17 . Vài nét về bài Đối văn thi Đình trả lời về Phật pháp của Trạng nguyên Lê Ích Mộc (1458-1538) (TBHNH 1998)
VÀI NÉT VỀ BÀI ĐỐI VĂN THI ĐÌNH
TRẢ LỜI VỀ PHẬT PHÁP CỦA
TRẠNG NGUYÊN LÊ ÍCH MỘC (1458-1538)
MAI XUÂN HẢI
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Theo chính sử, vào năm Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống thứ 5 (1502), mùa xuân tháng 2, nhà vua tổ chức thi Hội các Cử nhân trong nước. Số đi thi là 5000 người, lấy đỗ bọn Trần Dực 61 người. Bộ Lại kê tên tâu lên, Vua thân ra đầu bài văn sách, hỏi về đế vương trị thiên hạ… các quan Lễ bộ Thượng thư Đàm Văn Lễ, Lễ bộ Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thị độc Nguyễn Bảo. Lễ bộ Tả thị lang kiêm Đông các học sĩ Lê Tuấn Ngạn, Quốc Tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Quốc Tử giám Tế tửu Hà Công Trình, Tư nghiệp Hoàng Bồi, Thái thường Tự Khanh Nghiêm Lâm tiến đọc quyển thi. Vua xem xong, cho bọn Lê Ích Mộc (người xã Thanh Lãng, huyện Thuỷ Đường khi trước làm Đạo sĩ) Lê Sạn, Nguyễn Văn Thái 3 người đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ, bọn Nguyễn Cảnh Diên, Lê Nhân Tế 24 người đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Khiêm Bính, Nguyên Mậu 34 người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân. Vua ngự ở điện kính thiên, Hồng lô tự truyền loa xướng danh. Vua sai bộ Lễ bưng bảng vàng ra, đem treo ở cửa nhà Thái học, (trước đây bảng vàng treo ở cửa Đông Hoa). Bảng vàng treo ở cửa nhà Thái học bắt đầu từ đây. (ĐVSKTT tập 4, tr.30-31, H. 1973).
Như vậy, khoa thi này, triều đình lấy đỗ 61 người có đủ cả Trạng nguyên, Bãng nhãn, Thám hoa (Lê Ích Mộc, Lê Sạn, Nguyễn Văn Thái) và 58 vị Tiến sĩ (trong đó có Hoàng giáp Nguyễn Cảnh Diên). Theo sử sách, Lê Ích Mộc đỗ Trạng nguyên năm 44 tuổi, làm quan đến chức Tả thị Lang, về trí sĩ. Sử còn chép ông xuất thân là Đạo sĩ. Trong lễ xướng danh, Vua sai ông tuyên đọc lời chế thư, bưng lư đốt hương ra trước, hương cháy bỏng tuột cả tay mà không hề hay biết. Theo Công dư tiệp ký, Lê Ích Mộc tuổi đã cao mà chưa đỗ đạt thì tâm trạng cũng buồn. Ông thường đến chùa Thiên Phúc theo học thầy chùa đọc kinh Phật. Kỳ thi Đình năm ấy, toàn hỏi về Phật. Văn ông ý tứ dồi dào, không bỏ sót tý nào. Kể rằng đề bài ra chín hàng chữ thì ông viết thành 25 trang. Khi duyệt bài, Vua Hiến Tông sửng sốt thốt lên rằng: “Bài văn của Ích Mộc hơn hẳn mấy tầm so với các bạn đồng khoa. Trẫm rất hài lòng duyệt cho người ấy xứng đáng bậc khôi nguyên”. Như vậy, có thể nói, ông là vị Trạng nguyên và duy nhất của huyện Thủy Đường (đời Duy Tân đổi làm huyện Thủy Nguyên thuộc phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương xưa, nay thuộc huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng).
Nhưng có điều chính sử chép đề thi Hội năm ấy là “Vua thân ra đầu bài văn sách hỏi về đế vương trị thiên hạ” nhưng vào thi Đình, vua lại hỏi về Phật pháp. Đó là điều bất ngờ lớn đối với sĩ tử bấy giờ. Thật vậy, chungs ta đều biết, thời Lê Thánh Tông, là thời đại thịnh trị của Nho học. Trải qua gần 1500 năm, tính đến thế kỷ X, nước ta giành được độc lập, học thuật nước ta đã đi từ Phật học (thời Lý), Tam giáo (Nho - Phật - Đạo) thời Trần rồi tới Nho giáo (thời Lê), dường như thời Lê, Nho giáo đã dần dà rồi thay thế Phật giáo. Còn Đạo giáo chỉ chiếm vị trí ở trong dân gian, chưa bao giờ có được vai trò chính thống, được đề cao một thời như Phật giáo, hoặc Nho giáo. Việc giữa lúc cực thịnh của Nho giáo (nửa cuối thế kỷ XV), một ông vua đã dám ra đề thi hỏi về Phật pháp, là một sự bất ngờ lớn đối với đông đảo sĩ tử bấy giờ. Có ai ngờ rằng bao nhiêu đạo lý trị nước hay ho của Nho giáo từ các đời, Nghiêu, Thuấn, Hạ Vũ, Thành Thang, Văn Vương, Vũ Vương, Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử, v.v… Nhà vua lại không hỏi, mà lại hỏi về Phật pháp. Qua đề thi này của nhà vua, ta thấy Lê Ích Mộc được Vua lấy đỗ Trạng nguyên cũng là điểu xứng đáng và dễ hiểu. Bởi sử chép ông vốn là một Đạo sĩ. Mà Đạo giáo tuy là một tôn giáo độc lập đối với Phật giáo, nhưng cũng rất gần gũi với Phật giáo về mặt triết học, về mặt bản thể luận. Cả hai thứ tôn giáo này đều là những tôn giáo nghiên về “hướng nội”, quay vào bên trong để tìm ra quy luật chế ngự, làm chủ chính bản thân mình, sống hài hoà với thiên nhiên và xã hội, chứ không phải là thứ tôn giáo nghiêng về “hướng ngoại”, tìm cách chế ngự, giữ yên xã hội theo đức trị hay pháp trị như Nho giáo. Là Đạo sĩ chắc hẳn ông phải đọc kinh điển Phật giáo nhiều hơn rất nhiều lần so với bất cứ một Nho sĩ nào, vốn chỉ biết đọc sách thánh hiền, chỉ biết nhập tâm kinh điển của thánh hiền như “Tứ thư ngũ kinh”, mở miệng ra là “Từ viết thi vân” để đi thi mong đỗ đạt rồi ra làm quan, cốt mong vinh thân phì gia, chứ rất ít người đọc, nghiên cứu, thậm chí, có khi không hề đọc đến kinh sách của Phật giáo, hay Đạo giáo. Đó là chỗ mạnh, rất mạnh của ông so với các sĩ tử chỉ biết thuần tuý đọc sách Nho, kinh điển Nho. Vì vậy, gặp dịp nhà vua ra đề thi hỏi về Phật pháp, đối với các sĩ tử Nho giáo là một bất ngờ, không may, thì đối với Lê Ích Mộc lại là một dịp may hiếm có, được dịp trổ tài nhả ngọc phun châu, phô bầy quan điểm, kiến thức phong phú của mình về Phật pháp. Chính vì thế, khi nhà vua đọc xong bài văn thi của sĩ tử mà các quan dâng lên cho nhà vua xem duyệt, thì nhà vua đã rất hài lòng, không ngần ngại chấm cho ông đỗ đầu khoa thi này.
Qua phần câu hỏi gần 5 trang (trang dịch), chúng tôi thống kê được đề thi gồm hơn 100 câu hỏi cụ thể, từ những câu hỏi thuộc phần “hình nhi hạ”, (xuất xứ về cha mẹ, anh em, cô dì của đức Phật) tới phần “hình nhi thượng” (triết lý, bản thể luận) của Phật giáo; từ những kiến thức về Phật giáo Ấn Độ, Trung Quốc tới Việt Nam; từ các bộ kinh Phật cho tới các lời chú, v.v… có nhiều câu hỏi như những lời thách đố, như có ngầm ý phê phán Phật giáo có nhiều thuyết đường như hoang đường, quái đản, nhằm đưa người trả lời vào chỗ bí, đi tới từ bỏ ý tưởng lòng tin đối với Phật pháp mà bấy lâu nay mình đã theo đuổi. Những câu hỏi từ đơn giản tới phức tạp, có dễ có khó, không dễ dàng gì mà trả lời ngay được, nếu không nắm vững, không thông hiểu về tri thức Phật học, không có một “phông” văn hóa Phật giáo vững vàng. Qua đó chúng ta cũng thấy rõ và khâm phục tri thức Phật giáo sâu rộng của một ông vua Nho giáo, con trai trưởng của một ông vua đã đưa Nho giáo đến mức cực thịnh nổi tiếng một thời như Lê Thánh Tông.
Đọc phần câu hỏi, chúng ta cũng khâm phục và ngạc nhiên về kiến thức Phật giáo sâu rộng của một ông vua và cả triều đình Nho giáo Lê Hiến Tông (có thể đề thi là do các quan ở Viện Hàn lâm ra giúp vua, nhưng chí ít cũng phải được nhà vua phê duyệt). Chúng ta cũng khâm phục về thái độ mạnh dạn, táo bạo cởi mở của nhà vua dám ra một đề thi, một đề thi Quốc gia ở tầm cỡ cao nhất là thi Đình, một đề thi hỏi về Phật pháp mà nếu so với đề thi Nho giáo chính thống thì hẳn thuộc dị đoan, ngoại đạo, rồi lại một táo bạo nữa là ra đề thi hỏi về Phật pháp đúng lúc Nho giáo đang thịnh hành nhất, tư tưởng, học thuyết của nó đang ngự trị khắp trong triều ngoài nội, đúng lúc nó đang được dịp trổ ra hết sức mạnh của mình (và cũng bắt đầu bộc lộ ra những triệu chứng suy tàn), mà sĩ tử đi thi, hòng mong đỗ đạt, để được ra làm quan sau này, hẳn ai nấy phải đoán giá đoán non rằng nhà vua ắt hẳn là hỏi về đạo trị nước của Nho giáo, bởi đây vốn là điểm mạnh, rất mạnh của Nho giáo, mà các triều đại phong kiến Trung Quốc và Việt Nam trước đây đã từng ứng dụng, vận dụng nó và cũng đã nhiều lần đưa đất nước tới mức được coi là thịnh trị. Đấy là chưa nói tới thái độ táo bạo, cởi mở của một ông vua Nho giáo đã dám lấy đỗ với học vị cao nhất là Trạng Nguyên cho một người có tư tưởng nghiêng về Phật - Đạo, là những học thuyết ở nhiều thời kỳ đã mâu thuẫn kịch liệt với học thuyết Nho giáo, giành giật uy tín, lòng tin trong tâm thức quần chúng với Nho giáo, dám đề bạt chức quan, dù là chưa to - chức Tả thị lang (sử không nói rõ Tả thị lang bộ nào) cho một người khác tư tưởng với triều đình như ông. Chúng ta càng khâm phục, càng ngạc nhiên hơn về bài trả lời cứng cỏi, đánh thép, thẳng thắn có lý có tình, đầy sức thuyết phục, không né tránh bất cứ một câu hỏi nào, thể hiện một nhân cách kẽ sĩ chân chính của quan Trạng Lê Ích Mộc. Ông đã chuểyn từ thế thủ qua thế công, bảo vệ thành công Phật pháp trước những câu hỏi “hóc búa”, dường như thách đố của nhà vua, khiến nhà vua tỉnh ngộ ra, nhận ra chân giá trị của bài văn và cuối cùng, rất hài lòng lấy ông đỗ “Đệ nhất pháp Tiến sĩ Đệ nhất danh” tức danh hiệu Trạng nguyên.
Qua bài văn thi Đình trả lời về Phật pháp của Lê Ích Mộc vào đầu thế kỷ XVI, chúng ta có thể bước đầu rút ra mấy nhận xét sau:
Học thuật nước ta thời phong kiến vốn vẫn là do Tam giáo Nho - Phật - Đạo hợp thành. Có lúc do điều kiện khách quan từng thời kỳ khác nhau, mà một “đạo” nào đó có thể nổi bật lên, dường như chiếm độc tôn, như Phật giáo thời Lý, Tam giáo thời Trần, Nho giáo thời Lê, nhưng thực chất vẫn là “Tam giáo tịnh dụng”, “Tam giáo hòa đồng”, chứ không độ tôn một giáo nào. Bên cạnh Phật có Nho có Đạo, bên cạnh Đạo có Phật có Nho. Thậm chí lúc Nho chiếm thế “thượng phong” (thế kỷ XV), Phật - Đạo vẫn như một dòng chảy không ngừng nghỉ trong xã hội, trong dân gian, trong lòng mọi người từ thiên tử cho tới thứ dân. Nhất là mỗi khi trở về với mình, ứng xử với chính bản thân mình để tìm sự hoà hợp với thiên nhiên, với lòng tin và các lực lượng siêu nhiên, với sự thanh thản trong tâm hồn. Bởi mỗi thứ một “giáo” này thoả mãn những mức độ khác nhau của trí tuệ, tình cảm, và tâm linh con người. Trong tâm thức mọi người, đây đó vẫn là tâm thức “Tam giáo cởi mở”, tuy tỷ lệ biểu hiện ra của Nho - Phật - Đạo trong văn hóa ứng xử có thể đậm nhạt khác nhau, chứ không độc tôn một giáo nào. Đó là “lấy Phật trị tâm, lấy Đạo trị thân, lấy Nho trị đời” (Dĩ Phật trị tâm, dĩ Đạo trị thân, dĩ Nho trị thế) như Vua Hiếu Tông nhà Nam Tống đã nói.
Bài văn thi Đình trả lời về Phật pháp của Trạng nguyên Lê Ích Mộc là một tư liệu quan trọng, quý báu, và thú vị để nghiên cứu lịch sử tư tưởng Việt Nam nói chung, và lịch sử Phật giáo Việt Nam nói riêng (trong lịch sử khoa cử dài dằng dặc hơn nghìn năm ở Việt Nam, thì đây là bài văn thi Đình hỏi về Phật pháp độc nhất vô nhị). Nó chứng tỏ Phật giáo Việt Nam có một sức sống mạnh mẽ, là một dòng chảy liên tục, ngay ở cả thời kỳ Nho giáo được coi là thịnh trị nhất, được triều đình lấy nó để áp đặt cho toàn xã hội, nhưng Phật giáo vẫn luôn được số đông người “tâm phục khẩu phục” vẫn phát triển không ngừng, đến mức có thể có nguy cơ dẫn tới tranh mất địa vị độc tôn của Nho giáo, nên nhà vua đã phải ra đề thi để tìm hiểu, và làm một phép “thử” thăm dò phản ứng của giới tri thức.
Nhân dân xã Quảng Thanh nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung hoàn toàn có quyền tự hào chính đáng về vị Trạng nguyên tài giỏi người của quê hương mình tinh thông cả Tam giáo Nho - Phật - Đạo là Lê Ích Mộc. Việc này càng khiến cho xã Quảng Thanh vốn giàu tiềm năng du lịch, như được nhân thêm, hấp dẫn thêm bởi chiều sâu “địa linh nhân kiệt”, với chiều sâu của chứng tích Tam giáo Nho - Phật - Đạo được kết tinh trong Lê Ích Mộc.
Sau đây, do giới hạn của khuôn khổ bài viết, chúng tôi xin giới thiệu một hai đoạn của bản dịch bài văn trên. Bản dịch này đã được giáo sư Trương Đình Nguyên hiệu đính, PGS. Nguyễn Tuấn Thịnh đọc duyệt lại lần cuối và bổ sung thêm một phần chú thích. Nhân đây chúng tôi chân thành cảm ơn. Tuy vậy, đây là một văn bản khó, việc dịch chú chắc chắn là còn có sai sót, mong được bạn đọc lượng thứ và chỉ chính. Dịch từ nguyên bản Lịch triều đình đối văn, ký hiệu Thư viện Viện Hán Nôm VHv.335/2 (tờ 37a – 58b).
Bài văn thi Đình trả lời về Phật pháp của Trạng nguyên Lê Ích Mộc.
Đáp: Ngu thần xin thưa rằng:
Phật pháp quảng đại không thể nghĩ bàn. Đệ tử tu đạo cốt ở giác ngộ lẽ không tịch. Vì Phật pháp quảng đại không thể nghĩ bàn được vậy. Nếu đệ tử tinh thành tu đạo, mà không giác ngộ lẽ không tịch thì làm sao có thể diệt tội đắc phúc, chứng đạo thành Phật, vãng sinh sang thế giới Tây phương Cựu lạc được! Biết được điều đó thì những chứng tích rõ rệt của Phật pháp có thể khảo chứng được, và đệ tử tu đạo, không lo gì không có chân đạo vậy.
Nay được bệ hạ tinh tường hỏi về Phật pháp, lời hỏi đó mới sâu sắc làm sao, thần tuy ngu dốt, đâu dám không hết lòng trả lời.
… Xét ra những việc trên đây đều là thuộc về Phật giáo quảng đại, là bất khả thuyết vậy. Nếu hội tụ được vạn pháp mà quy về một mình thì có lẽ chỉ có bậc thánh nhân mới là bậc ấy chăng?
Kính nghĩ bậc thánh thiên tử Thánh triều ta, kế thừa các bậc vua thánh, gặp gỡ vận hội lớn lao, để tâm nội điển, xoay chuyển pháp luân, trên có thánh từ Thái hoàng thái hậu và thánh Thái hậu, cõi Nam nuôi dưỡng công đức, Thiên Trúc ngưng hội tinh thần, vui sướng nơi quê Trường lạc, siêng năng chăm đạo chí chân. Lại thêm có ngài Bình Cao Vương và các bậc đại thần trông coi việc nước, thảy đều tha thiết với việc thờ Phật, gió vua nhân thổi mãi, mặt trời Phật sáng lâu, tăng thêm vẻ sáng của tổ thành, giúp thêm thánh hóa của Hoàng triều. Cả những hạng đệ tử chúng tôi, sinh gặp đời thịnh trị, được học tập pháp môn, phát Bồ đề vô thượng đạo tâm, thụ Như Lai vi mật giáo pháp, phàm là Phật pháp, thảy đều thi hành. Song nay đấng thánh minh đã sách vấn, vì vẫn cầu đạo đấy, cho nên mới hỏi lũ hạ thần là hạng ngu muội. Xét sự tu đạo ở trong nước, những kẻ học được đạo nào được mấy người? Thần tự xét biết mình là kẻ ngu đần, bàn luận nông cạn, kiến thức thô lậu, đâu đủ để làm nổi việc này. Nhưng thần đâu dám không tâu bày những ý kiến hẹp hòi của mình. Thần cho rằng: Chân đạo vô thể, nó tịch mĩnh, đạm bạc, bình thường, nhưng không thể một giây phút nào rời xa được. Nó mãi mãi ở ngay thân mình chăng? Nó mượn hai khí mà phôi thai, mượn ngũ hành mà nảy nở, là một thể với trời đất, phối hợp với ánh sáng của mặt trời mặt trăng, và tinh thần tiết khí đều thuộc vào đó, đều sinh ra từ đó, ở trong thì là chủ của Tam tài, ở ngoài thì là thứ linh thiêng của muôn vật. Và sự tài chế vận dụng của nó không ngoài một cái tâm mà thôi. Thế thì biết rằng: tâm kia là tính vậy. Tính tức là lý, cũng là khí vậy. Một khí linh quang, suốt cả cổ kim, tự nhiên vẫn chiếu dọi. Nói về sự cao thì trời cũng không thể hơn được. Nói về sự lớn, thì đất cũng không thể sánh được. Nói về sự rộng, thì hư không cũng không thể bằng được. Nói về sự nhỏ, thì sợi lông tơ cũng không thể đếm được. Nó tập hợp cả vạn tượng bời bời, thấu suốt cả vũ trụ trên dưới. Đó là vị chân Phật vậy. Song Phật đó chính là giác tính như hư không, thức là bình thường, tức là chân đạo. Nó không thuộc về sự biết và sự không biết. Biết là vọng giác, là vô ký. Nếu gặp đạo chẳng hề có chướng ngại gì thì nhìn nó như hư không. Vì vậy, hư không thức là pháp thân. Pháp thân tức là hư không vậy. Khác nào vầng mặt trời trên trời chiếu khắp bốn phương thiên hạ. Khi mặt trời lên chiếu sáng khắp thiên hạ, mà hư không chẳng từng sáng. Khi mặt trời lặn, tối tăm khắp thiên hạ, mà hư không chẳng từng tối. Cái gương sáng tối xâm đoạt lẫn nhau, cái tính của hư không thì vẫn là tự nhiên, biến thánh cái tâm tính của Phật vậy. Cái tâm tính của Phật cũng là như vậy, há chẳng thấy chữ “vô” của Khổng Tử ư? “Gom đạo như hư không”! Nhan Hồi nhiều lần “không”, “tọa vong” mà là cái tâm của Lão Tử nói về “vô hữu” (không có) mà đắc được thuyết tu đạo. Thích Ca nói về “không” mà hợp với lời nói về “suất tính”(1). Vì vậy ngày xưa, giác ngộ mà trở thành Phật thánh là như vậy. Huống hồ ngày nay là đệ tử thờ Phật, nếu không tu đạo thì thôi, còn nếu có thể hành đạo và có thể chứng được đạo không tịch thì đó mới là chân đạo vậy chăng. Như thế gọi là tu tịch tĩnh mà chứng không thường, đoạn trần lao mà thành chính giác, há chẳng phải là diệt tội được phúc, chứng đạo thành Phật, được vãng sinh sang thế giới Cực lạc Tây phương đó sao? Ắt phải giác ngộ cái chân như bản lai, chứng ngộ cái không tịch. Đó là phong (gió), là thuỷ (nước), là hỏa (lửa) luyện thành một tính viên minh, là tinh, khí, thần hoá thành Tam bảo thường trụ. Đốt hương ngũ phận, chẳng mượn lục trần bên ngoài. Dâng hiến phẩm vật lục cúng đều quy vào trong một tuần. Tâm tính bên trong giác ngộ lẽ không, mà chư tướng cũng là không. Nội ngoại đều không, trong veo thường trụ. Được như vậy thì có thể chứng đắc mà dần dần nhập vào chân đạo. Và như thế đã được gọi là đắc đạo, thực ra là “vô sở đắc”. Đã vô sở đắc thì tự nhiên có niềm vui về thiền vậy. Xuất nhập ẩn hiện đều giác ngộ lẽ không tịch, hào quang chiếu dọi, thanh tịnh viên minh, thì tự nhiên Đức Phật A Di Đà sẽ xuất hiện. Từng niệm là Thích Ca xuất thế, từng bước là Di Lặc hạ sinh. Khí độ là tâm của Văn Thù hiển hiện, vận dụng hợp với hạnh đại bi, rành rành đều là nước cam lộ, thảy thảy đều là vị đề bồ. Tất thảy không ngoài cây bồ đề(2), sinh trưởng trong pháp môn huyền diệu của Hoa tạng(3). Đi, đứng, nằm, ngồi, móng ý tuỳ duyên, tuy ứng dụng có sai biệt mà thân thường thanh tịnh. Chẳng phải là tính giác ngộ cái tính của một mình, hoặc là tính giác ngộ cái tính của muôn người. Cái tính làm việc phúc đức ấy thật là to vậy, rộng vậy. Không hẳn phải tín chú pháp vị, bất tất là đạo quả tại gia viên thành. Từ đó mà tiêu trừ được tội khiên muôn ức kiếp, diệt tội đắc phúc. Từ đó mà thành ngôi tôn chính giác, chứng đạo thành Phật. Chỉ thấy không có một danh nào mà không truyền bá danh hiệu của Như Lai, chỉ thấy không một vật nào mà không nêu cao hình tướng của Giá Na(4): đỉnh môn Tì Lư, cao siêu độc bộ, hội Phật cõi không thể hiển hiện Kim thân, mặc ý ngao du, phóng tâm tự tại, đó là để được vãng sinh sang thế giới Tây phương Cực lạc. Nếu không thì là do đạo chưa được thi hành vậy. Đạo vô ngã thì là không. Sáu chữ chỉ có người đồng đạo mới có thể biết được. Kẻ kia chìm đắm vào trong cái tính không tịch, là rơi vào trong cái không, thì đâu có biết là đạo ở chỗ nào. Ngài Bàng Công(5) nói: “Kẻ phàm phu trí lượng hẹp hỏi mê vọng, nói ly tướng có khó dễ, như hư không thảy đều khế hợp với Phật lý”. Ngài Viên Ngộ(6) nói: “Mười phương cùng tụ hội, nghìn nghìn người đều học vô vi. Đó là lựa chọn cái lý không tịch trong tận cùng Đệ nhất nghĩa đế mà Phật hằng tìm kiếm”. Đấy chính là nói về điều đó vậy.
Ngu tôi dùng phương pháp, dùng công cụ phương tiện, nhặt nhạnh trong lời kinh văn dạy về pháp hữu vi để quy vào chỗ vô tận, làm điều thiện đối với chân đạo vô chứng vô tu, làm việc giáo hóa chúng sinh cũng là bằng những lời này vậy. Vả lại văn lý lâu rồi không thực hành, nay thấy đề bài thì hớn hở bội phần. Vì vậy có câu thơ rằng:
Lộ phùng kiếm khách tu trình kiếm
Bất thị thi nhân mạc thuyết thi.
Gặp người kiếm khách nên dâng kiếm
Chẳng phải nhà thơ chớ nói thơ!
Đó là điều muôn lần mong muốn của thần vậy.
Thần kiến giải hẹp hòi như vậy không biết có đúng hay không. Nguyện mong bệ hạn sáng suốt phát vấn, rủ lòng đại từ bi nói ra một lời.
Chú thích:
1. Suất tính: Noi theo bản tính. Chữ có xuất xứ từ Trung dung: “Thiên mệnh chi vị tính. Suất tính chi vị đạo. Tu đạo chi vị giáo” (Cái trời ban cho gọi là “tính” nương theo tính gọi là “đạo”, tu đạo gọi là “giáo”.
2. Cây bồ đề: Cây tượng trưng cho sự giác ngộ của đạo Phật.
3. Hoa tạng: Tức Hoa tạng thế giới. Ở đây chỉ Đạo Phật.
4. Tì Lư Giá Na: Tên gọi chung chỉ pháp thân Phật chỉ đức Đại Nhật Như Lai của Mật giáo.
5. Bàng Công: Tức Bàng cư sĩ, tên Uẩn, tự là Đạo Huyền, là một cư sĩ tinh thông Phật học thời Đường.
6. Viên Ngộ: Tên nhà sư thời Minh.
Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.135-145)