Thời kỳ Thuộc địa - Thực dân đã qua từ lâu, nhưng nhiều nghiên cứu của
các học giả Pháp - Việt thời đó vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu đời
sống xã hội và tôn giáo Việt Nam. Trong đó, Paul Giran, một viên tham biện phụ
trách công việc hành chính dân sự thuộc địa với cuốn sách Phù thuật và tín
ngưỡng An Nam là một công trình như thế.

Paul Giran sinh ngày 2 tháng 12 năm 1875 ở Nimes. Ông học Trường Thuộc địa
(Ecole Coloniale) ở Pháp, rồi làm việc cho Phủ Toàn quyền ở Đông Dương năm
1899. Đến năm 1901 ông giữ chức Tham biện (Administrateur des services civils),
phụ trách công việc hành chính dân sự ở Phủ Toàn quyền. Từ năm 1907, ông được bổ
nhiệm làm Phó Công sứ một số nơi ở Bắc kỳ, trong đó có Kiến An. Năm 1913, ông
được thăng chức Công sứ (Résident) Phan Rang. Cuối cùng, ông được bổ nhiệm làm
Uỷ viên chính phủ (Commissaire du gouvernement) ở Viêng Chăn (Lào) và giữ chức
này tới năm 1921. Các tác phẩm của ông có Tâm lý người An Nam (Psychologie
du peuple annamite) vào năm 1904 và năm 1912 với Phù thuật và tín ngưỡng An
Nam (Magie et religion annamites).

Cuốn sách Phù thuật và tín ngưỡng An Nam không chỉ là một tác phẩm
thuần chất nghiên cứu tôn giáo mà còn là một dẫn nhập về triết lý văn minh của
người An Nam. Mục đích chính tìm hiểu về tâm hồn người An Nam, những cảm nghĩ đặc
thù góp phần định hình nên các thiết chế xã hội lâu đời và bền chặt, bắt nguồn
từ những đơn vị nhỏ như gia đình, dòng họ, làng xã. Các mối quan hệ này đã được
Paul Giran một quan chức trong chính quyền thuộc địa cụ thể hoá qua một chủ đề
quan trọng khi nghiên cứu một nền văn minh bản địa: tín ngưỡng - tôn giáo.
Đối với ông, người An Nam không khác gì một bộ tộc lạc hậu, cần khai
hoá. Ông đã viết trên tinh thần phân biệt chủng tộc da trắng thượng đẳng rõ
ràng, một học thuyết được nguỵ trang bằng khoa học ở phương Tây đầu thế kỷ XX.
Tuy nhiên, sự kỹ càng của cách thức tiếp cận và nghiên cứu khiến cuốn sách của
ông có giá trị phân tích và tư liệu về đời sống tín ngưỡng của người Việt Nam.
Mặt khác, ông chịu ảnh hưởng của Lépold Cadière (1869-1955), một linh mục am hiểu
sâu sắc ngôn ngữ và phong tục phương Đông, nên phương pháp tiếp cận đời sống
tâm linh người Việt Nam cũng rất khoa học và có sự thấu hiểu nhân văn. Bản thân
đức cha Cadière là người truyền giáo, ông không phê phán những tín ngưỡng khác
mà cố gắng tìm hiểu ngọn nguồn tâm linh người Việt cho mục đích của mình. Sự
ghi chép của Cadière tỉ mỉ, kỹ lưỡng, nhìn vấn đề bao quát, rộng lượng để thấy
tính phức hợp của tâm linh người Việt, dù nhiều hình thức và biểu tượng của tín
ngưỡng tâm linh đó chịu ảnh hưởng của Trung Hoa. Vì vậy, Paul Giran mơ hồ với
câu hỏi: văn minh Việt Nam là bản sao mờ nhạt của văn minh Trung Hoa hay là cái
gì đó rất độc lập, như chính tinh thần của người Việt Nam khi đối đầu với văn
minh phương Tây. Paul Giran muốn lý giải, tìm hiểu các pháp thuật có liên quan
chặt chẽ với tín ngưỡng. Bởi vì, pháp thuật là cái biểu hiện, biểu tượng hình
thức, lý giải được nó thì hiểu được bản chất tôn giáo. Do đó, Paul Giran đã
hình thành công trình với ba vấn đề lớn: những khái niệm siêu hình đầu tiên của
người An Nam và nguồn gốc của chúng, Pháp thuật và Tôn giáo.
Ông lần lượt phân tích các khái niệm linh, hồn, vía, phách, ma, quỷ, mị,
vong, trời, đất, thần, thánh, địa ngục, niết bàn, kiếp trước, kiếp sau, trấn, yểm,
bùa chú, nhập và gọi hồn... trong quan niệm vạn vật hữu linh của người Việt, dẫn
đến sinh hoạt tâm linh liên tục trong đời sống hàng ngày, từ khi bước chân ra cửa
cho đến lúc đi ngủ và kể cả nằm mơ cũng sẽ được lý giải tâm linh. Pháp thuật và
thuật yểm bùa là phần quan trọng của đời sống tâm linh, nó sẽ giải quyết những
tai nạn chưa đến và có thể sẽ đến. Ông có xu hướng tìm những ảnh hưởng Trung
Hoa qua Việt Nam. Ông xuất phát từ cái nhìn thực chứng đã làm nên giá trị của
nghiên cứu tâm linh Việt Nam này. Từ những lần quan sát, ghi chép trong các buổi
hành lễ và hiện tượng sinh hoạt hàng ngày có liên quan đến tâm linh, rồi đúc kết
lại. Cho nên ví dụ của ông luôn bắt đầu từ những con người ở một làng cụ thể,
thời gian cụ thể và tham khảo thêm những nhà nghiên cứu khác ông mới kết luận.
Cuối cùng, vấn đề tôn giáo là sự tổng kết xuất sắc những hình thức tôn giáo cơ
bản ở Việt Nam, trong đó ông đặc biệt chú trọng đến tín ngưỡng bản địa: tín ngưỡng
Tam phủ, tục thờ cúng tổ tiên, tục thờ vĩ nhân, anh hùng và Thành hoàng làng.
Vì vậy, cuốn sách này một công trình khoa học đặc biệt có ý nghĩa đối với
việc nghiên cứu văn hoá, tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam. Giúp người
đọc và nhà nghiên cứu hình dung rõ ràng hơn về một đời sống tâm thức Việt Nam
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.