VI | EN
18 . Đôi điều hiểu thêm về Tô Hiến Thành qua văn bản “Tô tướng công thực lục”. (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

ĐÔI ĐIỂU HIỂU THÊM VỀ TÔ HIẾN THÀNH QUA
VĂN BẢN “TÔ TƯỚNG CÔNG THỰC LỤC”

ĐỖ THỊ HẢO

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Do tình cờ tôi được các cụ dòng họ Tô nhờ dịch một cuốn “gia phả” về cụ tổ họ: Tô Hiến Thành đại vương. Cuốn sách không tên, khá dày dặn chừng 100 trang chữ viết chân phương, rành rọt. Phần đầu sách là những bức vẽ Quan Vân Trường, Trần Hưng Đạo, Hộ pháp, chư Phật, v.v… có kèm những đoạn kinh chữ Hán được phiên âm từ chữ Phạn ra. Cuốn sách là những bài văn tế trong dịp lễ hội của làng, những bài cúng cầu mưa, cúng trừ dịch bệnh, lễ “thường tân” (cơm mới)… Phần chủ yếu (gần 10tr.) ở giữa sách viết về Tô Hiến Thành với nhan đề: “Tô tướng công thực lục” – ghi chép sự thực về Tô tướng công.

Thực ra đây không phải là một cuốn gia phả, bởi thông thường trong gia phả người ta ghi lại nguồn gốc thế thứ, tên huý hiệu, ngày kỵ, mồ mả, v.v… của nhiều đời; còn “Tô tướng công thực lục” chỉ ghi lại hành trạng công tích của Tô Hiến Thành theo lối truyện ký của các nhà Nho xưa. Có lẽ vì thế thông qua văn bản chúng ta biết được những mẩu chuyện những thông tin lý thú, không thấy xuất hiện ở những sách khác.

Đầu tiên phải kể đến là câu chuyện đối thoại giữa Tô Hiến Thành với vị thần Bản thổ. Trước kia khi còn làm quan nhỏ ở địa phương, một hôm Tô Hiến Thành nhìn thấy người hàng xóm phía Tây lấy trộm chiếc áo của người hàng xóm phía Đông, biết thế nhưng ông im lặng không nói gì. Trong làng có một ngôi đền, vị thần ở đây vốn có tiếng là thiêng, người mất trộm liền đến cầu xin thần giúp tìm ra thủ phạm. Ngày qua tháng lại vẫn bặt vô âm tín, không có kết quả gì. Tô Hiến Thành bèn lệnh cho dân vứt đồ thờ, đóng đinh niêm phong cửa đền không cho cúng bái nữa. Mặc dù thần đã báo mộng để dọa và 2 người con trai của ông bị chết thật, xong ông vẫn không cho thờ vị thần đó. Ông nói: Người ta sống chết có mệnh, nếu thần giết chết được ta thì ngài sẽ được thờ phụng như cũ: Rốt cuộc thần Bản thổ đành phải thú nhận mình không giết được ai, tất cả là do mệnh trời và nói rằng: “Ông không cho tôi được hưởng thờ cúng thì cũng phải, song là người làm quan, ông biết kẻ lấy trộm áo kia đáng tội gì, thế mà ông nỡ im lặng, nghe những lời chửi rủa, cầu khẩn, cho đứa trộm kia phải chết hay sao?”. Thấy lời nói có lý, Tô Hiến Thánh lại cho vị thần được hưởng thờ tự như cũ.

Qua mẩu chuyện dân gian trên phần nào ta hiểu thêm được tính cách của 1 đại thần triều Lý đã, đang, và sẽ mãi mãi được người đời ca tụng.

Ngoài mẩu chuyện dân gian trên, những đoạn khác trong văn bản viết về Tô Hiến Thành so với chính sử đều rất khớp. Xin trích một vài đoạn làm ví dụ:

1. Vua di chiếu cho Tô Hiến Thành giúp Thái tử, công việc quốc gia hết thẩy tuân theo phép cũ. Bấy giờ Thái hậu muốn làm việc thế lập sợ Hiến Thành không nghe, bèn đem vàng bạc đút lót cho vợ ông; Hiến Thành nói: “Ta là đại thần nhận mệnh tiên đế dặn lại phò giúp vua bé. Nay nhận của đút mà làm việc phế lập thì còn mặt mũi nào nhìn thấy tiên đế dưới suối vàng”. Thái hậu lại gọi Hiến Thành đến dỗ dành đủ cách. Ông trả lời: “Làm việc bất nghĩa mà được giàu sang, kẻ trung thần nghĩa sĩ không ham làm, huống chi lời tiên đế còn vẳng bê tai, Thái hậu không nghe chuyện Y Doãn, Hoắc Quang hay sao? Thần không dám vâng chiếu”...

Đoạn văn này hoàn toàn giống với tờ 17a - Bản kỷ Đại Việt sử ký toàn thư 9.IV.

2. Tô tướng công qua đời, vua bớt ăn ba ngày, nghỉ thiếu triều sáu ngày… Tô tướng công nhận việc gửi gắm con côi, hết lòng trung thành, khéo xứ trí những biến cố. Tuy có bị gió táp sóng dồn nhưng vẫn đúng vững như cột đá giữ dòng, khiến trên kính dưới yêu, không thẹn với tư cách của đại thần đời xưa… Đoạn văn trên cũng được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư, phần Bản ký – 9.IV, Tờ 19a.

Qua đây ta thấy rõ ràng người viết “Tô tướng công thực lục” trước hết phải là một nhà Nho chững chạc. Thứ đến những sự kiện viết ra đã được kê cứu, tham khảo “nói có sách mách có chứng” chứ không tùy hứng làm sai lệch sự thực lịch sử. Theo chúng tôi văn bản “Tô tướng công thực lục”, ngõ hầu phần nào làm sáng tỏ thêm thân thế sự nghiệp của ông.

- Quê hương bản quán Tô Hiến Thành:

Cho đến nay đã có khá nhiều sách viết về ông kể cả chữ Hán lẫn chữ Quốc ngữ. Nhưng phần nói về quê quán rất ít sách đề cập tới, phải chăng vấn đề này còn mung lung chưa rõ ràng? Ngay cả cuốn Từ điển danh nhân Việt Nam, xuất bản vào năm 90 của thế kỷ này khi giới thiệu về Tô Hiến Thành cũng bỏ qua, không biết ông người ở đâu. Còn những thần tích hoặc loại sách Ngọc phả lục như Lý Cao Tông phụ chính đại thần Tô Hiến Thành Thái sư ngọc phả lục(1), Bách thần lục(2)… thì độ tin cậy chỉ có hạn, bởi không hiếm những trường hợp viết về một vị nhưng thần tích mỗi nơi một khác (Thí dụ Trung Thành đại vương, Linh Lang đại vương, Tô Đại Liêu…). Trong “Tô tướng công thực lục” ngay mấy dòng đầu sách đã chép khá cụ thể Tô Hiến Thành tên hiệu là Đại Liêu quê ở Ô Diên, Vĩnh Khang(3), cư trú tại xã Thiên Mỗ, Từ Liêm(4). Trong sách Thiền uyển tập anh ngữ lục(5) q.1 tờ 31 có chép: “Trí Bảo thiền sư họ Nguyễn tên thực là gì không rõ. Ông là cậu ruột Tô Hiến Thành người Ô Diên, đất Vĩnh Khang, tu ở chùa Thanh Tước núi Du Hy làng Cát Li (nay thuộc Bắc Ninh), không biết ông sinh năm nào chỉ biết mất ngày 14 tháng tư năm Thiên Tự Gia Thụy thứ 5 triều Lý Anh Tông (1190). Vậy là chúng ta đã biết thêm bà mẹ Tô Hiến Thành họ Nguyễn và cũng là người Ô Diên, Vĩnh Khang (xã Hạ Mỗ ngày nay). Đối chiếu với một só tư liệu đáng tin cậy khác như:

+ Từ Liêm huyện đăng khoa chí(6) chép: Tô Hiến Thành người xã Hạ Mỗ.

+ Bia “Bản phủ tiền triều chư danh khoa bi”(7) chép rằng: Ông người xã Hạ Mỗ huyện Từ Liêm.

+ Bia “Kim Sơn văn hiến đường bi ký”, dựng tại Hạ Mỗ cũng chép ông là người bản xã.

Theo chúng tôi, đến hôm nay, ta có thể tạm tin rằng quê hương Tô Hiến Thành là xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.

- Vấn đề ngày tháng năm sinh, năm mất của Tô Hiến Thành cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ quyển IV tờ 19a chỉ chép: Mùa hạ tháng 6 (năm Kỷ Hợi -1179) Thái úy Tô Hiến Hành chết. Song văn bản “Tô tướng công thực lục” thì nói về điều này khá chi tiết, rằng ông sinh ngày 22 tháng 3 năm….., mất ngày 12 tháng 6 năm 1179 và được phong là Phúc thần. Phải chăng đây cũng là một chi tiết cần phải lưu ý để bổ sung cho những thiếu hụt hiện nay. Hàng năm cứ đến ngày giỗ ông dân xã lại tổ chức tế lễ tại đề thờ ông ở khu Hàm Rồng. Bài văn tế mặc dù rất nhiều điển tích, song vẫn toát lên tình cảm thành kính trân trọng của dân làng đối với một con người đã làm rạng rỡ cho quê hương được muôn đời kính phục.

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói là đến tận bây giờ vẫn có ý kiến nghi ngờ liệu Tô Hiến Thành có đỗ đạt không? Tại sao trong số 2898 nhà khoa bảng chiếm học vị cao nhất Việt Nam từ khoa thi 1075 đến 1919 không có tên ông và tên ông không được chép trong các sách khoa bảng quốc gia mà chỉ ở phủ, huyện, v.v… và v.v… Như chúng ta đã biết Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Nho học đầu tiên lấy tên là: “Tuyển Minh kinh bác học và Nho học tam trường”, vào tháng 2 niên hiệu Thái Ninh 4 (1075). Lê Văn Thịnh là người đỗ đầu và trở thành bậc khai khoa ở nước ta. Tiếp theo sử còn ghi được 5 khoa thi của triều Lý: năm 1086 niên hiệu Quang Hựu đời Lý Nhân Tông, năm 1152 niên hiệu Đại Định đời Lý Anh Tông, năm 1165 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng đời Lý Anh Tông, năm 1185 niên hiệu Trinh Phù đời Lý Cao Tông, và năm 1193 niên hiệu Thiên Tư Gia Thụy đời Lý Cao Tông. Riêng 3 khoa 1152, 1165, 1193, chỉ có tên khoa thi chứ không ghi được tên người đỗ. Thêm vào đó từ năm 1086 đến năm 1162 không thấy ghi khoa nào, có lẽ vì thiếu tài liệu nên Quốc sử bỏ qua, biết đâu Tô Hiến Thành lại rơi vào giao đoạn này? Tuy nhiên sách Từ Liêm huyện Đăng khoa chí và bia Văn miếu phủ Hoài Đức đều chép ông thi đỗ Thái học sinh triều Lý. Đặc biệt “Tô tướng công thực lục” chép tên ông đứng đầu danh sách những người đỗ đạt được hội Tư văn bản xã thờ tại Văn chỉ. Dưới tên ông có Đỗ tướng công (Đỗ Kính Tu) và vài chục người ở Tả trung khoa, Hữu tiểu khoa được phụng thờ.

Tóm lại trên đây là những điều tản mạnh chúng tôi thu nhận được về Tô Hiến Thành qua văn bản “Tô tướng công thực lục”. Mong rằng được góp phần nhỏ bé mở rộng thêm đường ngôn luận, khiến ta ngày càng hiểu được phong phú hơn, tường tận hơn về Tô Hiến Thành, một “Xã tắc chi thần” sống cách chúng ta đã gần 1000 năm.

Chú thích:

1. VHv.2031 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

2. VHv. Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

3. Thuộc xã Hạ Mỗ, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Tây.

4. Nay là xã Đại Mỗ huyện Từ Liêm Hà Nội.

5. A.3144 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

6. A.507 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

7. No 788 Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.146-151)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm