16. Sắc phong, văn bia, gia phả về Thái phó Điềm quốc công Trần Lựu ở Thanh Hóa (TBHNH 2010)
SẮC PHONG, VĂN BIA, GIA PHẢ VỀ THÁI PHÓ ĐIỀM QUỐC CÔNG TRẦN LỰU Ở THANH HÓA
NGUYỄN VĂN HẢI
Ban Quản lý Di tích & Danh thắng Thanh Hóa
Trần Lựu vốn gốc người Đàm Thi, huyện Lương Giang (nay là xã Xuân Thiên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Ông là vị Khai quốc Công thần có mặt trong hội thề Lũng Nhai ngay từ buổi đầu cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và là một trong những nhân vật có công vây đánh, chém đầu Liễu Thăng ở núi Mã Yên, được ban phong thực ấp ở Lỗ Tự huyện Thiệu Hóa (nay là xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Ngày nay tộc họ Trần Lựu ở Lỗ Tự mang họ Trần Quang. Tại từ đường dòng tộc còn giữ được 4 đạo sắc phong, lệnh chỉ ban cho Trần Lựu và các con của ông, 1 văn bia, một bản gia phả, xin lược giới thiệu như sau:
+ Sắc phong ban niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 (1771) ghi phong cho Trần Lựu chức Bình ngô Khai quốc Lũng Nhai công thần, Suy trung Tá lý, Dương vũ Đồng đức Hiệp mưu Công thần, Đặc tiến Khai phủ, Kim tử Vinh lộc đại phu, Nhập nội Kiểm hiệu Đại Tư Mã, Bình chương quân quốc trọng sự, Thượng trụ quốc, tặng mũ đai vàng, phù hiệu bạc, Thái Phó Điềm Quốc công.
Đạo sắc phong niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) ghi giao cho téc họ Trần Quang xã Lỗ Tự, phủ Thiệu Hóa phụng thờ: Đô đốc Chưởng phủ sự Thái bảo Thận Quốc công Lê Lạn (con trai Trần Lựu), ông được triều đình truy phong là Hiền lương Dực bảo Trung hưng Quang ý Trung đẳng thần. Hai lệnh chỉ ban cho Lê Lạn khi ông còn đương triều.
+ Văn bia Thái phó Điềm quốc công trùng tu từ đường bi. Bia cao 1,2m, rộng 0,70m thuộc loại hình chóp mũ, trán chạm lưỡng long chầu nhật. Bia dựng năm Giáp Tý (1864) đời Tự Đức. Người soạn là Hàn lâm viện trước tác, Đốc học Thanh Hóa Đạm Trai tiên sinh Nhữ Bá Sĩ.
Nội dung ghi chép về lai lịch tiểu sử, công lao hành trạng của Trần Lựu. Ông làm quan trải 4 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và Lê Thánh Tông. Buổi đầu khi Lê Lợi bình định giặc Minh, ông tham gia hội thề Lũng Nhai, lúc nghĩa quân từ Nghệ An tiến ra vây đánh Đông Đô ông được giao cho nhiệm vụ đi đánh chặn viện binh giặc ở Nam Quan và giao cho giám sát quân dân sự vụ ở Yên Bang - Lạng Sơn. Lại làm Tuyên úy sứ Tuyên Quang kiêm chức Đô tổng lĩnh Thuận Hóa. Sau được thăng Nhập nội Thiếu bảo, Đô đốc Tây Đạo, tước Thượng Trí tự. Tá lý Công thần, Dương vũ Hiệp mưu, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, Nhập nội Kiểm hiệu Đại Tư Mã, Bình chương Quân quốc Trọng sự, Thượng trụ quốc, Thái Phó Điềm Quốc công. Ông mất niên hiệu Quang Thuận thứ 9 (1468) đời Lê Thánh Tông, hưởng thọ 98 tuổi. Ban tên thụy là Trung Tĩnh, bao phong Phúc Thần giao cho dân thờ cúng.
Ngoài ra bia còn ghi các chi phái hiện còn như Võ Xá - Thanh Liêm - Hà Nội, trại Độ Việt -Vụ Bản - Nam Định, Đan Luân - Hải Dương, Lỗ Tự - Lương Giang Thanh Hóa... N¨m Giáp Tý đời vua Tự Đức (1864) vì từ đường bị đổ nát, một số con cháu đỗ đạt đã bỏ tiền tu sửa từ đường để làm nơi cúng tế và cho dựng bia. Cuối bia có một bài tán ca ngợi công đức của Trần Lựu.
+ Gia phả được sao lại vào năm Giáp Tý đười vua Tự Đức (1864). Người soạn là hậu duệ Cử nhân khoa Mậu Thân (1848) lĩnh Tri phủ Thọ Xuân Trần Văn Bánh tự là Phi Như. Nội dung ghi lời tựa, nguồn gốc lai lịch các chi họ Trần và thế thứ tiểu sử con cháu trong tộc, đời thứ nhất là Trần Lựu, đời thứ 2: con trai trưởng Lễ bộ Thượng thư tước Đôn Cung bá, tên húy là Ngộ, con thứ Đô đốc Chưởng phủ sự Thái bảo Thận Quốc công Lê Lạn. Đời thứ 3: Bắc quân Đô đốc, Chưởng phủ sự Đặc tiến Trấn quốc Thượng Tướng quân trụ quốc tước Duyên Mậu hầu. Đời thứ 4: Bắc quân Đô đốc phủ, Phò Mã, Đặc tiến trấn quốc Thượng Tướng quân trụ quốc, tước Cẩm Đường hầu, húy Thanh Mậu v.v… Tổng số 14 đời, đời nào cũng có các bậc quan lại cự phách.
Nét đặc biệt là trong gia phả còn ghi thêm các phần phụ lục: Bài văn trong hội thề Lũng Nhai, Chúc Văn, và bài văn bia ở Đàm Thi quê hương ông.
Như vậy thông qua những tài liệu Hán Nôm sắc phong, văn bia, gia phả hiện lưu giữ tại từ đường họ Trần Quang làng Lỗ Tự, xã Thiệu Quang, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa chúng ta có thể hiểu thêm lai lịch tiểu sử, công lao hành trạng, cũng như thế thứ về dòng tộc họ Trần Quang. Nếu những tài liệu này được dịch toàn văn công bố sẽ đóng góp thêm cho việc nghiên cứu khảo đính nhân vật.
Gia phả - Sắc phong ghi về Tiến sĩ Nguyễn Quang Minh ở Vân Hà - Thanh Hoá
Trong đợt đi khảo sát điền dã tại huyện Thiệu Hóa chúng tôi phát hiện tại đền thờ Nguyễn Quang Minh ở xã V·n Hà (nay là xã Thiệu Hưng huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa) hiện lưu giữ được một quyển gia phả và một đạo sắc phong ghi chép về thân thế sự nghiệp của ông. Đọc nội dung gia phả, chúng tôi được biết:
Nguyễn Quang Minh vốn thuộc dòng dõi họ Trần người xã Viên Quang, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Tổ xa đời làm quan chức Nhập thị hành khiển, truyền đến ông tổ đời thứ 8 tên tự là Trí Hành bắt đầu di cư về quê mẹ ở thôn Kính Thượng xã Văn Hà tổng Mật Vật huyện Thụy Nguyên (nay đổi là thôn Chí Cẩn xã Thiệu Hưng huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa).
Ông tên là Quang Minh, tục gọi là Lỗi, tên tự là Phúc Nhạc, tên thuỵ là Hoằng Vĩ, sinh vào giờ Thìn, ngày Ất Sửu 23 tháng ất Hợi (tức tháng 10) niên hiệu Quang Hưng thứ 7 (1584) triều Lê Thế Tông. Bản tính đôn hậu, thông minh, khoa thi năm Mậu Thìn (1628) đời vua Lê Thần Tông ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, được ban tặng chức: Đôn hậu Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu, Lại bộ Tả Thị lang, tước Mỹ Thọ hầu. Ông đã từng được cử đi sứ phương Bắc được thăng chức Thượng thư Bộ Lại, khi mãn hạn về trí sĩ tại quê nhà. Vào giờ Mùi ngày 17 tháng 3 năm Giáp Ngọ (1654) ông mất hưởng thọ 71 tuổi. Mộ an táng tại thôn Đông Minh, sau này cát táng qui về xứ Cồn Liêu, bên phía Đông Nam, tọa Càn hướng Tốn. Sau khi mất dân làng bầu hậu làm Phúc thần, triều đình sắc phong cho dân thờ cúng. Ngày nay tại đền còn một đạo sắc gốc ban ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) xin được dịch như sau:
“Sắc phong cho tộc họ Nguyễn thôn Chí Cẩn, xã Vạn Hà, tổng Mật Vật, phủ Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa, phụng thờ Tổ tiên đời trước đỗ Tiến sĩ triều Lê, được phong Đôn hậu Công thần, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đại phu, vâng đi sứ phương Bắc, Tả Thị lang Bộ Lại, tước Mỹ Thọ hầu, tặng chức Thượng thư, tên tự là Phúc Nhạc, Nguyễn Quang Minh tôn thần. Đã có công giúp nước, che chở cho dân nỗi niềm nghiệm thấy linh ứng. Tới nay vừa đúng vua tứ tuần (40T) làm lễ khánh tiết, trải ban chiếu báu, ơn sâu lễ rộng thăng lên một cấp, lại phong làm Quang ý Dực bảo Trung hưng Trung đẳng thần. Đặc biệt cho phép phụng thờ thần để thần ngầm giúp lê dân. Vâng sắc.
Ngoài ra gia phả còn ghi vào triều Nguyễn đời vua Duy Tân (1907-1916) ở thôn Nội Phật, xã Mai Nội, tổng Phủ Lỗ, huyện Kim Anh, tỉnh Phúc Yên, Bắc Kỳ (nay là tỉnh Vĩnh Phúc) có Lý trưởng là ông Hà Văn Hanh đem nhân thân đến tông đường nhận biết rõ ràng. Nói rõ ở ngay xã ấy phụng thờ vị quan triều Lê tên là Nguyễn Quang Minh, phúc quốc, khang dân. Trong thời gian loạn giặc Tây Sơn, do binh lửa đốt cháy sắc văn, sự tích bị mất hết, nhân khẩu giảm bớt, hiện thời sổ đinh bạ ghi chép lớn nhỏ còn 26 người. Trước thời Lê dân còn hơn nghìn khẩu, ngũ phúc kiêm toàn, nay dân tình khắc phục lại cuộc sống, tìm lại quê cũ. Thời gian hơn một tháng, thường tiếp mọi người đến bái đạo cúng tổ đường cùng lăng mộ tông tộc, thật là xưa nay xưa nay hiếm. Bái xin sao ghi tên tuổi, mỹ tự mang về đền miếu xã dân thờ cúng. Vào các kỳ tiết lễ, xuân thu nhị kỳ cúng tế đến ức nghìn vạn năm, dân tộc được vạn phúc, đó là lời nguyện của xã dân, khẩn mời tộc trưởng cùng các viên tử cùng đến. Bản xã kính soạn lễ vật, kính mời tông trưởng Nguyễn Văn Điểm, con viên tử trong tộc là Cửu phẩm Nguyễn Văn Niệm cùng về. Lại cùng xã dân tiến phong một đôi câu đối, lưu sao sự tích. Nội dung câu đối:
Vãn Hà bất một cao danh bảng
Phủ Lỗ phúc sinh đại Phúc thần.
Các con của ông có: trưởng nam Nguyễn Quang Diệu, tên tự là Phúc Phong tiên sinh làm quan chức Thông chính sứ ty Thông chính phó, tước Hải Lộc tử (sau thăng lên Lang Trung ở bộ Binh, tước Tuấn Lộc nam). Trai thứ là Nguyễn Quang Bằng, tên tự Hiền Trí, huý Vị, chức Hiển cung đại phu. Trai thứ 3 Nguyễn Quang Vượng, tự Chính Giác, huý Da giữ chức Hiển Cung đại phu, Thông Chính sứ ty, ty thừa chính sứ. Con trai thứ 4 Nguyễn Quang Vĩ, làm quan Tự Thừa điện Lam kinh, được phong Hiển Cung đại phu, tên chữ là Phúc Sơn v.v…”
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.130-134)