99. Hai tấm bia của Vua Lê ở núi Chiếu Bạch (Thanh Hóa) (TBHN 2008)
HAI TẤM BIA CỦA VUA LÊ
Ở NÚI CHIẾU BẠCH (Thanh Hóa)
ĐINH CÔNG VĨ
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Núi Chiếu Bạch xưa thuộc huyện Hoàng Hóa, nay thuộc xã Hà Lâm, huyện Hà Trung (xưa nay đều ở tỉnh Thanh Hóa). Núi này có hai tấm bia ngự chế (của vua) ở lưng núi, ẩn trong lùm cây rậm rạp. Chân núi xưa kia là dòng sông lượn quanh, thuyền vua có thể cập bến vãn cảnh đề thơ. Ngày nay, đất đã bồi lấp hết thành làng mạc. Chúng tôi phải vạch lá, bẻ gai trèo lên mới làm được thác bản văn bia.
Người ta từng nói: Khôn văn tế dại văn bia. Văn đã ghi trên bia phải chính xác, nếu không sẽ để tiếng muôn đời. Vậy chúng ta có thể dựa vào văn bản bia để bổ sung cho văn bản bằng giấy, khi văn bản giấy có những phần chưa rõ. Sách Châu cơ thắng thưởng (mà nhà Hán Nôm học Mai Xuân Hải đã phiên dịch) có người cho là của vua Lê Thánh Tông. Song cả Toàn thư lẫn Đại Việt thông sử, Lịch triều hiến chương loại chí đều không nhắc tới, chưa khẳng định là của vua Thánh. Hẳn là có vấn đề. Tìm trong Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi chỉ thấy trong cuốn Minh Lương cẩm tú thi tập ký hiệu A.254, sau phần Minh Lương cẩm tú thi tập (từ tờ 1a đến 21a) thì tới tập Châu cơ thắng thưởng thi tập (từ tờ 21b đến tờ 31a). Phần này gồm có 22 bài thơ. Nhưng ở 22 bài, bên cạnh những bài ca tụng cảnh đẹp cảnh đẹp đất nước đúng với cái nhan đề của tập thơ là “Châu cơ thắng thưởng”, tức là những vần thơ đẹp như ngọc lãm khi thưởng lãm nơi danh thắng. Song lại có những bài không dính dáng với nội dung “thắng thưởng”. Có nhiều bài là của con cả vua Thánh Tông, tức vua Lê Hiến Tông. Bài Chiếu Bạch Sơn thi tính tự, Châu cơ thắng thưởng ghi làm vào năm Hồng Đức thứ 2 đời Lê Thánh Tông thì ở văn bia, phần Tựa ghi rõ là vào đời vua Lê Tương Dực Hồng Thuận thứ 6. Có những chữ khác nhau như: Ở văn bia ghi: “thủy lục thảo sinh xuân” thì ở Châu cơ thắng thưởng in là: “thủy lục thủy sinh vân”. Trong bài thơ cũng có những chữ sai khác như: Ở văn bia ghi: “Hoãn bộ thang dương thi tứ nhã” thì ở Châu cơ thắng thưởng in “Hoãn bộ lưu tường thi tứ nhã”.
Ở văn bia ghi: “Đỗng trung dung đắc xuân quan tại” thì ở Châu cơ thắng thưởng ghi: “Động trung hữu thú xuân quang tại”. Ở câu cuối văn bia ghi: “Tráng quán” thì Châu cơ thắng thưởng ghi: “Tráng thị”. Văn bia chính xác dễ tin hơn. Từ trước mới có người dịch từ sách, chưa ai trực tiếp dịch từ bia. Do vậy, sau khi làm thác bản 2 tấm bia, chúng tôi phiên âm, dịch nghĩa, dịch thơ để góp phần bổ sung cho những sách vở lưu hành từ trước tới nay có những phần cần xác định lại.
1. 御製題照白山- Ngự chế đề Chiếu Bạch sơn (Vua tự thân đề chữ trên núi Chiếu Bạch).
Bia 1 mặt, kích thước: 0,72x1,23m. Chữ trên bia to, chân nên dù có một vài chỗ rạn, sứt hay mờ vẫn dễ đọc. Bia hình chữ nhật, chiều cao hẹp hơn chiều ngang, diềm bia có hoa văn dây leo.
Phiên âm: Ngự chế đề Chiếu Bạch sơn
Quân vương vạn lý dục hương qui
Giang mỹ duy chu thướng thúy vi
Phong định vân nhàn hoa dục ngữ
Triều bình thiên khoát yến giao phi
Tùng tương luật lữ ngu sơn tướng
Thủy triết chi huyền hộ điếu ky.
Báo đạo nhạc linh đôn tường bảo
Hảo vi lâm vũ biến ân vi
Thượng Dương động chủ đề
Đại Việt Cảnh Thống tứ niên Tân Dậu yết lăng, sự tất thanh minh nhật thư.
Trung thư sảnh chính tự (thần) Ngô Ninh phụng tả.
Dịch nghĩa: Bài thơ vua tự thân đề chữ trên núi Chiếu Bạch
Quân vương từ muôn dặm muốn về quê hương
Lướt theo dòng sông, con thuyền ràng buộc trên màu xanh biếc huyền vi.
Gió định mây nhàn hoa muốn nói
Nước triều lặng lờ, trời như rộng ra, chim én giao nhau bay lượn.
Cây tùng vang lên theo điệu lã, núi vui vẻ với nhau
Dòng nước uốn mình cùng vẻ huyền, lưỡi câu đá giữ gìn.
Báo đáp con đường núi thiêng, đôn đốc cái cột buồm quí báu.
Cũng tốt vì mưa móc khắp vùng dầy đặc bao quanh.
Dịch thơ: Núi Chiếu Bạch vua tự thân đề
Quân vương muôn dặm muốn về hương
Thuyền lướt sông trên biếc thẳm đường.
Gió định, mây nhàn, hoa muốn nói,
Nước bằng, trời rộng, én tung tăng.
Tùng vang luật lã(1), non vui vẻ
Nước uốn vẻ huyền móc đá giương
Báo núi đường thiêng cột lài quí
Tốt vì mưa thấm khắp đầy phương.
Thương Dương Động Chủ đề thơ
Nước Đại Việt năm Tân Dậu niên hiệu Cảnh Thống (Lê Hiến Tông) thứ 4 (1501) yết lăng, công việc hoàn tất, ngày thanh minh viết xong. Trung thư sảnh chính tự thần là Ngô Ninh vâng lệnh tả lại.
2. 照白山詩并序(Chiếu Bạch sơn thi tính tự: Bài thơ về núi Chiếu Bạch gồm cả bài tựa). Bia 1 mặt kích thước: 1,22x0,90m. Chữ trên bia đều chân, rõ ràng. Chữ ở bài thơ to hơn chữ ở phần tựa. Ở dưới chân bia về góc bên trái bị sứt mẻ và mờ. Đó có thể là vì bị đục đẽo hay do dâu bể thời gian nên mờ, mất vài chữ. Trán bia không có hoa văn, diềm bia hoa văn đều mờ cả.
Phiên âm: Chiếu Bạch sơn thi tính tự
Hồng Thuận lục niên xuân trọng nhị nguyệt thất nhật hiểu phát tự Phi Lai tài kinh Chiếu Bạch đãn kiến thanh sơn chiếu thủy lục thảo sinh xuân mỹ cảnh thanh kỳ thi tình khoái lạc, nãi thân lãm hạnh nhã hứng bồi hồi trợ thắng châu cơ chi địa đạo tâm tú lệ cung trang la khi chi thiên kim tượng huy hoàng, ngọc hồ liễu tuyến mỹ nhi tối mỹ kỳ nhi dũ kỳ nhân kỳ ngâm vịnh chi gian yến du chi tế nãi đề thi vu thạch vân:
Hạo đãng triều đầu thủy tiếp thiên
Nguy nga lão thạch trám thanh xuyên
Y hy cổ thụ dung trang thượng
Mạn lạn tiên hoa sắc chuế tiền
Hoãn bộ thảng dương thi tứ nhã
Thanh ngâm khoái lạc đạo tâm huyền
Đỗng trung dung đắc xuân quang tại
Tráng quán hùng tư vĩnh viễn niên.
Xuân quang đài trì thanh tình thiên cô thạch tán? ngoan? phao cự xuyên quỳnh viên vi mang khoan... ngọc hồ yểu điệu nhân ngâm tiền sơn xá la khi thi hoài duyệt động cách trần ai...
Thế sự tiên dao vô hạn hứng tuyền phương tẩy nhĩ bất tri niên.
Bảo Thiên Động chủ đề
Hồng Thuận lục niên nhị nguyệt sơ cửu nhật.
Dịch nghĩa: Bài thơ về núi Thiếu Bạch gồm cả bài tựa
Ngày 7 tháng 2 giữa mùa xuân năm Hồng Thuận thứ 6 (1514 - đời Lê Tương Dực) vào buổi sớm từ Phi Lai rồi qua Chiếu Bạch chỉ thấy núi xanh soi dòng nước, cỏ xanh tươi làm sống dậy vẻ đẹp mùa xuân. Cảnh trong suốt lạ kỳ, tình thơ khoái lạc, bèn thoải mái đi tới khoan thai, nhã nhặn, hứng thú bồi hồi, mong giúp cho vùng đất như ngọc châu, có tâm đạo tươi đẹp được xếp bầy trang sức như hoa gấm lụa là trời cho. Tượng vàng rực rỡ, bầu ngọc bao quanh đẹp đẽ lại càng đẹp đến tận cùng, lạ kỳ lại càng lạ thêm nữa. Nhân đó nhàn du ngâm vịnh, đề thơ vào đá rằng:
Bát ngát đầu ngọn triều nước liền trời
Nguy nga núi đá già dặn thấm lòng sông xanh
Than ôi! Cây cổ thụ bao chứa sự trang sức bề trên
Buông thả, sáng tươi, hoa sắc liền nhau vươn lên phía trước.
Thong thả bước, đùa rỡn, thơ tứ nảy ra nhã nhặn
Trong suốt lời ngâm khoái vui trên đường với tấm lòng sâu kín.
Trong động còn chan chứa ánh xuân
Dáng dấp hùng của quán các còn vĩnh viễn với năm tháng.
Dịch thơ: Đầu triều bát ngát nước trời liền
Đá cổ nguy nga biếc thấm xuyên
Ôi hỡi cây già trên điểm xuyết
Sáng bừng hoa thắm trước vươn lên.
Rỡn đùa bước nhẹ thơ từ nhã,
Khoái lạc ngâm trong lối lòng huyền
Trong động ánh xuân chan chứa nữa
Dáng hùng quán các mãi thời gian.
Dong duổi trong ánh mùa xuân thanh tĩnh.
Trời cô quạnh, đá cứng cỏi ném xuống dòng sông lớn
Vườn Quỳnh mênh mông huyền diệu, khoan thai trong bầu ngọc, người thướt tha, ngâm ngợi. Nhà ở trước núi, lụa the quấn quýt. Tình thơ hoài vọng, vui vẻ trong động, cách cả bụi trần. Sự đời tiêu dao vô cùng, hứng thú nơi suối rừng thơm sạch, có thể rửa tai, không biết tới năm tháng.
Bảo Thiên Động chủ đề thơ
Ngày 9 tháng 2 năm Hồng Thuận thứ 6 (1514).
Chú thích:
1.“Lữ” hay “Lã”: cái đồ ngày xưa để thẩm xét thanh âm, cái dương gọi là luật, cái âm gọi là “lã”./.
Thông báo Hán Nôm học 2008; tr.1114-1119