VI | EN
16. Vài suy nghĩ về hình tượng cá sấu trang trí trên gạch thời Đại La phát hiện ở khu di tích Hoàng thành Thăng Long Hà Nội với tư liệu thư tịch cổ. (TBHNH 2011)
(TBHNH 2011)

VÀI SUY NGHĨA VỀ HÌNH TƯỢNG CÁ SẤU TRANG TRÍ TRÊN GẠCH THỜI ĐẠI LAPHÁT HIỆN Ở KHU DI TÍCH HOÀNG THÀNH THĂNG LONG HÀ NỘI VỚI TƯ LIỆU THƯ TỊCH CỔ

NGUYỄN QUANG HÀ

Trung tâm Bảo tồn Khu di tích Cổ Loa, Hà Nội

1. Hình ảnh cá sấu bơi trên sóng nước khắc nổi trên gạch thời Đại La và một số tư liệu thư tịch cổ Trung Quốc

Hiện nay, trong phòng trưng bày hiện vật khảo cổ học tại Hoàng thành Thăng Long Hà Nội trưng bày một hiện vật khá độc đáo. Đó là hình cá sấu bơi trên sóng nước, khắc nổi trên một viên gạch màu xám tro, hình vuông có kích thước (D= 38,2cm; R= 38,2cm), ký hiệu B14. VL014 (017), có niên đại thời kỳ Đại La (TK VII- IX). Hình ảnh này, đã gợi cho chúng ta nhiều suy nghĩ, liệu nó có phản ánh được điều gì về cảnh quan môi trường ở thời điểm đó không?. Với một viên gạch trang trí phát hiện được thì còn quá ít ỏi để nói về một thông điệp gì đó. Song qua đây cũng là một gợi ý khiến chúng ta quan tâm đến nguồn tư liệu thư tịch cổ viết về địa danh vùng đất trũng Đại La - Long Biên(1) - Thăng Long - Hà Nội thuở xa xưa. Đối chiếu giữa các nguồn tư liệu khảo cổ học và tư liệu thư tịch cổ, có thể làm rõ được hình ảnh điêu khắc trên.

Điều cần quan tâm là viên gạch xám trang trí hình cá sấu bơi trên sóng nước được phát hiện trong khu khai quật tại 18 Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội, thuộc đất Long Biên, quận Giao Chỉ thời Bắc thuộc. Địa danh này đã được sách Tư trị thông giám bổ (資治通鑑補) do Tư Mã Quang đời Tống biên tập, Hồ Tam Tỉnh (đời Nguyên, chú âm), đến đời Minh được Nghiên Diên và Đoàn Doãn Hậu đời Minh bổ sung và hiệu đính, ghi như sau: “Tuần thần chí Long Biên nam tân” (循辰至龍編南津) (nghĩa là: (Lư) Tuần buổi sớm đến bờ phía nam Long Biên)(2) chua thêm: “Giao Chỉ quận, Long Biên huyện, châu quận giai trị yên (郊址郡龍編縣州郡皆治焉 - quận Giao Chỉ, huyện Long Biên, đều đóng trị sở ở đó)”. Trong sách Thủy kinh chú ghi rõ hơn: “Kiến An, nhị thập tam niên lập châu chi thủy, giao long bàn biên ư thủy nam, bắc nhị tân cố cải Long Uyên vi Long Biên (建安二十三年立州之始蛟龍蟠边於水南北二津故改龍淵为龍編) ”. (nghĩa là: Kiến An năm thứ 23 (Đời Hán Hiến Đế (218) - Tg) bắt đầu lập châu, giao long chầu hai bên bờ phía nam, bắc nên đổi Long Uyên thành Long Biên(3). Sách Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm (御批歷代通鑑集覽) biên soạn đời Càn Long bổ sung đoạn viết về Lư Tuần(4) và địa danh Long Biên như sau: “Tuần lũ bại, toại bôn Giao Châu chí Long Biên” (Chú: Hậu Hán Thư, Quận Quốc chí, Giao Chỉ trị Long Biên. Thủy Kinh chú, lập châu chi thủy, giao long bàn biên vu thủy nam, bắc nhị tân, cố danh” (循 婁 敗 遂 奔 郊 州 至 龍 編 (: 後 漢 書 郡 國 誌 郊 址 治 龍 編 水 經 注 立 州 之 始 郊 龍 蟠 边于 水 南 北 二 津 故 名) (Lư) Tuần mấy lần bị đánh bại, bèn chạy sang Giao Châu đến Long Biên (chú: Hậu Hán thư, phần Quận quốc chí ghi: Giao Chỉ lấy Long Biên làm sở trị. Thủy kinh chú (ghi): Ban đầu lập châu, giao long chầu hai bên bờ nam, bờ bắc của sông, nên đặt tên gọi).

Cả hai sách Thủy kinh chú (水經注) và Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm đều giải thích việc đổi tên gọi “Long Uyên” (giao long ở vực/ sông sâu) thành “Long Biên” (giao long ở bên vực/sông) dựa theo hiện tượng cảnh quan môi trường mà định tên gọi. Cách đặt tên gọi trên gọi là từ nguyên học dân gian. Tuy nhiên, hai cuốn sách trên lại không cho biết cụ thể việc đổi tên đó được tiến hành vào thời gian nào và do ai đổi ?. Theo sự khảo cứu của cụ Trần Văn Giáp thì sách: Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm có thể sẽ cho chúng ta hiểu lầm sự thay đổi ấy có từ đời Hán(5). Thực ra, không phải thế. Đọc lời khảo cứu của Lê Quý Đôn, ta mới thấy rõ: Sự thay đổi ấy mới có từ đời Đường; mà nhất là trong lời văn của Nhan Sư Cổ và Chương Hoài, Thái tử Lý Hiền. Sư Cổ (tức Nhan Sư Cổ), người sống vào đời Đường có làm chú thích hai bộ Hán thư của Ban Cố đã nói: Chữ “Uyên” là tên húy vua nhà Đường(6), cho nên Sư Cổ, Chương Hoài đổi làm “Long Biên”)(7).

Như vậy, căn cứ vào việc đổi tên gọi “Long Uyên” thành “Long Biên” trong phần chú thích sách Hán thư của Sư Cổ - Nhà Huấn hỗ học đời Đường là cách thay đổi tên gọi theo lối tỵ húy. Dù thay đổi tên gọi, giải thích tên gọi theo kiểu từ nguyên học dân gian theo cách giải thích của sách Thủy kinh chú và sách Ngự phê lịch đại thông giám tập lãm hay cách lý giải của Nhan Sư Cổ, Chương Hoài, Thái Tử Lý Hiền hoặc giải thích sự thay đổi tên gọi do kiêng húy thì tên gọi: Long Uyên rồi sau này là Long Biên đều có ý nghĩa riêng của nó.

Ta hãy trở lại với hình vẽ cá sấu khắc nổi trên viên gạch xám thời Đại La (tương đương với niên đại thời Đường - Trung Quốc) mới phát hiện trong Khu khai quật Hoàng Thành Thăng Long có liên quan gì với những ghi chép trong thư tịch đã dẫn? Giao Long được đề cập đến trong các thư tịch cổ Trung Quốc, ở khu vực Long Uyên/ Long Biên) có phải liên quan gì đến hình khắc nổi cá sấu trên gạch thời Đại La ?. Theo Hán - Việt tự điển của Thiều Chửu giải thích: “Giao (Jiào); là con thuồng luồng(8). Từ điển Việt - Pháp, mục Cá Sấu ghi chữ tiếng Pháp là: (crocodile)(9), mục từ “thuồng luồng” cũng giải thích tên gọi tương tự là crocodile(10). Từ điển Pháp - Việt(11) cũng đều ghi: crocodile (cá sấu). Như vậy tên gọi: Giao long - Thuồng luồng - Cá sấu chính là một. Hình ảnh Cá sấu trên viên gạch thời Đại La có thể được gọi bằng tên gọi khác là con Giao long (hay con Thuồng luồng).

2. Xác định loại hình tên gọi của cá sấu khắc trên viên gạch Đại La

Loài cá sấu có nhiều loại. Cá sấu khắc nổi trên viên gạch Đại La này thuộc loại cá sấu nào ?. Qua quan sát, người xem dễ nhận ra ngay rằng con cá sấu này có mõm nhọn và khá dài so với phần đầu còn lại của chúng (xem ảnh). Chúng ta hãy tham khảo đôi chút tư liệu về loài động vật đặc biệt này, qua đó để biết thêm về sự phân bố và đời sống môi trường của chúng:

Cá sấu là loài bò sát lớn ưa thích môi trường nước, chúng sống trên một diện tích rộng của khu vực nhiệt đới của châu Phi, châu Á, Bắc Mỹ, Nam Mỹ và châu Đại Dương. Cá sấu có xu hướng sinh sống ở những vùng sông và hồ có nước chảy chậm, thức ăn của chúng khá đa dạng, chủ yếu là động vật có vú sống hay đã chết cũng như cá. Một số loài, chủ yếu là cá sấu nước lợ ở Úc và các đảo trên Thái Bình Dương, được biết là có khả năng bơi ra xa ngoài biển(12).

Các loài cá sấu lớn nhất, cũng là các loài bò sát lớn nhất trên trái đất là cá sấu nước mặn, sinh sống ở khu vực miền bắc Úc và trong suốt khu vực Đông Nam Á. Một điều gây nhầm lẫn là ở miền bắc Úc đôi khi người ta gọi cá sấu nước mặn là alligator (cá sấu alligator) trong khi nó không phải là như thế và loài cá sấu nước ngọt nhỏ hơn thì gọi là crocodile (cá sấu). Điều này có lẽ là do cá sấu nước ngọt có mõm dài nhìn rất giống cá sấu sông Nin thu nhỏ, trong khi cá sấu nước mặn có thể rất giống với cá sấu alligator Mỹ ít nguy hiểm hơn nhiều. Vì thế khi người Úc nói Alligator Rivers để chỉ cá sấu ở vùng lãnh thổ phía bắc thì trên thực tế nó là cá sấu nước mặn. Đây là giải thích cho việc những người Mỹ đôi khi cho rằng cá sấu alligator là những động vật nguy hiểm chứ không phải cá sấu. Cá sấu là bất kỳ loài nào thuộc về họ Crocodylidae (đôi khi được phân loại như là phân họ Crocodylinae). Thuật ngữ này cũng được sử dụng một cách lỏng lẻo hơn để chỉ tất cả các thành viên của bộ Crocodilia (bộ Cá sấu): bao gồm cá sấu đích thực (họ Crocodylidae), cá sấu mõm ngắn (chi Alligator, họ Alligatoridae) và cá sấu caiman (các chi Caiman, Melanosuchus, Paleosuchus, họ Alligatoridae) và cá sấu sông Hằng (họ Gavialidae).

Qua đoạn giới thiệu về các loài cá sấu, đối chiếu với hình ảnh tư liệu khảo cổ thực tế phát hiện được gắn với môi trường nước ngọt miền Hà Nội ngập trũng, đầm lầy ven sông Hồng có thể cho phép chúng ta đoán định rằng: hình ảnh cá sấu khắc nổi trên viên gạch Đại La trên chính là loài cá sấu mõm dài, sống ở môi trường nước ngọt, giống cá sấu sông Nin(13) thu nhỏ, rất dữ tợn và nguy hiểm.

Ở miền Bắc nước ta, trong thời gian gần đây việc phát hiện được cá Sấu là điều hết sức hy hữu. Tháng 2/1960, nhân đào ao tại phần đất nhà ông Bùi Trọng Riễu, Xóm 1, thôn An Lạc, xã An Vinh, huyện Phù Dực (nay là Quỳnh Phụ) Thái Bình tìm thấy được một xương động vật lạ. Các GS. Đào Văn Tiến, Mai Đình Yên đã nghiên cứu và cho chúng ta biết bộ xương tuy không còn nguyên vẹn nhưng vẫn còn những phần khá quan trọng để định loại như hộp sọ, xương hàm trên, xương mũi và một số mảnh hàm dưới đã vỡ và một số răng, xương chi, xương sống. Theo nghiên cứu, các tác giả cho rằng bộ xương này có hình thái gần với nhóm cá sấu sống ở môi trường nước mặn là cá sấu Tomistoma. Nhóm cá sấu này đã tồn tại ở Nhật Bản vào thời Plesitocene và hiện còn sống trên một số quần đảo Indonesia. Vị trí bộ xương tìm thấy ở độ sâu 2m, ở dưới có những vỏ sò, ốc. Điều này cho thấy tầng đất này có liên quan đến vùng cửa sông ven biển. Niên đại nó thuộc Holocene (Thế Toàn tân), với niên đại vào khoảng 11.550 năm trước (9.600 năm TCN). Tác giả đi đến khẳng định: Sự có mặt của cá sấu ở vùng cửa biển thuộc đồng bằng Bắc Bộ là một sự kiện lạ trong khoa học vì ở Việt Nam từ xưa đến nay chỉ có nhóm cá sấu Xiêm sống ở Nam Bộ, loài này không vượt qua vĩ tuyến 18. Con cá sấu này có thể đã trôi dạt vào vùng đất này từ biển đông(14). Xét trong điều kiện môi trường vùng cửa sông Thái Bình với những tư liệu thư tịch như đã nói ở trên thì việc xuất hiện loài cá sấu sống trong môi trường nước ngọt là không hợp lý. Nhưng cách ngày nay hơn một ngàn năm về trước, tại miền Đại La (sau này là Thăng Long - Hà Nội) - miền đầm lầy, ngập trũng này đã từng tồn tại một loài cá sấu mõm dài, sống ở môi trường nước ngọt. Cho đến ngày nay, loài cá sấu nước ngọt còn được nuôi trở thành một nghề khá phổ biến và đưa lại giá trị kinh tế cao. Chúng ta còn biết, cá sấu còn trở thành món ăn được dùng trong cung đình. Qua cứ liệu khảo cổ học đã tìm thấy di vật động vật trong nền nhà Sở Thượng thiện - Đại nội Huế. Con vật không phải là hiến tế vì xương bị đập nát để lấy tủy ăn, các nhà khảo cổ học tìm thấy các lớp thú (Mammalia) như: Họ trâu bò, họ dê, họ hươu nai, họ tê giác, voi, lợn rừng và cả lớp bò sát như: Rùa biển (Chealonia sp) và Cá sấu (Crocodilus sp)(15)

3. Cá sấu trở thành biểu tượng vật linh

Cá sấu được biết đến như là động vật ăn thịt người, chúng vừa bị ghét, vừa được sùng kính và đặc biệt là ở Ai Cập cổ đại khi mà các con cá sấu đã được ướp xác và tôn thờ như là thánh thần. Cá sấu trên bức phù điêu thời kỳ La Mã - Ai Cập Cổ đại đã được tôn sùng như là vị thần linh. Còn ở nước ta, trong các đoạn sử ký (Đặc biệt là phần ngoại kỷ), viết về giai đoạn con người bắt đầu tiến đến khai phá miền đồng bằng ven biển…ghi nhiều chi tiết về sự xuất hiện thủy quái, thuồng luồng hay giao long. Nó dường như trở thành vật linh, vừa là sự sợ hãi của con người. Sách An Nam chí lược của Lê Tắc phần ghi về đất Giao Chỉ có ghi: Vực Bà Lữ Uyên, nước sâu có nhiều thủy quái(16). Ở đây tác giả không cho biết “Thủy quái” là gì, vực Bà Lữ Uyên nay ở đâu ?. Có lẽ “Thủy quái”là chỉ cá sấu (?). Trong một đoạn khác viết về phong tục của người Việt Cổ thời Hùng Vương sách trên cũng cho biết: “Dân hay vẽ mình, bắt chước tục lệ của hai nước Ngô, Việt”(17). Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Người Man ở núi khác với các loài thủy tộc, các thủy tộc ấy ưa cùng loài mà ghét khác loài cho nên mới bị chúng làm hại. Rồi vua bảo mọi người lấy mực vẽ hình thủy quái ở mình. Từ đấy thuồng luồng trông thấy không cắn hại nữa. Tục vẽ mình của người Bách Việt có lẽ bắt đầu từ đấy”(18). Như vậy đoạn trên đã nói rõ hơn và cho ta biết tên gọi loài thủy quái, loài thủy tộc - thuồng luồng là một tên gọi chung. Thời Hùng Vương có tục vẽ mình. Hình vẽ đó chính là hình cá sấu.

Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi rõ vào thời Trần sai Học sĩ Hàn Thuyên làm bài văn tế Nôm theo lối thơ của Hàn Dũ(19) để đuổi cá sấu trên sông Hồng. Tư liệu trên cũng không cho biết thêm lý do phải đuổi loài cá này đi là do đâu, có phải là do loài cá này khi đó là một tai họa, nỗi kinh hoàng của người dân hay không (?). Bài văn đó chắc hẳn cũng không còn, vì khi đọc xong đã hóa xuống sông. Bài văn tế cá sấu đang lưu truyền hiện nay, theo nhiều nhà nghiên cứu điệu văn rất mới, không phải văn Nôm thời Trần. Điều chúng ta quan tâm ở đây là vào thời Trần trên sông Hồng xuất hiện cá sấu. Sử chép: “Bấy giờ có cá sấu đến sông Lô (Sông Hồng). Vua sai Hình bộ Thượng thư Nguyễn Thuyên làm bài văn tế ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua cho là việc này giống như việc của Hàn Dũ, bèn ban gọi Hàn Thuyên(20). Sau thời Trần, trong chính sử hầu như không còn nhắc đến sự kiện xuất hiện cá sấu nữa. Nhưng trong Bình Ngô Đại cáo - Một thiên cổ hùng văn, Nguyễn Trãi còn nhắc đến nỗi khổ của người dân dưới ách đô hộ của quân Minh phải xuống biển mò trai, tìm ngọc làm mồi cho thuồng luồng, cá sấu:

“Kẻ tìm vàng phá núi đào bùn, lặn lội lam chướng

Người mò ngọc giăng dây quăng biển, làm mồi lũ giao long”(21)

Như vậy, hình ảnh cá sấu được khắc nổi trên gạch thời Đại La (niên đại TK VII - IX) thực sự là hình ảnh mang tính bản địa phản ánh môi trường cảnh quan của vùng Đại La (sau này là Thăng Long). Trong một thời gian khá dài, loài cá sấu đã sinh sống ở đây. Nó vừa là nỗi lo sợ, ám ảnh, rồi trở thành sự sùng kính trong tâm thức, đời sống văn hóa tinh thần của người dân. Do đó nó đã thấm vào nhiều hoạt động của đời sống văn hóa dân gian và văn hóa cung đình: Tục vẽ mình, làm văn tế đuổi cá sấu, rồi hình ảnh cá sấu đi vào hội họa, nghệ thuật điêu khắc của An Nam đô hộ phủ thời Đại La…

 

Chú thích:

(1) Phạm vi huyện Long Biên thời Bắc thuộc cũng như về sau là một phạm vi rất rộng… Bia Hưng Phúc tự bi phát hiện ở thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Lâm, Hưng Yên, được khẳng định đây là văn bia thời Trần có ghi vào thời điểm xây dựng ngôi chùa này là năm 1351 thuộc huyện Long Biên, xứ Kinh Bắc. Long Biên như vậy có thể là đất đai của các huyện Tiên Du, Yên Phong, Gia Lâm và cả Văn Lâm nữa (Xem Phạm Thùy Vinh/ Văn bia thời Trần chùa Hưng Phúc và địa danh hành chính huyện Long Biên, Những phát hiện mới về Khảo cổ học (NPHMVKCH), 2003, tr.553,554.

(2) Tư trị thông giám bổ, quyển 116, Tấn kỷ, tập 36, tờ 4.

(3) Long Uyên (có nghĩa là: Giao long ở dưới vực/ sông sâu), Long Biên (Giao Long ở bên vực/ sông sâu).

(4) Viết về cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần có bài của GS. Hà Văn Tấn/ Viên gạch có chữ trong ngôi mộ thời Nam Tề và cuộc khởi nghĩa của Lư Tuần, NPHMVKCH, 2001, tr.711, 712, 713.

(5) Lê Quý Đôn/ Vân đài loại ngữ (Trần Văn Giáp biên dịch và khảo cứu, Trần Văn Khang làm sách dẫn; Cao Xuân Huy hiệu đính và giới thiệu), Tập I, Nxb. Văn học, 1962, tr.151.

(6) Đường Cao Tổ họ Lý tên là Uyên, tự là Thúc Đức, người Lũng Tây.

(7) Lê Quý Đôn/ Vân đài loại ngữ, Sđd, tr.152, 153.

(8) Thiều Chửu/ Hán Việt tự điển, Nxb. Thanh niên, 2004, tr.726.

(9) Lê Khả Kế- Nguyễn Lân/ Từ điển Việt- Pháp, Nxb. KHXH, H. 1994, tr.156.

(10) Lê Khả Kế- Nguyễn Lân/ Từ điển Việt - Pháp, Sđd, tr.1385.

(11) Từ điển Pháp - Việt (Lê Khả Kế (Cb), Nguyễn Lân, Nguyễn Đức Bính, Đồng Sĩ Dương, Đoàn Nồng, Phạm Văn Xung, Nguyễn Quát, Vũ Đình Liên (Biên soạn), in lần thứ 3, có sửa chữa và bổ sung, Nxb. KHXH, H, 1992, tr.514.

(12) http://WWW.google.com.vn

(13) Một con cá sấu sông Nile trưởng thành có thể dài tới 6m và nặng 730 kg. Kích thước trung bình vào khoảng 5m và nặng 225 kg. Chúng sống ở khắp châu Phi, nhất là các vùng cận Sahara và lưu vực sông Nile, các đầm lầy nước ngọt và nước lợ.

(14) Vũ Thế Long/ Về bộ xương cá xấu ở Thái Bình, NPHMVKCH, 2002, tr.39, 40.

(15) Vũ Thế Long: Di vật động vật trong nền nhà sở Thượng Điện - Đại nội Huế, NPHMVKVH, 2000, tr.667-670.

(16) Lê tắc/ An Nam chí lược. Chương Thâu dịch và khảo cứu, Nxb. Lao động, Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2009, tr.55

(17) Lê tắc/ An Nam chí lược, Sđd, tr.68.

(18) Đại Việt sử ký toàn thư, Ngoại kỷ, quyển I, Kỷ Hồng Bàng thị, tờ 3b, (Bản dịch, tập I, Nxb. KHXH, 1998, tr.133).

(19) Hàn Dũ: Tự là Thối Chi, người Nam Dương, Trịnh Châu, đời Đường, có tài thơ văn. Tương truyền rằng: khi làm quan ở Triều Châu, thấy nơi đó có nhiều cá sấu. Hàn Dũ làm bài văn tế cá sấu ném xuống nước, cá sấu liền bỏ đi hết.

(20) Đại Việt sử ký toàn thư, bản kỷ toàn thư, quyển V, Kỷ nhà Trần, tờ 41b, Bản dịch, Tập II, Nxb KHXH, H. 1998, tr.47.

(21) Đại Việt sử ký toàn thư, Bản Kỷ toàn thư, QX, tờ 48b, Nxb. KHXH. H. 1998; Bd, T2, tr.283./.

(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.580-589)


 

Nguyễn Quang Hà
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm