17. Tấm bia Hương vũ ký thôn Gia Quất, xã Thượng Thanh, huyện Gia Lâm, Hà Nội (TBHNH 1997)
TẤM BIA HƯƠNG VŨ KÝ THÔN GIA QUẤT,
XÃ THƯỢNG THANH, HUYỆN GIA LÂM, HÀ NỘI
MAI XUÂN HẢI
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Văn bia là loại hình văn học phổ biến ở hầu hết mọi miền trên mảnh đất Việt Nam dưới thời phong kiến. Trước đây, đến bất kỳ một làng quê Việt Nam nào, chùa, đền, miếu, lăng mộ, văn chỉ, nhà thờ họ… chúng ta đều bắt gặp ở rải rác đâu đó, những nơi trang trọng bên trong hay bên ngoài khuôn viên di tích có những tấm bia đá.
Có thể nói, đây là những trang sử đá, nhưng trang “thực lục” của địa phương, ghi lại những tấm gương “người thật việc thật”, “người tốt việc tốt” để “phương danh công đức”, để nêu những tấm gương làm việc thiện của muôn đời sau chiêm ngưỡng và học tập.
Thôn Gia Quất, xã Thượng Thanh, huyện Gia Lâm, ở ngay cửa ngõ phía đông của thủ đô Hà Nội. Thời Hậu Lê thuộc xã Gia Quất, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An là một làng quê bình thường như bao làng quê khác ở đồng bằng Bắc Bộ. Từ xưa, nơi đây cũng có “đủ các cơ sở tôn giáo như đình, chùa, văn chỉ v.v.., và cũng có dựng những tấm bia gắn liền với những sự kiện xẩy ra ở địa phương mình. Trải qua bao phen binh hỏa, vật đổi sao dời, đình Gia Quất nay không còn, chùa bị hư hại nay mới được tu sửa lại. Nhưng nhờ ở chất liệu bằng đá bền vừng thiên thu, nhờ ở ý thức giữ gìn, bảo tồn văn hiến cổ, quê hương Gia Quất đến nay vẫn còn giữ được một cụm bia đá, gồm 11 tấm, có niên đại từ Cảnh Trị 9 (1671) đến Tự Đức 12 (1859), và gần đây đã được nhân dân trong khi cuốc bờ trồng rau đã đào được gom về, tập trung ở sân chùa Sùng Phúc trong thôn.
Đây là những tấm bia quý, nhưng trang “thực lục” bằng đá của địa phương, phản ánh nhiều mặt sinh hoạt cộng đồng, nhiều câu chuyện tốt đẹp, về những con người hiền lương, có hằng sản hằng tâm đã không tiếc của cải, không tiếc cả sinh mệnh mình để đóng góp cho lợi ích chung của xóm làng, được mọi người tưởng nhớ công ơn mà khắc vào bia đá.
Qua những tấm bia này, chúng ta mới được biết, vào thế kỷ 17, nơi đây có một Hoa kiều là Trần Văn Huệ lấy vợ là bà họ Hoàng người làng Gia Quất, đã bỏ ra 38 lạng vàng để mua ruộng cấp cho quê vợ, nên vợ chồng ông được dân làng bầu làm Hậu thần, được phối thờ ở sau đức Bản thổ đại vương (bia Tự sự bi ký, Cảnh Trị 9, 1671); Mới được biết vào đầu thế kỷ 18, ở thôn Thượng, xã Gia Thị (tức xã Gia Quất) có bà Bành Thị Trá đã bỏ ra 250 quan đóng góp cho xã, được dân xã bầu làm Hậu thần (bia Tòng tự Hậu thần bi, Toàn xã đồng lập ước văn, Vĩnh Thịnh 7, (1711), Hay như vào năm Tự Đức 12 (1859) có người bản xã là ông Hoàng Đức Mĩ cùng vợ là Hoàng Thị Việt đã bỏ ra số tiền là 100 quan, để giúp vào việc trung tu ngôi chùa Phật ở bản xã. Trước đó vào năm Tự Đức 11 (1858), do việc phu dịch tu sửa đê điều nặng nề, lại đúng lúc dân gặp cảnh đói kém, ông bà đã bỏ ra 10 quan tiền, lại còn khuyến khích con rể là Phạm Đức Chỉnh và con gái là Hoàng Thị Dật bỏ thêm ra 200 quan tiền nữa để giúp dân xã dùng vào việc hoàn thành việc đắp đê, nên đã được dân làng tưởng nhớ công đức bầu làm Hậu Phật (bia Hậu Phật bi ký, Bản xã khoán lệ, Tự Đức 12 (1859) v.v… Chúng tôi xin lưu ý thêm về giá trị tấm bia này còn ở chỗ do chính Nguyên Văn Siêu (1796-1872) một danh sĩ Bắc Hà, một nhà văn, nhà thơ Việt Nam nổi tiếng thế kỷ 19, tề danh cùng với Cao Bá Quát soạn, khi đang làm Án sát sứ Hưng Yên.
Điều mà chúng tôi muốn nói thêm ở đây về cụm bia Gia Quất này là tấm bia Hương vũ bi ký (Cảnh Hưng 11-1850). “Hương vũ bi ký” có nghĩa là “Người dũng cảm trong làng” (một danh hiệu cao quí mà dân làng ban tặng cho một người dân làng bình thường đã dũng cảm hy sinh khi chống lại bọn cướp. Chuyện kể rằng, đêm ngày 23 tháng 10 năm Kỷ Tỵ (1748), bản xã bị bọn cướp đột nhập cướp bóc của cải. Người đầu tiên trong xã xông vào chống lại bọn cướp là Nguyễn Văn Huấn. Ông bị trọng thương, đến ngày 25 thì qua đời. Bản xã thương xót, ban tặng cho danh hiệu “Hương vũ” (người dũng cảm trong làng), chọn nơi đất thanh tịnh lập miếu thờ. Hàng năm vào ngày ông mất đều tổ chức cúng giỗ để an ủi vong hồn ông. Lại nữa dân làng thấy ông còn mẹ gia, vợ góa, không có con thừa tự, nên đã chi cho ông 8 sào ruộng tại địa phận bản xã, cùng 20 quan cổ tiền, giao cho bản xã nhận sổ tiền và ruộng đó để lo việc cúng giỗ. Cuối bia có chữ ký của các vị xã thôn trưởng, khán thủ cùng mọi người già trẻ, lớn bé trong cả xã.
Đây là một nết đẹp trong đạo đức truyền thống Việt Nam. Đó là biết ghi nhớ công ơn và biểu dương những người đã biết làm việc thiện, vô tư đóng góp vì lợi ích cộng đồng, có khi hy sinh cả tính mạng của mình. Đúng như trong một bài văn bia ở Gia Quất đã nói: “Người nào có công với dân thì mọi người sẽ ghi nhớ thờ tự” (Vi thiện ư kỹ, thiên tất giáng dĩ tường; Hữu công ư dân, nhân tất tự tư chi – Bia Tòng tự Hậu thần bi). Hoặc như một bài văn bia Hậu Phật bi ký, do Cử nhan khoa bính Ngọ là Tô Xuân Hiên soạn năm Tự Đức 3 (1850) đã nói: “Văn là để ghi chép sự việc, bày tỏ rõ ràng để không bao giờ quên được. Ấy là để không làm mai một bản chất tốt đẹp của con người, và còn để khuyến khích điều tốt đẹp trong tương lại nữa” (Văn dĩ ký sự thị bất vong dã. Cái bất một nhân chi thiện nhi sở dĩ vi tương laii chi thiện giả khuyến).
Những điều thiện nêu trong bia thật phong phú đa dạng. Nào là bỏ tiền dựng chùa, sửa đình, xây cầu, làm đường, cũng là các việc đỡ đần gánh nặng đê điều, phu phen tạp dịch cho dân. Nhưng hiếm thấy có tấm bia nào mà cả xã từ các chức dịch tới mọi người lớn bé già trẻ đồng thanh nhất trí ghi nhớ cong lao của một người dân làng bình thường do góp phần bảo vệ trật tự an ninh trong làng, đánh cướp bị hy sinh, rồi ban cho danh hiệu cao quý là “Hương vũ” lại dựng miếu thờ, cấp ruộng cấp tiền, quy định thể lệ, cúng giỗ hàng năm rồi dựng bia biểu dương.
Đây là một nét đẹp đạo đức truyền thống đáng được xã hội ta ngày nay học tập để biểu dương những công dân, những chiến sĩ công an trong công cuộc giữ gìn, bảo vệ an ninh Tổ quốc đã anh dũng hy sinh, như các chiến sĩ công an “Lê Thanh Á” (Hải Phòng), “Nguyễn Văn Ngữ” (Hà Nội) trong thời gian gần đây.
Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu toàn bộ phần phiên âm và dịch nghĩa tấm bia này do bạn Đỗ Bích Tuyển dịch và đã được người viết bài này hiệu đính.
Phiên âm HƯƠNG VŨ BI KÝ
Thuận An phủ, Gia Lâm huyện, Gia Quất xã quan viên xã thôn trưởng Phạm Đức Tục, Hoàng Đức Huy, Nguyễn Đăng Châu, Nguyễn Văn Bát, Nguyễn Đình Quán, Hoàng Đức Đôn, Phạm Vũ Thản, Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Đắc Sinh, Hoàng Đức Đông, Hoàng Văn Phương, Đặng Bá Ninh, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Văn Trong, Nguyễn Quảng Trúc, Nguyễn Đăng Thọ, Nguyễn Duy Năng, Phạm Văn Tăng, Nguyễn Năng Quy, Nguyễn Công Huân, Hoàng Đức Nguyên, Nguyễn Quảng Kê, Lê Văn Trương, Nguyễn Quảng Lộc, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Đức Quyền, Cao Đôi Tuân, Nguyễn Như Lộc, Phạm Đức Dần, Phạm Như Khuê, Nguyễn Văn Đã, Nguyễn Đình Vân, Nguyễn Hữu Quản, Phạm Văn Tông, Nguyễn Văn Gà, Nguyễn Văn Miễn, Trần Diệu Kim, Nguyễn Văn Thực, Nguyễn Văn Trâm, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Cần, Nguyễn Bá Doãn, Nguyễn Văn Trực, Nguyễn Văn Quản, Nguyễn Văn Yên, đồng xã thượng hạ cự tiểu đẳng trí lập bi ký.
Do ư Kỷ Tỵ niên, thập nguyệt nhị thập tam dạ, bản xã bị kiếp đồ đột nhập, lược thủ tài vật nhiên… Nguyễn Văn Huấn tiên đăng kháng cự trọng bị thương tích, chí nhi thập ngũ nhật quá cố, kỳ bản xã đẳng mẫn kỳ gia hữu… tức vị trừ địch khái, tử phi kỳ mệnh. Tuy hữu điền sản chúc phú tòng nhân kí bất túc dĩ quảng kỳ hậu tự, hữu vô dĩ thù kỳ tiền công. Nhân cộng hợp đồng xã lão thiếu đẳng, tứ hiệu, “Hương vũ”, trạch bản xã thôn thổ phụ tịnh xứ lập tự. Đệ niên kỵ nhật, trí tế úy u hồn, hựu bỉ hữu mẫu tịnh thê, niệm kỳ vô tự, dẫn bỉ dĩ phân điền tại bản xã địa phận đền bát cao, tịnh bỉ cổ tiền nhị thập quán, phó dữ bản xã khất nhậm thủ, bỉ tiền quán biện tống táng tịnh, điền phân canh chủng. Đệ niên kị nhật thủ mỗi cao cổ tiền tam mạch cộng cổ tiền nhị quán, tứ mạch, mãi trư nhất khẩu, xuy nhị bàn, kim ngân nhất bách, minh ý nhất lĩnh, phạn nhất bát, tửu phù lưu đương túc dụng, … vi lễ. Tế tất, phân dữ bị tộc, trư nhất thủ, tồn dư bản xã quân phân ẩm tửu. Nhược bỉ hậu nhật bản xã phế khiếm bỉ kị, kỳ giá điền tịnh tiền… bị tộc nhận thủ canh chủng tế tự vu bi.
Kê:
- Nhất sở Mả Thuyền xử, điền tứ sào.
- Nhất sở Cửa Làng xứ, tam thửa, điền tứ sào.
Hoàng triều Cảnh Hưng vạn vạn niên chi thập nhị, tuế tại Tân Mùi, mạnh đông cốc nhật lập từ.
- Xã trường Nguyễn Đăng Thư kí.
- Xã trưởng Nguyễn Đăng Châu kí.
- Xã trưởng Phạm Đức Tục kí.
- Xã trưởng Phạm Như Khuê kí.
- Thôn trưởng Nguyễn Quảng Trúc kí.
- Xã trưởng Nguyễn Hữu Quản kí
- Xã trưởng Phạm Kim Đỉnh kí.
- Thôn trưởng Nguyễn Công Huân kí.
- Thôn trưởng Nguyễn Đắc Sinh kí.
Đồng xã thượng hạ đẳng cộng kí.
Dịch nghĩa BÀI KÝ BIA “HƯƠNG VŨ”
Các vị quan viên, xã thôn trưởng xã Gia Quất, huyện Gia Lâm, phủ Thận An là: Phạm Đức Tục, Hoàng Đức Huy, Nguyễn Đăng Châu, Nguyễn Văn Bát, Nguyễn Đình Quán, Hoàng Đức Đôn, Phạm Văn Thản, Nguyễn Văn Trì, Nguyễn Đức Sinh, Hoàng Đức Đông, Hoàng Văn Phương, Đặng Bá Ninh, Nguyễn Văn Hoàng, Nguyễn Văn Trong, Nguyễn Quảng Trúc, Nguyễn Đăng Thọ, Nguyễn Duy Năng, Phạm Văn Tăng, Nguyễn Năng Quy, Nguyễn Công Huân, Hoàng Đức Nguyên, Nguyễn Quảng Kê, Lê Văn Trượng, Nguyễn Quảng Lộc, Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Đức Quyền, Cao Đôi Tuân, Nguyễn Như Lộc, Phạm Đức Dần, Phạm Như Khuê, Nguyễn Văn Đã, Nguyễn Đình Vân, Nguyễn Hữu Quản, Phạm Văn Tông, Nguyễn Văn Miễn, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Đình Thích, Nguyễn Văn Gà, Trần Diệu Kim, Nguyễn Văn Thục, Nguyễn Văn Trâm, Nguyễn Văn Tường, Nguyễn Văn Cầu, Nguyễn Bá Doãn, Nguyễn Văn Trực, Nguyễn Văn Quản, Nguyễn Văn Yên cùng mọi người lớn bé trên dưới trong xã lập bia ghi việc.
Số là đêm 23 tháng 10 năm Kỷ Tỵ, bản xã bị bọn cướp đột nhật cướp bóc của cải, có người trong xã là Nguyễn Văn Huấn xông vào chống lại bọn cướp đầu tiên, bị trọng thương, đến ngày 25 thì qua đời. Bản xã ai nấy đều thương xót. Ông vì trừ giặc mà chết, lại chết không phải là do số mệnh (tử phi kỳ mệnh). Tuy số ruộng đất đã có di chúc giao phó lại cho người thân, nhưng đã không đủ để lo việc thờ cúng ông về sau, lại không đủ để đền báo đền công lao của ông lúc trước. Vì thế mọi người già, trẻ toàn xã ban tặng cho ông danh hiệu là “Hương vũ” (người dũng cảm trong làng) và chọn nơi đất thanh tịnh trong bản thôn để lập đền thờ ông. Hàng năm vào ngày mất đèu tổ chức cúng giỗ để an ủi vong hồn ông. Lại nữa, ông còn mẹ già vợ góa, nghĩ đến tình cảnh ông không có con thừa tự nên đã chia ruộng cho gia đình ông tại địa phận bản xã là 8 sào cùng món cổ tiền là 20 quan, giao cho bản xã. Bản xã xin nhận giữ số tiền cổ ấy để lo việc tang ma và nhận phần ruộng để lo việc cầy cấy.
Hàng năm, vào ngày giỗ, mỗi sào thu số cổ tiền là 3 mạch, tổng cộng là 2 quan 4 mạch để mua lợn 1 con, xôi 2 mâm, vàng mã 100 tờ, quần áo giấy 1 bộ, cơm 1 bát, trầu cau, rượu đủ dùng để làm giỗ. Cúng xong, đem chia cho dòng họ củ ông một thủ lợn, còn bao nhiêu bản xã chia đều ăn uống. Nếu sau này bản xã lơ là, bỏ bề việc cúng giỗ này, thì số ruộng và tiền ấy sẽ phải giao lại cho dòng họ ấy nhận lại trồng cấy và cúng giỗ trước bia.
Kê:
- Một thửa 4 sào ở xứ Mả Thuyền.
- Một thửa 4 sào ở xứ Cửa Làng.
Ngày lành tháng mạnh đông (tháng 10) năm Tân Mùi, niên hiệu Cảnh Hưng 11 (1750).
- Xã trưởng Nguyễn Đăng Thư kí.
- Xã trưởng Nguyễn Đăng Châu kí.
- Xã trưởng Hoàng Đức Huy kí.
- Khán thủ Phạm Như Khuê kí.
- Thôn trưởng Nguyễn Quảng Trúc kí.
- Xã trưởng Nguyễn Hữu Quản kí.
- Xã trưởng Phạm Kim Đỉnh kí.
- Thôn trưởng Nguyễn Công Huân kí.
- Thôn trưởng Nguyễn Đắc Sinh kí.
Cùng mọi người trên dưới cả xã kí tên.
Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.141-149)