ 8 (1687)

Sinh đồ kiêm Xã chính là Nguyễn Công Luận và vợ là Nguyễn Thị Lỗi

Trùm bản giáp là Nguyễn Như San tự Phúc Tuy và vợ là Mai Thị Phong.

Mặt 2:

HOÀNG ĐẾ MUÔN MUÔN TUỔI

Cúng góp công đức:

Trùm trưởng là Lê Văn Cao tự Phúc Hậu chân nhân và vợ là Đỗ Thị Thọ hiệu Diệu Hiển chân nhân cúng 4 đầu tiền. Lê Văn Mai tự Phúc Xá.

Cựu Xã trưởng Nguyễn Tất Đắc, đạo hiệu là Huyền Thông tự Phúc Trực chân nhân và vợ là Lê Thị Nhân hiệu Diệu Thái chân nhân cúng 1 đầu 4 mạch tiền.

Cai xã kiêm Trùm trưởng là Đinh Hữu Thành tự Phúc Tín và vợ là Lê Thị Vô hiệu Diệu Minh chân nhân cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Viết Phú và vợ là Nguyễn Thị Trú chân nhân cúng 6 mạch tiền.

Trùm trưởng Lê Văn Tiến và vợ là Hoa Thị Bi cúng 6 mạch tiền. Đinh Hữu Phúc, Đinh Phúc Thành và vợ là Lê Thị Khiêng hiệu Diệu Phú chân nhân cúng 6 mạch tiền.

Cai xã Mai Kim Thịnh và vợ là Nguyễn Thị Mưu cúng 6 mạch tiền. Thiện sĩ Đinh Văn Phú, đạo hiệu là Huyền Đô tự Phúc Tiên chân nhân. Bà vãi Mai Thị Phương hiệu là Diệu Quảng chân nhân cúng 6 mạch tiền.

Nguyễn Thị Cẩm hiệu Diệu Dụng cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Thị Nga hiệu Diệu Vinh cúng 6 mạch tiền. Mai Thị Tại hiệu Diệu Ninh, Nguyễn Thị Liên cúng 6 mạch tiền.

Lệnh sử kiêm Trùm trưởng là Lê Phú Định, đạo hiệu Huyền Thành tự Phúc Vinh chân nhân và vợ là Đào Thị Hiến hiệu Diệu Chân chân nhân cúng 5 mạch tiền. Đỗ Thị Tài hiệu Diệu Nhân chân nhân cúng 1 quan tiền. Lê Văn Thể tự Phúc Trì chân nhân và vợ là Đỗ Thị Tam hiệu Diệu Tứ chân nhân cúng 1 đầu tiền.

Nguyên là Thiền tăng của xã ta xin hứa phụ trách các việc là Nguyễn Duy Hiền tự Đạo Ban Hiếu Thái chân nhân và vợ là Nguyễn Thị Đường hiệu Diệu Hào chân nhân cúng 1 đầu tiền.

Đặng Thị Thọ hiệu Diệu Trường chân nhân cúng 5 mạch tiền. Nguyễn Thị Song hiệu Diệu Quang chân nhân tiền ngũ mạch.

Đỗ Thị Quyền hiệu Diệu Thọ cúng 5 mạch tiền. Nguyễn Tất Man và vợ là Đinh Thị Vạn cúng 5 mạch tiền. Hoa Đăng Chiếm và vợ là Nguyễn Thị Điều cúng 5 mạch tiền.

Thủ dịch xã ta là Nguyễn Đức Dung tự Đạo Nguyên chân nhân cúng 5 mạch tiền. Cựu Tuần bổ kiêm Cai xã Tri cai tổng Trùm phủ sĩ là Lê Văn Thịnh tự Phúc Hưng chân nhân và vợ là Đào Thị Nghi hiệu Diệu Trà chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Cựu Xã chính kiêm Thủ dịch tổng là Lê Cao Đệ và vợ là Nguyễn Thị Khát hiệu Diệu Định chân nhân cúng 5 mạch tiền. Nguyễn Thị Thai hiệu Diệu Thành chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Xã chính kiêm Trùm trưởng là Nguyễn Như Ngọc và vợ là Hoa Thị Hiên, con gái là Hoa Thị Hiền cúng 5 mạch sử tiền.

Tín vãi Đinh Thị Hòe hiệu Diệu Yên chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Cựu Xã chính kiêm Cai xã là Thiền sư Lê Đăng Long tự Phúc Nam, đạo hiệu Huyền Huy và vợ là Mai Thị Khoa hiệu Diệu Nguyên cúng 6 mạch tiền.

Trùm bản giáp là Nguyễn Phú Vinh tự Phúc Hiển và vợ là Nguyễn Thị Chức cúng 7 mạch tiền.

Nguyễn Thị Mạn hiệu Diệu Cẩm cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Thị Nan hiệu Diệu Ngọc cúng 5 mạch tiền.

Trùm vãi xã Độc Khê là Đào Thị Lĩnh hiệu Diệu Lộc chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Trưởng lão vãi Nguyễn Thị Lãng hiệu Diệu Khánh chân nhân cúng 1 đầu tiền.

Nguyễn Thị Mậu hiệu Diệu Hoa chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Đinh Thị Bát hiệu Diệu Tường cúng 5 mạch tiền.

Trần Thị Tô hiệu Diệu Lan chân nhân cúng 2 mạch tiền.

Trịnh Thiên Thu tự Đức Nhuận chân nhân vợ là Đinh Thị Hưởng hiệu Diệu Dung chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Nguyễn Thị Viên hiệu Diệu Phương chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Nội cấp Lệnh sử Vị tài nam kiêm Cai xã là Vương Hữu Triều và vợ là Nguyễn Thị Tuần cúng 8 mạch tiền.

Cựu Xã trưởng kiêm Tổng chính Trùm phủ sĩ là Hoa Thế Thịnh tự Đức An chân nhân và vợ là Nguyễn Thị Dậu hiệu Diệu Huy chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Trùm xứ vãi xã Hoa Xá, huyện Kim Bảng là Phạm Thị Bích hiệu Diệu Thành chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Trần Hữu Pháp tự Pháp Văn người xã Canh Vân, huyện Yên (An) Lãng và vợ là Phan Thị Trinh cúng 1 đầu tiền.

Đàm Hữu Dư tự Phúc Khánh chân nhân, người xã Chẩn Chỉ, huyện Sơn Minh và vợ là Trần Thị Đố hiệu Diệu Hảo chân nhân cúng 1 đầu tiền.

Đàm Thị Tiển hiệu Diệu Minh chân nhân, người hương Bố Vệ, huyện Đông Sơn góp công tiền 3 mạch.

Ngày lành tháng 2 năm Đinh Mão (1687)

Trần Thế Danh tự Đạo Diễn chân nhân, người xã Hội Xá kính cẩn chép.

Trần Hữu Lễ tự Đạo Nhuận và vợ Phạm Thị Út góp công.

Mặt 3: (Mặt cạnh bia)

Cúng góp công đức:

Nguyễn Minh Phú người xã Đốc Tín, đạo hiệu là Đạo Cao tự Đức Trọng chân nhân và vợ là Nguyễn Thị Miễn hiệu Diệu Duyên chân nhân….

Chu Thị Chi người xã Đại Áng, huyện Thanh Trì, hiệu Diệu Tiến chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Chu Thị Ngọc hiệu Diệu Chân chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Nguyễn Thị Xướng người xã Tả Thanh Oai, hiệu Diệu Định chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Nguyễn Thị Túc người xã Thiệu Khê, huyện Đường An, hiệu Diệu Tâm cúng 5 mạch tiền. Hoàng Thị Nậu hiệu Diệu Hồng chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Nguyễn Thị Thu người xã Phụ Chính huyện Chương Đức hiệu Diệu Hoa chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Thiện nam Nguyễn Tiến Tịch người xã Độc Khê, đạo hiệu Huyền Nhân tự Đức Nghĩa chân nhân và vợ là Nguyễn Thị Công hiệu Diệu Cán, Nguyễn Thị Yên, Nguyễn Thị Dân…

Tiền Phù Nam vệ kiêm Trùm mộ đạo Nguyễn Hữu Phẩm tự Phúc Thăng chân nhân và vợ là Vũ Thị Hộ hiệu Diệu Thực chân nhân…

Đường… Chu Thị Vũ hiệu Diệu Mai chân nhân cúng 5 mạch tiền.

Mai Thị Tỏa hiệu Diệu Duyên chân nhân. Nguyễn Thị Lễ hiệu Diệu Nghĩa chân nhân có góp công…

2. BIA SỐ II

Đây là tấm bia được đặt cùng với bia số I trong chùa Hương Chản, bia được làm bằng đá xanh, chữ được khắc không sâu, lại do biến động thời gian, cùng với sự phong hóa của thiên nhiên và phần nào do sự hủy hoại của con người, nên tấm bia này có một số chữ bị mất, mờ, vì vậy nội dung chưa được khai thác đầy đủ. Bia được khắc từ tháng 11 năm Gia Long thứ 13 (1814) đời vua mở đầu triều Nguyễn, tính đến nay (2009) đã được 195 năm.

Về hiện trạng bia: Hiện nay tấm bia này cùng với bia số I đều được đặt dưới khu nhà sau của chùa Hương Chản thuộc thôn Hội Xá, xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Nội. Bia cao 83cm, ngang rộng 59cm, trán bia cao 14cm, bia dầy 13 cm. Bia gồm 2 mặt khắc chữ Hán có xen lẫn chữ Nôm (chủ yếu tên người và tên đất). Trán bia mặt 1 trang trí cách điệu Lưỡng long chầu mặt trời có các tia lửa, có 7 chữ đại tự Sùng tu công đức bi ký (Bài ký công đức kính trọng việc tu sửa), mặt 2 của bia cũng được trang trí Lưỡng long chầu mặt trời nhưng con rồng không được đẹp như mặt bia 1, và mặt trời được cách điệu giản đơn hơn, có 4 chữ đại tự Hậu Phật bi ký (Bài ký ghi trên bia Hậu Phật).

Chữ khắc trên bia không sâu, dễ đọc, mỗi mặt bia có 23 dòng chữ, mỗi dòng gồm trung bình 35 chữ Hán, tổng cộng toàn bộ hai mặt bia có ước khoảng 1600 chữ Hán và chữ Nôm.

Nội dung bia nêu lên việc công đức của thập phương trong việc tu sửa cảnh chùa cùng việc bầu Hậu Phật. Toàn bộ họ tên của những người góp công cùng tiền tài, vật chất đều được ghi rõ trong bia. Đặc biệt, trong số đó có vị Thiền sư tự Chiếu Trí chân không trụ trì tại đạo Kinh Bắc tập hợp thập phương tiền tài, vật dụng bắt đầu từ năm Ất Sửu đến năm Giáp Tuất được hơn 100 quan tiền.

Bản dịch:

Mặt 1

BÀI KÝ CÔNG ĐỨC KÍNH TRỌNG VIỆC TU SỬA

Mảng nghe, bia là để ghi, thuật lại sự việc mà chép lại, nhằm hiển dương quả phúc. Nay khắc bài minh để ghi tên những người tích thiện vào bia cho đời sau có thể biết được. Đại danh lam Hương Chản, địa danh tiêu biểu cho cảnh trí trời Nam, chiếm riêng nơi đầu rồng khí đẹp, hương sắc lạ thường… mở mang trước mắt thế sư tử, nhà hoa trùng điệp, núi xanh bao bọc, đủ để rộng mở cung đỏ, tráng lệ huy hoàng, chẳng may gặp phải khi thời thế tao loạn, lại thêm người đời thay đổi, khiến cho cảnh sắc tan hoang, ngũ môn quạnh quẽ, cửa Thiền chẳng có ánh sáng sao Ngưu sao Đẩu chiếu dọi, tổ o­ng giăng mắc mà bụi trần bám nơi tường cao nhà phương trượng. Cảnh tượng đài sư tử ủy mỵ ủ ê đã qua rồi thời thăng bình rực rỡ. Thời nay, may được người trong làng xuất ra tài vật tư gia, hết lòng tận sức, phấn đấu vô cùng, công việc hoàn thành, mở tiệc mừng công… Tiếng thơm truyền bá lâu dài, công đức lưu danh mãi mãi cùng sông núi.

Tiểu dân ngắm nhìn, cảm xúc với đương thời, hiểu được công lao muôn thuở. Toàn bộ họ tên những người hưng công trong Hội chủ với công đức theo duyên tại các nơi được cụ thể chép như sau:

Đại hưng công xuất gia Pháp phái viên giác Tỳ khưu là vị Thiền sư tự Chiếu Trí chân không trụ trì tại đạo Kinh Bắc tập hợp thập phương tiền tài, vật dụng bắt đầu từ năm Ất Sửu đến năm Giáp Tuất được hơn 100 quan tiền. Quan viên hương biểu là Nguyễn Thế Vĩnh và vợ là Lương Thị Mãn cúng 2 đầu tiền. Giám sinh đồ Nguyễn Bá Kim và vợ là Vũ Thị Tản cúng 6 quan tiền. Cựu Xã trưởng Nguyễn Viết Du và vợ là Trịnh Thị Bàng cúng 3 mạch tiền. Cựu Xã trưởng Lê Huy Cận và vợ là Đinh Thị Vinh cúng 1 quan tiền. Cựu Tổng trưởng kiêm Xã chính Nguyễn Danh Kỳ và vợ là Đỗ Thị Liễn cúng 6 quan tiền. Cựu Xã trưởng xã Tiện Nghi là Nguyễn Hữu Khánh và vợ là Trần Thị Đá, thiếp là Trần Thị Nữ cúng 5 quan tiền. Cựu Xã trưởng Đỗ Bá Châu và vợ là Nguyễn Thị Chẩm cúng 3 quan tiền.

Nhiêu ấm Lê Cao Thắng và vợ là Trần Thị Chiếm cúng 3 quan tiền. Nguyễn Đắc Thịnh cúng 3 mạch tiền. Cựu Xã trưởng Nguyễn Đức Hiển và vợ là Nguyễn Thị Cừu cúng 2 quan tiền. Cựu Phù Nam vệ Phó cai đội là Lưu Đắc Chí và vợ là Nguyễn Thị Đức cúng 1 quan tiền. Cựu Xã trưởng Nguyễn Danh Thiện cúng 1 quan tiền. Cựu Xã trưởng Lê Huy Vĩ và vợ là Nguyễn Thị Nghị cúng 1 quan tiền.

Nhiêu ấm Nguyễn Hữu Lộc và vợ là Lê Thị Mệnh cúng 1 quan tiền. Nhiêu ấm Nguyễn Bá Kính và vợ là Nguyễn Thị Bản…

Nhiêu ấm Nguyễn Danh Bá và vợ là Nguyễn Thị Khuông cúng 1 quan tiền. Cựu Xã trưởng Lê Huy Trâm và vợ là Nguyễn Thị Diệu cúng 1 quan tiền. Nguyễn Như Tuấn và vợ là Nguyễn Thị Điện cúng 1 quan tiền.

Nguyễn Đình Lực và vợ là Lê Thị Thành cúng 1 quan tiền. Nguyễn Đình Hòa và vợ là Nguyễn Thị Miễn cúng 6 mạch tiền. Trần Đình Cống cúng 6 mạch tiền.

Nguyễn Đình Lý và vợ là Nguyễn Thị Phó cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Ký Ấm, Nguyễn Đình và vợ là Nguyễn Thị Côn cúng 6 mạch tiền. Xã trưởng Nguyễn Viết Vị và vợ là Đỗ Thị Luân cúng 6 mạch tiền. Xã trưởng Lê Huy Ích và vợ là Đỗ Thị Phúc cúng 6 mạch tiền. Nhiêu ấm Nguyễn Hữu Tài và vợ là Đinh Thị Nhụ cúng 3 mạch tiền. Nguyễn Đình Nghi và vợ là Lê Thị Tán cúng 6 mạch tiền.

Nhiêu ấm…và vợ là Nguyễn Thị Phạm cúng 5 mạch tiền. Nhiêu ấm Trần Danh Lượng và vợ là Lê Thị Điệp cúng 3 mạch tiền. Lê Cao Chí và vợ là Nguyễn Thị Vân cúng 3 mạch tiền. Cựu Thủ hộ Nguyễn Bá Giám và vợ là Lê Thị Bái cúng 3 mạch tiền.

Cựu Lãnh binh Nguyễn Bá Long và vợ là Nguyễn Thị Tuyến cúng 6 mạch tiền. Cựu Xã trưởng Nguyễn Xuân Từ cúng 1 quan tiền. Nguyễn Xuân Dương tự Phúc Thái và vợ là Nguyễn Thị Kỳ cúng 6 mạch tiền.

Nguyễn Duy Kỳ và vợ là Lê Thị Nhung cúng 3 mạch tiền. Cựu Xã trưởng Nguyễn Danh Từ và vợ là Trịnh Thị Hô cúng 6 mạch tiền. Nhiêu ấm Nguyễn Đình Cầu và vợ là Nguyễn Thị Nghi cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Viết Nhân và vợ là Nguyễn Thị Phổ cúng 3 mạch tiền. Lê Đăng Thành và vợ là Nguyễn Thị Hàm cúng 3 mạch tiền. Nguyễn Đình Phong và vợ là Bùi Thị Hậu cúng 3 mạch tiền.

Lê Văn Câu và vợ là Nguyễn Thị Dậu cúng 3 mạch tiền. Lê Văn Toàn cúng 5 mạch tiền. Cựu Lãnh binh Lê Đăng Kỳ và vợ là Nguyễn Thị Xứng cúng 3 mạch tiền. Bùi Văn Cương và vợ là Nguyễn Thị Nha, thân mẫu là Lê Thị Điện cúng 3 mạch tiền. Lê Đăng Xuân cúng 3 mạch tiền.

Nguyễn Danh Dương và vợ là Lưu Thị Đương cúng 3 mạch tiền. Lê Văn Giám và vợ là Nguyễn Thị Tăng cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Đức Phái và vợ là Nguyễn Thị Mễ cúng 3 mạch tiền. Nhất ưu bà di Nguyễn Thị Thọ hiệu Diệu Cần cúng 1 đầu tiền. Nguyễn Thị Số hiệu Diệu Lẫm cúng 1 đầu tiền. Vũ Thị Loan hiệu Diệu Phượng cúng 2 đầu tiền.

Nguyễn thị… hiệu Diệu Tính cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Thị Tín hiệu Diệu Thành cúng 3 mạch tiền. Nguyễn Thị Đội hiệu Diệu Sinh cúng 6 mạch tiền.

Vợ của Đội trưởng Liên người xã Quan An, huyện Thị Nguyên, xứ Thanh Hoa tên là Lê Thị Độ cúng 6 mạch tiền. Nguyễn Vũ Kim người xã An Lạc, châu Bảo Lạc cúng 6 mạch tiền.

Tín vãi Trần Thị Tư hiệu Diệu Đức, Nguyễn Thị Diên hiệu Diệu Khánh, Dương Thị Phúc hiệu Diệu Trạch, Trần Thị Lợi hiệu Diệu Thành, Nguyễn Thị Liêm hiệu Diệu Tân, Vương Thị Điển, Đỗ Đăng Đoàn và vợ là Nguyễn Thị Nga, Nguyễn Thị Thực hiệu Diệu Đình, Nguyễn Thị Tiến hiệu Diệu Lộc. Bà thiếp của Cai đội trí sĩ người xã Đông Hải, huyện Chân Lộc, phủ Đức Quang tên là Nguyễn Thị Yết cúng 1 đầu tiền.

Cựu Hương trưởng Trịnh Thời Bá và vợ là Nguyễn Thị Dung, thiếp là Nguyễn Thị Nga cúng 1 đầu tiền. Cựu Xã trưởng Trịnh Hữu Học và vợ là Nguyễn Thị Triệu cúng 6 mạch tiền.

Mặt 2:

BÀI KÝ GHI TRÊN BIA HẬU PHẬT

Mảng nghe, khi Phật xuất thế khai mở pháp vạn tứ thiên. Trời phá đất rộng khiến người đời hôn ám, cũng làm cho họ ngộ được vào cửa phương tiện.

Văn bia nhằm ghi chép điều thiện, người làm việc thiện to lớn hơn lòng hiếu. Mà lòng hiếu tức là thờ chư Phật mà báo đáp cho song thân. Mà Phật đạo tôn thờ tứ vương, song thân bao năm nuôi dưỡng, công ân vô cùng, khó mà đong được. Cửu huyền thất tổ… thập lục đạo tứ chủ suy xét thời thế, đời sau hưởng thụ quả phúc xưa, chẳng bằng ra sức quy y, tránh được biển khổ trầm luân. Ngày nay may được chính giáo nhập vào chốn cửa Thiền, từ Phật bệ khai thông. Đất tịnh thổ do người nhân sung kính tu sửa chùa Phật, công đức tràn trề, liên quan đến tín đồ hưng công xuất tiền của tạo quả phúc. Việc đã hoàn thành, lại tạo lập một tấm bia ghi, dùng một sào ruộng tam bảo cấp cho, ký gửi song thân cùng sự tồn vong đều được chép vào bia để trăm năm sau cũng mời tiền nhân vào ngày 17 tháng 11 hàng năm là ngày tiến cúng chúc mừng Di Đà, âm dương cùng có lợi. Giá gạo ngon mỗi sào 3 quan, trích ra tiền thập văn tiến dâng lễ cúng Phật chùa ta, còn lại sắm sanh đầy đủ hoa quả, trầu không, rượu… giá tiền là 1 mạch tồn giả thập nhất cụ quả phù lưu tửu đẳng giá vi nhất mạch cúng Phật.

Lễ Phật chứng quả, ban ban la liệt, lòng người không thể, Nhiều sinh một chốn, hiển hách trong làng, muôn đời truyền mãi.

Nam vô tuệ quang tháp viên giác Tỳ khưu tự Chiếu Trí chân không thiền sư dâng tài của làm thiện sự.

Tín đồ đạo Phật là Nguyễn quý công tự Hiếu Thọ hiệu Tế Lộc, Nguyễn Doãn Tuyên hiệu Tráng Vệ và vợ là Đinh Thị Tứ hiệu Từ Đức cúng một sào rưỡi ruộng tại xứ Hoa Châm..

Phật hậu, Trần Thị Đá gửi giỗ tổ tiên hiển khảo Nguyễn quý công tự…Ưu bà Nguyễn Trụ Dung hiệu Diệu Cần cúng 4 sào ruộng tại xứ Tăng Lão, Nguyễn Thị Thiều, Nguyễn Thị Phi. Phật hậu, Lê Cao Pháp và vợ là Nguyễn Thị Niêm, tổ tiên Lê quý công tự Cao Khiết bà Nguyễn Thị Âm hiệu Diệu Thanh, ngoại tổ Trần quý công tự Hữu Xứng bà, tổng cộng cả hai hàng cúng 4 sào ruộng.

Phật hậu, Nguyễn Thị Thịnh dâng cho hiển khảo Nguyễn nhất lang tự Tiến Thành bà Nguyễn Lương Phương cúng 2 sào tại xứ Thủ Ni.

Phật hậu, Lê Cao Tuy, Tổ tiên Lê quý công tự Cao Doãn, bà Phạm Thị Hạnh hiệu Diệu Thắng, Lê quý công tự Cao Tán, Nguyễn Nhất Hạnh hiệu Từ Sĩ, Nguyễn Thị Cố hiệu Diệu Nguyên cúng 1 sào ruộng tại xứ Khao Nậu.

Phật hậu, Vũ Thị Loan hiệu Diệu Phượng dâng cho Lê Liên Phương hiệu Nhã Hạnh, Lê quý công tự Đạo Trú, bà Mai Thị Hạnh hiệu Từ Hạnh, ngoại tổ Vũ quý công tự Nam Phóng, bà Lê Thị Quý hiệu Diệu Phi, Mai Trọng Tướng, Lê quý công tự Đức Duệ, Vũ Văn Mãn cúng 3 sào đầm Hương Bảo.

Phật hậu, Nguyễn thị hàng nhất hiệu Diệu Khiết cúng 2 sào ruộng tại xứ Lan Đồng. Phật hậu, Lê Thị Đội hiệu Diệu Hưng, Trần Hạnh Ngũ hiệu Diệu Liên cúng 2 sào năm khẩu ruộng tại xứ Đồng Sau thượng.

Phật hậu, Nguyễn Thị Đích hiệu Diệu Niệm cúng 1 sào, Lý Thị Đà cúng 1 sào ruộng tại xứ Tiền Môn. Đình Bảng xã thị giả công phu tự Pháp Thiền.

Đàm Xuân Kiểm người xã Phúc Lâm, huyện Thượng Phúc và vợ là Lê Thị Tam, mẫu thân Lưu Thị Quất hiệu Diệu Luật cúng 1 đầu tiền. Bùi Thị Mãn hiệu Diệu Đường cúng 1 đầu tiền. Trịnh Thị Dân người xã Đục Khê hiệu Diệu Dụ cúng 6 mạch tiền.

Ngày lành tháng 11 năm Gia Long thứ 13 (1814) dựng lập bia./.

(Thông báo Hán Nôm học 2009, tr.832-646)

Nguyễn Hữu Tâm - Nguyễn Quang Trung
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm