VI | EN
15. Giới thiệu tác phẩm Du Hiên thi thảo của Bùi Văn Dị (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

GIỚI THIỆU TÁC PHẨM DU HIÊN THI THẢO CỦA BÙI VĂN DỊ

PHẠM THỊ GÁI

Trường Đại học khoa học Huế

1. Bùi Văn Dị (1833 - 1895), còn được gọi là Bùi Dị, tự: Ân Niên, các tên hiệu: Tốn Am, Do Hiên, Hải Nông, Châu Giang; là nhà thơ, nhà giáo và là một đại thần trải 7 đời vua Nguyễn: Tự Đức, Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái trong lịch sử Việt Nam.

Ông sinh ngày 28 tháng Ba năm Quý Tỵ (17 tháng 5 năm 1833) trong một gia đình nho học tại làng Châu Cầu, nay thuộc phường Lương Khánh Thiện và phường Minh Khai (thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam). Cha ông là Bùi Văn Hy, đỗ Tú tài thời vua Minh Mạng. Nối nghiệp nhà, Bùi Văn Dị đi học từ rất sớm. Sau khi đỗ Tú tài, khoa Ất Mão (1855), ông đỗ Cử nhân, nhưng mãi đến khoa Ất Sửu (1865) năm Tự Đức thứ 18 (1865), ông mới đỗ Phó bảng cùng với người em họ (con chú ruột) là Bùi Văn Quế. Thi đỗ, Bùi Văn Dị được bổ làm Tri huyện Lang Tài, Việt Yên, Yên Dũng thuộc tỉnh Bắc Ninh rồi làm Án sát Ninh Bình. Sau đó, ông được triệu về kinh đô Huế, giữ chức Nội các sự vụ Thị lang Bộ Lễ, tiếp theo là Tham tri Bộ Lại. Khi quân Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ nhất (1873), ông được cử lo việc chống trả giặc. Từ năm 1876 đến 1878, ông được cử làm Chánh sứ, dẫn đoàn sang nhà Thanh (Trung Quốc). Cuối năm 1878, ông lại được sung vào Nội các, lại được cử duyệt quyển thi Hội, thi Đình. Năm 1881, ông nhận chức Quản lý Thương bạc sự vụ đại thần. Năm 1882, Pháp đánh thành Hà Nội lần thứ hai, ông dâng sớ xin quyết đánh trả, và được làm Phó kinh lược sứ Bắc Kỳ.

Ở đất Bắc, Bùi Văn Dị đối đầu với đối phương một vài trận, nhưng nổi tiếng là trận Gia Lâm, ông đã cùng với Hoàng Tá Viêm, Trương Quang Đản, Nguyễn Cao, Trần Xuân Soạn cùng hợp quân để tập kích quân Pháp đang lấn ra ngoại vi Hà Nội vào ngày 19-20 tháng 2 âm lịch (27-28 tháng 3 năm 1883). Do tin cậy, ông được cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh. Năm 1883, triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước với Pháp (Hòa ước Quý Mùi), ra lệnh cho ông và một số tướng lĩnh khác phải bãi binh. Ông buồn rầu, chán nản lấy cớ bệnh xin từ chối chức Tổng đốc Ninh-Thái và đi ở ẩn tại Thanh Hóa. Đầu năm 1884, ông lại được triệu về triều làm giảng quan chuyên giảng sách cho vua Kiến Phúc và vua Hàm Nghi. Năm 1885, ông bị ốm phải đi dưỡng bệnh tại Hải Quật (Yên Định, Thanh Hóa). Đến năm 1887, ông lại được triệu vào kinh làm giảng quan cho vua Đồng Khánh, rồi dần đảm đương nhiều chức vụ khác.

Đến năm Thành Thái thứ nhất (1889), thì ông đã xin thôi giữ chức Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Lại và Phụ chính đại thần, mà chỉ còn giữ chức Phụ đạo đại thần kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán. Cũng khoảng thời gian này, theo lời điều trần của ông, nhà vua sắc tứ cho ông đỗ Tiến sĩ. Kể từ đó, Bùi Văn Dị chuyên lo việc tổng duyệt bộ sách gồm 300 bài thơ vịnh sử của vua Tự Đức, công việc biên tập vừa hoàn thành thì ông cũng mất ngay khi còn tại chức vào ngày 22 tháng 9 năm 1895, thọ 62 tuổi.

Bùi Văn Dị là bạn thơ của vua Tự Đức, và của các danh sĩ đương thời, như: Miên Trinh, Nguyễn Văn Siêu, Nguyễn Khuyến...

Lần theo các sáng tác, chúng ta thấy những trang thơ, văn của Bùi Văn Dị luôn gắn liền với các chặng đường đời của ông và gắn liền với những thăng trầm của lịch sử dân tộc. Trong con người ông, luôn tồn tại hai nửa khác nhau, một con người ưu thời mẫn thế, luôn trăn trở trước mọi thay đổi của thời cuộc, trước những biến động của chính sự. Nhưng bên cạnh đó là một tâm hồn rất tinh tế, nhạy cảm. Những suy nghĩ, cảm nhận về cuộc sống, những thay đổi trước cảnh vật, đất trời, thời cuộc đều được ngòi bút giầu cảm xúc ghi lại một cách tinh tế. Cả chặng đường đời của Bùi Văn Dị, bên cạnh con đường hoạn lộ, quan trường cũng chính là con đường sáng tác thơ văn không mệt mỏi. Thật đúng như nhận xét khái quát về nhân vật này trong Từ điển Văn học: “Bùi Văn Dị là nhà thơ sáng tác trên mọi nẻo đường công cán, trong nhiều cương vị, trong nhiều quan chức khác nhau. Ở ông, con người chức năng, con người phận vị không hề che lấp đi con người thi nhân…”. Ông đã để lại cho đời một sự nghiệp sáng tác khá đồ sộ.

Những tác phẩm của ông được tập hợp trong các tập thơ, tùy bút như: Du Hiên thi thảo, Tốn Am thi sao, Trĩ Chu thù xướng tập, Đại châu sứ bộ xướng thù, Vạn lí hành ngâm. Ngoài ra, các trước tác thơ văn của ông còn được trích dẫn trong các tác phẩm Biểu chiếu phú hợp tuyển, Chư danh gia thi, Chư đề mặc, Danh thần bút lục

2. Năm 1882, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội rồi mở rộng xâm chiếm các tỉnh Bắc Kì. Bùi Văn Dị dâng sớ xin đánh Pháp, và được cử làm Khâm sai Phó kinh lược sứ Bắc Kì, mang một đội quân lưu động, phối hợp với các lực lượng chốt giữ ở các địa phương đánh Pháp. Đến năm 1883, được cử làm Tham tán quân thứ Bắc Ninh. Trong khoảng thời gian này, những địa điểm nơi ông hành quan qua, những trận đánh ông cùng các binh sĩ đã tham gia, nhưng tin tức về chiến sự, những giây phút bình yên sau mỗi trận đánh, những danh lam thắng cảnh của quê hương đất Việt ông đã có dịp đặt chân đến đã trở thành cảm hứng bất tận để ông sáng tác thơ ca. Tất cả những bài thơ này được tập hợp trong tập thơ Du hiên thi thảo - bản thảo tập thơ làm trên chiếc xe nhẹ trên đường chinh chiến.

Hiện nay, văn bản tập thơ được lưu giữ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm 5 bản in, 2 bản viết. Cụ thể là các bản mang kí hiệu sau:

Bản mang kí hiệu A.2554

Đây là bản in, tổng cộng có 70 trang, được in trên khổ giấy 27x14, in bìa cứng, gáy màu xanh. Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ, được viết theo thể chữ thảo.Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo. Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ đá thảo. Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép. Sách không có mục lục ghi thứ tự các bài thơ.

Dị bản mang kí hiệu VHv.1127 và VHv.1128

Đây là hai bản in giống nhau, tổng cộng có 70 trang, được in trên khổ giấy 24x14, in bìa cứng, gáy màu xanh. Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ.Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo. Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ đá thảo. Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép. Trang bìa có đóng hai dấu triện nhỏ là 蓍山藏板. Sách không có mục lục ghi thứ tự các bài thơ.

Bản mang kí hiệu VHv.1993

Đây là bản in, tổng cộng có 68 trang, khổ giấy 22x13, in bìa cứng, gáy màu xanh. Trang đầu tiên, dòng tên cùng có ghi dòng chữ 嗣德三十六年復月本钞; Bên phải có ghi dòng chữ: 河內金榜裴文異殷年著. Trang đầu tiên không có dấu triện. Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ. Có dòng 12 chữ, đều được viết theo thể chữ thảo.Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo. Trang thứ 2 có dòng chữ: 成泰二年下五葦野老人書. Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ đá thảo. Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép. Sách không có mục lục ghi các bài thơ.

Bản mang kí hiệu VHv. 248

Đây là bản in, tập này đóng hai quyển trùng nhau. Tập thơ được in trên khổ giấy 28x15, in bìa cứng, gáy màu xanh, tổng cộng có 136 trang. Màu giấy đen và cũ hơn các bản còn lại. Trang mặt có đóng hai dấu triện nhỏ 蓍山藏板. Phần tựa 12 trang, mỗi trang 5 dòng, mỗi dòng 11 chữ. Có dòng 12 chữ, được viết theo thể chữ thảo. Phần đề từ 2 trang, được viết theo lối hành thảo. Một trang có 4 dòng, trang còn lại có một dòng ghi: 成泰二年下五葦野老人書. Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ đá thảo, Trong văn bản có phần chú thích của tác giả và có chú thích của người sao chép. Tập thơ kết thúc ở trang thứ 70, sau đó lặp lại tập thứ hai, trực tiếp vào phần tựa, không có trang bìa. Không có mục lục.

Bản mang kí hiệu A. 355:

Đây là bản viết tay, tổng cộng có 37 trang, khổ giấy 31x21, bìa được đóng bằng giấy cứng màu trắng, gáy đóng viền màu xanh. Tập này không có trang bìa mặt ghi tên tập thơ. Trang đầu là lời tựa, dài 5 trang, mỗi trang có 9 dòng, mỗi dòng có 20 chữ. Sau lời tựa có ghi dòng chữ 成泰二年夏五葦野老人書. Trên đầu trang có chú thích các dòng chữ 低回慷慨純以勝氣, 葦野評自然工整, 雲麓評. Kết thúc phần phẩm bình được tiếp nối bằng phần nội dung của tập thơ, không ngắt trang. Các trang trong tập thơ đều được chép thống nhất một thể chữ là hành thư. Tập thơ có chấm câu, ít dùng khuyên tròn.

Trong các trang phần nội dung, thứ tự các bài được chép lần lượt như trong các bản in, không bị đảo lộn vị trí các bài, số lượng đủ 47 bài thơ. Các chữ sao chép trong bản này có nhiều sai lệch so với các bản khác.

Bản mang kí hiệu A.1441:

Đây là bản viết tay. Tổng cộng có 150 trang, khổ giấy 25x21, trong đó 26 trang đầu là thơ của Du Hiên, 124 trang còn lại là Trúc Vân văn tập. Bìa được đóng bằng giấy cứng màu trắng, đóng gáy màu xanh. Trang đầu tiên có dòng chữ 輶軒詩集附竹雲文集 được viết theo lối khải thư. Tiếp đến là hai bài đề tự chung cho hai tập thơ dài 5 trang. Không có lời tựa và lời đề từ. Các bài thơ trong tập đều được ghi theo lối chữ hành khải, chữ viết rõ ràng, dễ đọc. Thứ tự của các bài thơ bị đảo lộn. Một số bài bị lược bớt. Tập chép tay này ít dùng các khuyên tròn và dấu chấm câu.

3. Du hiên thi thảo là một tập thơ viết về chiến trận, trong từng câu, từng chữ như thấm vào nỗi buồn cho vận mệnh đất nước. Phần lớn, trong những bài thơ đều nặng trĩu sự ưu tư, lo lắng trong lòng nhà chí sĩ.

“Sách hay mọt gặm, lưỡi gươm han

Những giận này nào ngỏ cửa quan(1)

Sống chỉ nhuốm thêm mầu tóc bạc

Mười năm hai lần khóc giang san”.

(Trả lời ông Tham quân Ngư đường

Phạm Hy Lượng khi ngồi nói chuyện ở thành Sơn)

Nợ nước chưa trả, tấc lòng băn khoăn day dứt, chỉ có điều thân mình sức mọn, những đấng hào kiệt xưa như vắng bóng, nên không nén được tiếng thở dài. Tâm sự này chúng ta cũng từng bắt gặp nhiều lần trong các bài thơ của ông.

“Muốn xua luồng gió Tây mang lạnh

Chặt quế nhờ ai nắm búa cùng"

(Lữ quán Hàm Thành trung thu ngắm trăng)

Đọc những bài thơ trong tập thơ này, ta thấy gần như có rất ít những tiếng reo vui. Có chăng chỉ là những bài thơ báo tin mừng chiến thắng hiếm hoi mới có được như những câu thơ:

“Bờ bắc trào mặt sóng

Gió đông sạch chiến trường

Ngất trời quân dũng khí

Nghe tiếng giặc kinh hoàng

Tiếc chưa kịp chặn hậu

Ai nói giặc khó đương

Một năm qua đọ sức

Hai trận thắng lừng vang”.

(Liền hai ngày 19 và 20 tháng 2, quan quân giao chiến với địch)

Còn lại vẫn chỉ là những nỗi niềm u uất, xót xa, một nỗi buồn dài như vô tận:

“Buồn nỗi chưa say men chiến thắng

Rượu quê suông nhấp ánh trăng tà”

(Tết Đoan Ngọ uống rượu với những người dưới trướng làm bài thơ này)

Một ngày hành quân qua huyện Nam Xang, nghỉ lại đêm do đường hành quân quá khó. Đường nhỏ, dây leo, gai góc mộc đầy, cây cối chật lối, trúc rủ âm u. Cảnh chiều trên con đường nhỏ đã hiu hắt, đoàn quân mệt mệt mỏi, lại thêm nước mưa lâu ngày ngập úng như níu bước chân ngựa. Trong cảnh hành quân gian lao ấy, tác giả còn chứng kiến cảnh nước đồng mênh mông, vạn ngôi nhà của người dân trôi nổi. Sóng nước cuồn cuộn vẫn húc mạnh vào thân đê như muốn giằng xé thân con đê chắn cho ruộng đồng. Không xót xa, không đau đớn sao được khi phải chứng kiến cảnh trời chiều, khi cơn mưa vừa tạnh, nước lũ còn chưa kịp rút nơi vùng chiêm trũng. Có lẽ, trong khung cảnh đó, nhà thơ không chỉ có sự não lòng theo cảnh vật, mà quan trọng hơn đó là nỗi xót thương cho nhân dân đang rên xiết trong cảnh khắc nghiệt, thịnh nộ, hung dữ của thiên nhiên. Sau những cơn lụt lội sẽ là cảnh đồng chiêm bị ngập úng, đói khát, mất mùa, bệnh tật đe dọa. Giờ đây, không chỉ có những mối nguy hại đó, mà còn có họa ngoại xâm. Thực dân Pháp đang dốc sức đánh chiếm để mở rộng địa bàn ra miền Bắc. Quan quân của triều đình - một chế độ phong kiến đã đi vào thời kì suy mạt sau hàng nghìn năm, cộng thêm những chính sách bế quan tỏa cảng, không giao du với phương Tây đã khiến đất nước ngày càng thêm suy yếu khó có thể đương đầu với những thứ vũ khí tối tân của một đất nước văn minh của châu Âu.

“Đường nhỏ cây cối gai góc chằng chịt, trúc rủ âm u

Mưa lâu bùn lầy ngập vó ngựa

Ngoài đồng nước tràn mêng mông trôi nổi vạn nhà

Sóng trên sông cuồn cuộn lung lay hai bờ đê

Gió thu đầu mùa thổi sớm làm lá cây rừng lác đác rụng

Ánh chiều tà chiếu xiên vào quán trọ”

(Tháng bảy hành quân qua Nam Xang nghỉ lại đêm)

Trong chặng đường hành quân gian khổ đó, những giấc ngủ đến cũng chập chờn đầy mộng mị. Nửa đêm giật mình tỉnh giấc, tay nắm chặt thanh kiếm như muốn trút hết niềm căm phẫn của chính mình. Ý chí căm thù giặc, quyết tâm đánh đuổi kẻ thù luôn nung nấu trong lòng nhà chí sĩ yêu nước này. Chỉ tiếc rằng:

“Năm canh giật mình tỉnh mộng, lần vỗ vào thanh kiếm

Lưu Khôn(2) không dậy cùng ta nghe gà gáy”

(Tháng bảy hành quân qua Nam Xang nghỉ lại đêm)

Tấm lòng yêu nước luôn gắn liền với nỗi trăn trở, thương cho người dân nghèo. Nỗi lòng này của nhà chí sĩ còn thể hiện trong niềm khao khát mong mỏi cho người dân được mùa:

“Ba ngày mưa dầm, cánh đồng bốn phía đều ngập trắng nước

Chẳng còn có thể oán trách gió thu

Sớm biết sức người có thể xoay chuyển trời đất

Tấm lòng lo nước trước hết là mong cho dân được mùa”

(Giải muộn)

Không chỉ thể hiện tấm lòng băn khoăn, khắc khoải của một nhà chí sĩ trước vận mệnh đất nước đang bị giày xéo dưới gót giày của quân xâm lược, Du hiên thi thảo thể hiện tấm lòng yêu thiên nhiên tha thiết của một vị thi nhân:

“Sông Tam Đức gợi vùng trời hiểm

Bến Lục Đầu dồn sóng nước sâu

Một thủa, bóng cờ bay rợp đất

Vạn Yên cây cỏ nhuốm màu thu”.

(Qua núi Vạn An…)

Đó là cảm xúc khi lên núi Bàn A:

“Gió rét chiều tà nhạn lẻ bay

Non xanh nước biếc gợn lòng say…

Biển biếc mù tan sầu chứa chất

Đỉnh Hồ mây phủ lệ vơi đầy”

(Cảm xúc khi lên núi Bàn A)

Tiêu biểu cho lòng yêu thiên nhiên tha thiết của nhà thơ là chùm thơ Tứ vịnh, khi trên đường hành quân trú lại ờ Hoàng Xá. Bao gồm những bài vịnh về núi đá, về ánh trăng soi trên núi, về ngọn gió đồng thổi, về ao sen cuối hạ… (xem thêm trong tập thơ Du hiên thi thảo)

Sau mỗi trận đánh, mỗi con đường, mỗi vùng đất đi qua, Bùi Văn Dị đều ghi lại cảm xúc của mình. Đó có thể là những niềm vui, những phút giây lòng lắng lại sau mỗi trận đánh, là mỗi phút giây say đắm trong thiên nhiên kì thú của đất Việt thân yêu. Trong những bài thơ đó, tác giả đề ghi rất rõ lại ngày tháng như các bài thơ: Nhị nguyệt, thập cửu, nhị thập liên nhật quan quân dữ tha giao chiến; Bát nguyệt nhị thập nhật quá Vạn An sơn yết Hưng Đạo Đại vương từ tính bái Phạm tướng quân; Tam nguyệt thập tam nhật văn đắc Chỉ Kiều chi kiến đại tiệp chí hỉ… Những ghi chép này có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu văn bản của tập thơ và mang giá trị sử liệu vô cùng quy giá.

Các thể thơ trong tập Du hiên thi thảo rất phong phú. Có bài được làm theo thể ngũ ngôn tứ tuyệt, thất ngôn tứ tuyệt, thất ngôn bát cú… nhưng cũng có nhiều bài được viết theo thể tự do, các câu trong bài không giới hạn. Tất cả đều góp phần làm phong phú thêm nghệ thuật điêu luyện của một vị tiến sĩ Nho học và lột tả nỗi lòng của một nhà chí sĩ yêu nước.

Chỉ trong giới hạn một bài tham luận người viết không thể nêu hết được những điểm đặc sắc của tập thơ. Có điều chúng ta dễ nhận thấy tấm lòng yêu nước, căm thù giặc và nỗi xót thương cho cuộc sống của nhân dân như thấm vào trong từng câu chữ. Trong khoảng thời gian này, cái buồn trong văn học dường như là bản chất, nó bị chi phối bởi quy luật khắc nghiệt của cuộc chiến đấu không cân sức vì sự tụt hậu của cả một chế độ và sự trì trệ của một vương triều. Nhưng ta vẫn thấy được nét riêng trong thơ của Bùi Văn Dị, đó là, mặc dù buồn riêng cho thời thế, nhưng trong lòng của nhà chí sĩ này không mang phong vị bất mãn và yếm thế như nhiều nhà Nho đương thời. Có rất nhiều nhà Nho trong giai đoạn đầu rối ren đó, vì chán ghét vương triều đã chọn con đường lui về ở ẩn, nhưng với Bùi Văn Dị, khoảng thời gian lui về lánh nạn ở Thanh Hóa chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, khi triều đình Huế ra lệnh cho ông rút quân khỏi Bắc kỳ và bắt đầu kí với Pháp những hòa ước không có lợi cho triều đình và đất nước vì theo ông “đất nước mất rồi còn “tỵ” vào đâu. Tấc lòng canh cánh nợ nước non đó vẫn luôn dõi theo từng thời khắc của đất nước, vẫn mong đem chút sức mọn của mình để trả nợ nước ơn vua. Do vậy, mặc dù sức đã yếu, phần vì tuổi tác, phần vì lo nghĩ nhiều, nhưng đến khi vua Đồng Khánh lên ngôi, mời ông ra làm quan ông đã quay về lại triều đình. Bởi vì ông vẫn tin rằng nhờ khí thiêng của sông núi, anh linh của tổ tông nên “tư văn do vị táng” (nền tư văn chưa mất hẳn). Ông vẫn miệt mài cần mẫn trong công việc của mình cho đến những ngày cuối cùng của cuộc đời mình. Tấm lòng yêu nước và ý chí kiên cường chống giặc ngoại xâm của nhà chí sĩ Bùi Văn Dị thật đáng để chúng trân trọng.

 

Chú thích:

(1) Ngỏ cửa quan: nguyên văn là “bế Ngọc quan”: tức chỉ cửa ải Ngọc Môn là cửa ải thông với Tây vực của Trung quốc thời cổ đại.

(2) Lưu Khôn: Người đời Tấn, lúc trẻ có trí đuổi giặc, lấy lại đất nước. Lưu Khôn là bạn của Tổ Địch, hai người thường nửa đêm nghe tiếng gà gáy dậy luyện kiếm để trả thù nước./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.569-579)

Phạm Thị Gái
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hns@vass.gov.vn
Tel: 02438573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm