11. Những di sản Hán Nôm ở làng Chương Dương, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (TBHNH 2001)
NHỮNG DI SẢN HÁN NÔM Ở LÀNG CHƯƠNG DƯƠNG, HUYỆN THƯỜNG TÍN, TỈNH HÀ TÂY
Bảo tàng Tổng hợp Hà Tây
Năm 2001, đoàn khảo sát Bảo tàng tổng hợp Hà Tây trong quá trình nghiên cứu, lập hồ sơ xếp hạng di sản LSVH ngôi đình làng Chương Dương đã phát hiện nhiều di sản Hán Nôm còn được lưu giữ ở khu vực đình làng Chương Dương. Những di sản Hán Nôm này đã được tiến sĩ Cung Khắc Lược phiên âm dịch thuật, chú giải và sẽ in trong một cuốn sách xuất bản vào năm 2002. Di sản Hán Nôm thuộc làng Chương Dương hiện được lưu giữ ở khu vực di tích ngôi đình xưa, thường gọi là ngôi đền, theo trình tự như sau:
I. Di sản Hán Nôm ghi khắc trong 6 bia đá khu vực sân đình
1. Bia Văn Võ Lão tam hợp tự bi ký
Niên đại: Bảo Đại Kỷ Mão thu (1939)
Người viết: Đinh Hữu Ích ấm sinh huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định phụng soạn.
Nội dung: Bia cho biết từ thời Lê Chính Hoà (1680 - 1705) đến niên hiệu Cảnh Hưng (1740 - 1786) ở Chương Dương đã có Văn từ và Võ chỉ. Đầu thời Tự Đức (1848) mới thành lập Hội Lão. Đến mùa thu năm 1939 ba hội bàn nhau hợp tự, tạo lập việc hợp thờ của ba hội Văn Võ Lão để "Cùng truy niệm công đức của người xưa, cùng phấn chấn ra sức mở mang quy củ trước đã gây dựng, làm cho quang cảnh sáng tươi rực rỡ hẳn lên, người người chiêm ngưỡng dấy lòng kính trọng".
2. Bia Đại khoa liệt vị
Niên hiệu: không
Người viết: không
Nội dung: Bia ghi danh 2 vị đỗ đại khoa là Lương Mậu Huân đỗ tiến sĩ (không ghi đỗ khoa nào, triều vua nào) và Đào Duy Doãn đỗ tiến sĩ (nt).
Phần dưới bia ghi danh 16 vị đỗ trung khoa từ cử nhân đến giám sinh, cũng không rõ triều vua nào, khoa nào. Trong số 16 vị đỗ trung khoa có 4 vị họ Đào, 2 vị họ Đỗ, 3 vị họ Nguyễn, 1 vị họ Doãn, 1 vị họ Trần, 3 vị họ Lê.
3. Bia Văn học tác hưng (ghi ở mặt sau bia Đại khoa liệt vị)
Niên đại: Chính Hoà 25 (1704)
Người viết: Đỗ Quang Tế, Sĩ vọng khoa Quý Sửu, làm quan Thị nội, Thừa chính sứ ty Hải Dương soạn văn bia.
Nội dung: Bia nêu việc khôi phục lại nền văn học trong làng xã Chương Dương, cổ vũ ý chí học tập vươn lên của con em trong xã bằng một bài minh 14 câu văn vần loại 4 chữ theo kiểu đồng dao.
Theo niên đại ghi ở văn bia, thì bản văn này có trước Đại khoa liệt vị vì bản văn đã được ghi khắc từ 1704, đầu thế kỷ XVIII, trước năm sinh tiến sĩ Đào Duy Doãn là 22 năm. Có lẽ lời cổ vũ của tấm bia đã có khích lệ rõ rệt đối với việc học hành thi cử của làng xã Chương Dương hồi đó.
4. Bia Chương Dương vũ từ ký
Niên đại: Tự Đức Canh Ngọ thu (1869)
Người viết: Đỗ Hạ Xuyên, đỗ tú tài làm Thừa biện
Nội dung: Bia ghi đền Võ Chương Dương, lưu lại cho các đời về binh nghiệp từ thời Lê, lại ghi chép trên sách để tỏ lòng kính trọng người xưa.
Bia nêu 2 vị tiến sĩ Lương Mậu Huân và Đào Duy Doãn ngoài văn chương còn có võ nghiệp, Phụ quốc công thần Nguyễn tướng công, hiệu Ông Cả, từng là Đại đô mãnh tướng quân, đỗ Sĩ vọng khoa Quý Sửu Đỗ Quang Tế, cử nhân Đỗ Vũ Đình, ông họ Nguyễn, nho sinh Đào Công, Quan ty sở Đỗ Ôn Văn, Tri huyện Đông An Nguyễn tiên sinh, Tri phủ Nguyễn Minh Đạt, Huấn đạo phủ Phụng Thiên Đào công. Đây là 11 vị đã từng có võ nghiệp ở làng Chương Dương được ghi trên bia để tôn vinh việc võ.
5. Bia Văn kỳ tại tư
Niên đại: Năm Quý Mùi, niên hiệu Minh Mệnh 4 (1823)
Người viết: Bài văn bia do tiến sĩ khoa Kỷ Hợi Phạm Thích, làm quan Thị trung học sĩ đời Lê soạn.
Nội dung: Văn còn với năm tháng. Bia ghi việc sửa chữa đền Vũ do hội Tư văn xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín chủ trì. Đền cũ đã có ba gian, hình thể lại chập hẹp, gian giữa cao bằng mặt đê, năm gian giải vũ mặt tiền sát sông, thật khó khăn cho việc tế tự. Năm Nhâm Ngọ (1822?) chuyển đền vào trong làng, ban đầu lợp tranh, sau xây gạch lợp ngói, cũng có đủ sông con, sông cái thể chế hoành tráng bền vững. Bia đề cao việc ghi danh các vị tiên hiền của làng để lớp trẻ noi theo nhằm chấn hưng đạo học, để sánh kịp các bậc tiền nhân, noi gương nề nếp tốt đẹp mà khiêm nhường, tạo sự hứng khởi, thanh tao cho cảnh quan làng xã.
6. Bia Đền Thọ
Niên đại: năm Giáp Tý, niên hiệu Tự Đức (1864)
Người viết: tú tài Đỗ Hạ Xuyên, Hội trưởng Trần Thế Đức
Nội dung: Bia ghi việc dựng đền Thọ và ghi phả Thọ làng Chương Dương. ý tưởng về việc quan trọng này thì từ trước đó 7, 8 năm, ông thân của Tú tài Đỗ Hạ Xuyên làm quan ở bộ Lễ từng bày tỏ ý tưởng lập đền Thọ và ghi phả Thọ để biểu thị tấm lòng thành kính đối với các bậc kỳ lão, nhưng mãi đến năm 1864 công việc mới thành sự thực. Việc lập đền Thọ, ghi phả Thọ rồi lập bia ghi lại thể hiện ý thức trọng tuổi già, một nét đẹp văn hoá truyền thống của nhân dân làng Chương Dương từ giữa thế kỷ XIX.
II. Di sản Hán Nôm đình Chương Dương
1. Trong gian đại bái đình Chương Dương có 3 bức hoành phi cổ, nội dung như sau:
Bức 1: Phong huy vạn tự
(Phong tục, đạo đức tốt đẹp được phát huy, muôn đời được tôn thờ)
Bức 2: Thương hành Chu tể
(Đức lớn như quan A Hành nhà Thương, quan Tể phụ nhà Chu)
Bức 3: Vạn cổ giang sơn
(Núi sông muôn đời bền vững)
2.Trên các cột cái, cột quân có treo 6 đôi câu đối cổ dẫn 3 đôi như sau:
Câu đối 1:
Linh ứng luỹ phong văn, cửu ngưỡng thần quyền duy xã hội
Hồng ân đàm thái ất, trùng tân miếu mạo trấn giang sơn.
(Linh thiêng ứng nghiệm dày, nhiều đời được tặng sắc văn, sự tín ngưỡng thần quyền giúp duy trì xã hội
Công lao ân đức lớn, ông cha được phong thái ấp, việc trùng tu đền miếu góp công giữ vững núi sông).
Câu đối 2:
Hà nhuận thần cao, linh huống vĩnh diên kim miếu xã
Địa liên thái nhưỡng, ân ba đồng mộc cựu giang sơn.
(Sông nước nhuần hoà có thần linh hun đúc sự thiêng liêng còn mãi bền lâu, miếu xã uy nghi đến tận giờ
Đất đai liền giải nhờ Thái ất sẻ chia nền ân đức cùng chung hưởng, giang san thuở trước vẫn nguyên còn)
Câu đối 3:
Lục tải xưng vương truyền nội sử
Thiên thu thực ấp hiển dư linh
(Sáu năm ngự ngai vàng còn truyền nội sử
Nghìn thu thực ấp ở vẫn rạng uy linh)
Những bức hoành phi và câu đối ở gian đại bái ngôi đình đều xa gần nói về sự nghiệp của đức thành hoàng làng Chương Dương: Bột Hải hoàng đế Dương Tam Kha. Điều đó chứng tỏ người xưa đánh giá công lao của Dương Tam Kha một cách khách quan và tôn vinh.
III. Di sản Hán Nôm trong thần phả, sắc phong, văn sớ tế cúng
1. Chương Dương thần từ ký
Ghi chép về thần đền Chương Dương, xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín gồm 29 tờ ghi ký tự Hán ghi chép về tiểu sử tôn thần sự gia phong mĩ hiệu của các triều đại kể từ đời vua Lê Kính Tông đầu thế kỷ XVII đến đời vua Khải Định nhà Nguyễn. Vị phúc thần của 4 xã (tức là 4 làng) của tổng Chương Dương xưa là Bột Hải hoàng đế, có tên thật là Dương Tam Kha, quê làng Dương Xá, huyện Đông Sơn, Ái Châu nay là tỉnh Thanh Hoá. Làng Chương Dương có ngôi đền thờ ngài, mỗi khi cầu đảo đều rất linh nghiệm. Các triều đại đều phong tặng là “Thiện Tiên hiển hoá phổ thông phù ứng”, triều đại sau lại tăng thêm duệ hiệu so với triều đại trước. Ngôi đền ấy nay gọi là ngôi đình làng Chương Dương. Lệ: hằng năm cứ đến ngày 20 tháng Sáu và tháng Một (11) thì làm lễ kỳ phúc, ngày 10 tháng Năm lễ nhập tịch, nay làm theo nhưng lại làm vào ngày 10 tháng Tám. Các vị được phối hưởng là: Hoàng hậu (bên tả), Phi nhân (bên hữu) và sáu vị thần tử của Hoàng đế gọi là sáu vị quan.
Bản Chương Dương thần từ ký không ghi ngày tháng, chắc là được viết sau đời Khải Định đầu thế kỷ XX. Nội dung viết nương theo các bản sắc phong của các triều đại vua rồi "kính xét" mà thêm vào duệ hiệu của vị tôn thần. Bản văn này cũng không ghi tên người viết hoặc phụng sao.
2. Làng còn lưu giữ 28 đạo sắc phong. Đạo sắc thứ 28 là đạo sắc cuối cùng còn được lưu giữ ở đình Chương Dương
Niên đại: Khải Định 9 (1924)
Nhân tiết tứ tuần đại khánh
Nhà vua tặng: Uông nhuận trung đẳng thần
Đặng chuẩn phụng sự, dụng chí quốc khánh nhi thân tự điển
Bản sắc đóng dấu son có bốn chữ hiện là:
“Sắc mệnh chi bảo”
3. Sớ văn Trần triều
Bài sớ văn ngày 19 tháng Tám giỗ Đức Thánh Trần do dân làng Chương Dương viết vào năm Tân Hợi 1911. Bài sớ gồm 59 câu dài ngắn khác nhau nêu rõ thần đức, địa phương cầu cúng, lời tâu trình cúi lạy, lễ vật dâng cúng, lời tôn vinh và lòng biết ơn.
Tuỳ theo phong cách văn sớ tấu nhưng nghiêm cẩn, thành thực, nêu được cảm mến của người dân với Trần Hưng Đạo đại vương. Những lời tôn vinh đều tương xứng không thái quá, không xa sự thật lịch sử.
4. Văn sự tích Đức Thánh Trần gồm 128 câu theo kiểu thơ tự do chen thơ 6,8 không rõ tác giả. Lời văn mòn sáo, nhiều ý phóng đại khoa trương. Đây là một văn bản ít có giá trị nội dung và nghệ thuật.
IV. Bia Chính hiến tiên hiền liệt vị
Bia ở vườn nhà thờ họ Đỗ, khi xưa đặt ở Văn chỉ tổng Chương Dương, ghi tên các vị đỗ đại khoa của cả tổng Chương Dương xưa.
Niên đại: Tự Đức Bính Thìn (1856). Người viết là Tú Sĩ (không rõ tên thật). Như vậy trong bia Chính hiến này cả tổng Chương Dương có 7 vị đỗ tiến sĩ trong đó làng Chương Dương có 2, làng Cát Bi có 3, làng An Chương có 1, làng Tư Uyên có 1; hai vị đỗ cử nhân đều là người làng Chương Dương. Bia cho biết sự đậu đạt khoa bảng của cả một tổng thời xưa.
V. Chương Dương xã miếu chung minh
(Bài minh ghi trên chuông làng Chương Dương)
Niên đại: Minh Mệnh 17 (1836)
Người viết: không rõ
Nội dung: Bài minh cho biết xưa đền Chương Dương đã có quả chuông, năm Tân Mão (1831) chuông bị mất. Mùa xuân năm Bính Thân (1836) mời thợ khéo ở huyện lỵ Yên Phong về khởi dụng đúc lại chuông cũ, tháng 4 thì xong. Chuông cao 9 tấc, đường kính 7 tấc, trọng lượng 30 cân. Tuy vậy vẫn to hơn quả chuông đã mất. Kết thúc bài minh là 8 câu thơ 4 chữ nói lên ước vọng hoà bình của dân xã qua tiếng chuông ngân nga. Bài minh không có gì là đặc sắc.
Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.72-80