VI | EN
18. Giới thiệu bài Cổ pháp chân long sự tích - Một bản thần tích về Lý Công Uẩn (TBHNH 2010)
(TBHNH 2010)

GIỚI THIỆU BÀI CỔ PHÁP CHÂN LONG SỰ TÍCH - MỘT BẢN THẦN TÍCH VỀ LÝ CÔNG UẨN

DƯƠNG VĂN HOÀN

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Thần tích là những tư liệu ghi chép về lai lịch, sự tích, hành trạng, công đức,... của các vị tôn thần, thành hoàng được thờ tự tại đình, đền, nghè, miếu... ở các địa phương. Thông thường một bản thần tích chữ Hán bao gồm ba phần chính: 1) phần mở đầu kể về lai lịch, bối cảnh ra đời của vị thần; 2) phần chính giữa thuật lại sự tích, hành trạng của đức thánh; 3) phần cuối ghi chép về các nghi thức thờ cúng vào các kỳ lễ tiết.

Không giống như các bản thần tích thông thường vừa nêu, bản thần tích của thôn Thọ Hội xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên(1) lại mang nhiều đặc điểm khá độc đáo, không chỉ về mặt nội dung mà còn ở cả kết cấu và cách thức trình bày văn bản.

Bản thần tích này là sự chắp ghép của hai đơn vị tác phẩm ở hai thể tài hoàn toàn khác nhau. Trong đó, một bài mang tên Cổ pháp chân long sự tích 古法真龍事跡 và một bài đề là Lý triều công đức bi văn 李朝功德碑文.

Về bài thứ nhất, đây là một bài thơ lục ngôn trường thiên(2) theo vần trắc dài 56 câu, ghi chép về sự tích của vua Lý Thái Tổ(3), song không thấy ghi người soạn là ai. Văn bản bài này cũng được trình bày khá đặc biệt(4), đó là phần chính văn và phần chú thích đều được ghi với cỡ chữ như nhau, nhưng có phân biệt chút ít là phần chính văn thì được viết đài lên trên một chữ, ngược lại phần chú thích thì viết bằng, tuy nhiên cách viết này cũng không nhất quán. Về mặt nội dung, dù được viết hết sức súc tích, ngắn gọn, song bài thơ đã gợi nhắc được rất nhiều sự tích mang tính huyền ảo, kỳ bí đậm chất dân gian và ghi lại được hầu hết các địa danh gắn liền với cái nôi phát tích của vương triều Lý. Bài thơ thể hiện sự tài hoa, điêu luyện của tác giả trong việc kết hợp nhuần nhuyễn các tư liệu chính sử với các huyền tích dã sử có liên quan.

Còn bài thứ hai, là bài văn bia viết vào năm Hoằng Định thứ 5 (1605), nhưng văn bản không nói rõ họ tên tác giả, mà chỉ cho biết thông tin về tác giả là “Tứ Canh Thìn khoa Tiến sĩ xuất thân, Kiệt tiết Tuyên lực công thần, phụng vãng Bắc sứ, tiến Kim Tử vinh lộc đại phu soạn”. Về bài văn bia ấy, sau khi chúng tôi tra cứu dựa trên những chỉ dẫn về nhân vật và nội dung của văn bia thì được kết quả đó chính là bài văn khắc trên tấm bia Cổ Pháp điện tạo bi古法殿造碑 đặt ở Đền Đô do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan soạn. Tuy nhiên khi đối chiếu với văn bia gốc và bản rập của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì văn bản đã lược bớt hẳn đoạn nói tiểu sử của 7 vị vua nhà Lý sau Lý Thái Tổ, có lẽ bởi địa phương chỉ thờ Lý Thái Tổ làm thành hoàng, nên thần tích đã bỏ không chép các vị vua khác chăng?

Do tấm bia trên đã có vài bản dịch, cộng với khuôn khổ của bài viết không cho phép, dưới đây chúng tôi chỉ xin được giới thiệu toàn văn bài Cổ Pháp chân long sự tích và coi như là một chút lòng thành của cá nhân gửi tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.

Phiên âm:

Cổ Pháp chân long sự tích(5)

Bắc Giang Dịch Bảng hương,

Kỳ tự hiệu Lục Tổ.

Đại Đường Trinh Quán gian,

Định Không tăng lưu trú.

Quật khởi đắc hương bài,

Thủy khứ thập khẩu cổ.

Gia Phù uất uất sinh,

Vượng khí kì thục ngự!

Phù Chẩn thập cửu trì,

Phong Khê nhất điều lộ.

Ác tai! Đường Cao vương,

Tạc trì không yểm chú.

Thái Thanh Đinh thị tăng,

Trụ trì Song Lâm tự.

Phù Chẩn điền cổ trì,

Điềm Giang chủng mộc thụ.

Pháp lịch tàng phù đồ,

Linh phù trấn yểm xứ.

Kế hữu bản tự tăng,

Kim tượng mai tiền hộ.

Dĩ đãi hà thanh kỳ

Tương truyền thế phụng thủ.

Bột bột “Ngưu miên” phần,

Địa linh vi bảo hộ.

Tiêu Sơn nhạc giáng thần,

Đĩnh sinh Lý Thái Tổ.

Cảm Tuyển khuyển thành văn,

Song Lâm trùng triện tự.

Đồng ngao trưởng lão gia,

Hiển Khánh Đại vương mộ.

Thái long hiện mộc miên,

Vũ hạc phi đương lộ.

Thiên mệnh tự hữu quy,

Vương giả nguyên bất tử

Tam Cức Hộ Quốc ông,

Lục Tổ Khánh Văn phụ.

Khai Quốc tăng tư bình,

Kiến Sơ thần dạ tố.

Đại chí nghiệm thi văn,

Thiên đức như sấm ngữ.

Thử nguyệt hội thuần hy,

Đại Lê vi Thiên tử.

Nhất bát hóa thế gian,

Tam bách truyền bảo tộ.

Kiến Sơ thần nhân thi

[Thi] vân:

“Nhất bát công đức thủy.

Tùy duyên hóa thế gian,

Quang quang trùng minh diệu

Nhật ảnh một đăng san

Ngư gia xuất Trần hi

Thái Đường thuộc phấn du

Dương Lôi kinh hòa thử

Sơn hà ủy cố khư”

Bát lăng gian khâu thổ

Quá khách tâm du du

Viện bút ký tiền sự".

 

Tạm dịch:

Sự tích chân long châu Cổ Pháp

Hương Dịch Bảng lộ Bắc Giang(6),

Có ngôi chùa tên Lục Tổ(7).

Năm Trinh Quán nhà Đại Đường,

Sư Định Không đến ở đó(8).

Đào dưới đất được thẻ hương,

Rơi xuống nước mười miếng cổ(9).

Đất Gia Phù phát ùn ùn,

Vượng khí này ai ngự nổi!

Làng Phù Chẩn mười chín ao,

Đất Phong Khê đắp một lộ.

Ghê gớm thay! Đường Cao vương,

Đào ao rỗng hòng yểm chú(10).

Năm Thái Thanh sư họ Đinh,

Đến trụ trì Song Lâm tự(11).

Ở Phù Chẩn lấp ao xưa,

Chốn Điềm Giang trồng miên thụ(12).

Làm lịch phép giấu phù đồ,

Đưa bùa thiêng trấn yểm chỗ(13).

Nối chùa này có vị tăng,

Đúc tượng vàng chôn trước cửa.

Đợi bao giờ nước sông trong

Truyền đời nhau cùng thờ giữ(14).

Mộ “Trâu ngủ” phát ùn ùn,

Đất linh thiêng làm bảo hộ

Núi Tiêu Sơn có giáng thần

Sinh ra vua Lý Thái Tổ(15).

Chó Cảm Tuyển lông có vằn

Sâu Song Lâm ăn thành chữ(16).

Nhà trưởng lão chó đồng kêu,

Mộ Đại Vương tiếng vang rõ(17).

Ở cây gạo hiện rồng vàng,

Trên đường đi hạc bay múa(18).

Có mệnh trời ắt tự về,

Bậc vương giả vốn bất tử(19).

Tam Cức gặp Hộ Quốc ông,

Cha Khánh Văn chùa Lục Tổ(20).

Chùa Khai Quốc tăng phẩm bình,

Thần Kiến Sơ đêm mách ngỏ(21).

Chí cả ứng nghiệm thơ văn,

Đức trời sánh như sấm ngữ(22).

Tháng tý hội khắp quần thần

Thay Lê lên làm thiên tử(23).

Một bát hóa duyên thế gian

Ba trăm năm truyền bảo tộ(24).

Thơ thần nhân chùa Kiến Sơ

Thơ rằng:

“Một bát nước công đức,

Hóa duyên khắp thế gian.

Vằng vặc soi ánh sáng,

Bóng trời khuất núi xa.

Nhà Trần nghề chài lưới,

Thái Đường nhuốm màu cây.

Lôi Dương thành ruộng lúa,

Sông núi gởi gò xưa”(25)

Đất gò tám lăng còn đó

Khách thăm lòng những bùi ngùi

Mượn bút để ghi chuyện cũ.

 

Chú thích:

(1) Bản thần tích được mang tên là Yên Canh xã Thọ Hội thôn thần tích安耕社壽會村神跡(vì thôn này trước thuộc xã Yên Canh tổng Yên Canh huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên) được rút ra từ bản Hưng Yên tỉnh Ân Thi huyện các xã thần tích 興安省恩施縣各社神蹟 mang kí hiệu AE.A3/2 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

(2) Tức viết theo dạng thơ cổ thể (hay cổ phong).

(3) Đây thực chất là một bản thần tích được diễn bằng thơ.

(4) Cách viết thông thường là phần chú thích sẽ được viết dưới dạng cước chú, tức là viết thành hai hàng chữ nhỏ hơn bên dưới chính văn.

(5) Như đã nói ở trên, do người chép văn bản thời trước không phân biệt phần nguyên chú với chính văn (chép thành những dòng cước chú nhỏ hai hàng ở dưới phần chính văn) mà chép chữ to tương đương nên người đời sau rất khó xem, thường nhầm lẫn tất cả đều là chính văn, nên dịch sẽ rất lộn xộn, làm mất đi nguyên ý của tác giả. Để tiện theo dõi, người dịch xin đưa tất cả phần nguyên chú xuống phần chú thích ở cuối trang và để trong ngoặc kép, còn phần giải thích thêm của người dịch sẽ cho vào trong phần ngoặc vuông.

(6) Nay là làng Đình Bảng huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh.

(7) Nguyên chú: “Thiền sư nối dòng nhà chùa có thuyết ngũ tổ [tổ đời thứ 5], lục tổ [tổ đời thứ 6], bởi theo đó mà thành tên”.

(8) Nguyên chú: “Trinh Quán là niên hiệu vua Đức Tông, xưa nước Việt ta nội thuộc nhà Đường làm thành quận; tăng là người hương này, họ Nguyễn nối đời là lệnh tộc, thấu hiểu sự đời đi tu làm nhà sư. Sách Truyền đăng ký ghi tăng là người đời thứ 8”.

[Trinh Quán đúng ra là niên hiệu của vua Đường Thái Tông Lý Thế Dân, còn Trinh Nguyên mới là niên hiệu của vua Đường Đức Tông Lý Khoát. Có lẽ người chú thích nhầm lẫn].

(9) Nguyên chú: “Xưa tăng vốn ở chùa Quỳnh Lâm đào đất được một chiếc thẻ hương có đề chữ, mười miếng khánh cổ; sai người mang đi rửa thì một miếng bị rơi mất xuống nước. Tăng bèn giải rằng: thập khẩu [mười miếng] ghép thành chữ cổ, thủy khứ [rơi xuống nước] ghép thành chữ pháp, nhân đó đặt tên là Cổ Pháp, và làm bài tụng rằng:

Pháp khí xuất hiện

Thập khẩu đồng chung.

Lý thị hưng vương,

Tam khí thành công.

Nghĩa là:

Pháp khí xuất hiện,

Mười miếng chuông đồng.

Lên ngôi họ Lý,

Tam khí thành công.

Tăng thường nói sau này ắt có bậc dị nhân đến trấn đất cõi ta, đó chính là Cao Vương nhà Đường”.

[Thập khẩu: nghĩa đen là mười miếng, hai chữ thậpkhẩu ghép lại thành chữ cổ.

Thủy khứ: nghĩa là rơi xuống nước, hai chữ thủykhứ ghép lại thành phữ pháp.

Pháp khí: là dụng cụ làm lễ của tăng chúng, hoặc đạo sĩ. Tam khí: nghĩa là ba cách trị nước của người làm vua, đó là: ra mệnh lệnh, dùng hình phạt, bổng lộc].

(10) Nguyên chú: “Thời Đường Ý Tông, Cao Biền đến trấn giữ nước Việt ta, biết đất Cổ Pháp có vượng khí bèn đào mười chín cái ao ở xã Phù Chẩn để yểm, lại đắp một con đường long mạch thẳng ở Phong Khê, nay còn ở phía đông xã Đông Ngàn. Thơ cổ có câu: “Phong Khê trúc trường thành” [đất Phong Khê xây trường thành] là nói về việc đó vậy”.

[Theo quan niệm phong thủy xưa, rất coi trọng thế đất kết, tụ thủy, có tay long tay hổ uốn lượn ôm bọc. Ở đây Cao Biền cho đào ao, đắp con đường thẳng để biến thế đất thành con rồng chết hỏng trấn yểm thế đất không cho phát nhân tài].

(11) Nguyên chú: “Thanh Thái là niên hiệu của Lộ Vương thời Hậu Đường Ngũ Đại. Tăng tên chữ là La Quý, họ Đinh, trước đây thiền sư Định Không dặn đệ tử rằng: “Ngươi hãy giữ gìn pháp của ta”. Vị tăng họ Đinh ấy chính là người được truyền thừa vậy; [chùa] Song Lâm thuộc hương Phù Ninh phủ Thiên Đức”.

(12) Miên thụ: cây gạo.

(13) Nguyên chú: “Xưa thiền sư chùa Song Lâm nói với đệ tử rằng: “trước đây Cao Vương đào ao này và sông Điềm, ao Phù Chẩn là để yểm đất của nước ta. Nay ta đã ra sức tìm hiểu, lấp lại như xưa”, rồi lại cho trồng một cây gạo ở chùa Minh Châu làm nơi trấn đứt, lại dặn các tử đệ đắp đất dựng tháp phù đồ làm phép giấu trong đó bùa chú ghi rằng:

“Đại sơn long đầu khởi,

Cầu vỹ ẩn Chu Minh.

Thập bát tử định thành,

Miên mộc hiện long phi.

Văn kê thử nguyệt nội,

Định nhật xuất thì”

Nghĩa là:

Núi lớn đầu rồng ngóc dậy,

Đuôi rồng ẩn ở đất Chu Minh (địa danh Chu Minh nay là Phù Minh)

Mười tám hạt đã định

Cây gạo xuất hiện rồng bay

Muộn nhất là vào trong khoảng tháng gà, chuột

Chính là lúc rồng được sinh ra”.

[Phù đồ: tức tháp chùa.

Thập bát tử [18 hạt]: chỉ họ Lý, vì chữ do ba chữ này ghép lại mà thành.

Tháng gà chuột: Tức tháng dậu, tháng tý (từ tháng 8 đến tháng 11)].

(14) Nguyên chú: “Sư tổ Lý Khánh Văn vốn là sư chùa này, cho đúc tượng vàng Lục Tổ [vị tổ thứ 6] chôn ở cửa chùa và nói là: “Đợi minh chủ xuất thế””.

[Minh chủ: tức vua sáng, khi vua sáng lên ngôi thì thiên hạ được thái bình, ở đây dùng hình ảnh nước sông trong để ám chỉ].

(15) Nguyên chú: “Xưa, có thày địa lý tìm được huyệt Ô Mễ ở châu Cổ Pháp, sử cũ gọi Ô Mê lăng [gò Ô Mễ] chính là chỗ đó, đêm nằm mơ có thần nhân bảo rằng: “Ngôi đất này là huyết mạch lớn, để đợi họ Lý”. Khi vua [Lý Thái Tổ] mới ba tuổi, mẹ là Phạm thị đi qua chỗ ấy bỗng nhiên hóa, lát sau có đàn giao long đùn đất thành mộ. Xưa, mẹ vua thường đến tiêu dao ở chùa Tiêu Sơn, đến đêm thường có một con khỉ lớn đến thông giao, dần dần thấy có mang, nhân đó nói với sư Vạn Hạnh. Đêm ấy, đến canh ba quả nhiên có một con khỉ lớn đi từ ngoài vào, sư sai người đuổi theo sau theo đến trong hang núi thì biến mất. Nay ở Tiêu Sơn tương truyền có một cái hang, cửa hang có một tảng đá lớn nằm đấy rất thiêng, quốc sử nói: “mẹ ngài [Lý Công Uẩn] tiêu dao chùa Tiêu Sơn gặp thần nhân mà sinh ra vua””.

(16) Nguyên chú: “viện Cảm Tuyển ở chùa Ứng Thiên Tâm châu Cổ Pháp, nay là chùa Trường Liêu thôn Phù Long có con chó lông trắng, vằn đen thành hai chữ “Thiên tử” [vua], có lẽ muốn nói năm Tuất sinh ra người làm vua, mà vua Lý sinh năm Giáp Tuất quả là ứng nghiệm. Cây đa chùa Song Lâm có sâu ăn vỏ cây tạo thành chữ triện hình chữ “Quốc” [nước]”.

(17) Nguyên chú: “Xưa nhà tổ Khánh Văn có một con chó ngao bằng đồng, tương truyền bảy đời dặn lại rằng: “bậc thánh nhân xuất hiện thì nó sẽ kêu”. Bầy giờ, Phạm thị bế Thái Tổ đến nhà Khánh Văn thì con chó ngao bằng đồng kêu, tiếng kêu của nó làm rung chuyển mặt đất. Sư Vạn Hạnh bình rằng: “Thạch cẩu minh, thánh nhân sinh” [chó đá sủa, thánh nhân ra đời]. Thế rồi, chó ngao đá hóa thành một con chó thật, sinh ra con. Nay ở khu lăng Đình Bảng có ngôi chùa tên là chùa Chó Đẻ. Khi Thái Tổ lên ngôi, con chó đó ngược về phía bắc sông, qua sông Nhĩ Hà đến núi Nùng thành Đại La, nằm nghỉ ở đỉnh núi, vua theo dấu chân của nó mà dời đô về đó ở. Nay ở chùa Phúc Sinh phía tây Hoàng Thành có thờ tượng thần chó. Thủa ấy, sư Vạn hạnh ban đêm thấy bốn phía mộ Khánh Hiển Đại Vương đều có tiếng. Phía đông tiếng rằng:

Khánh Vạn Tường nham dữ Quế Phong,

Dương trường long khúc dực tương tòng.

Bách lưu đông liệt triều tông,

Tam bách lục tải đối Thiên Bồng

Nghĩa là:

Phúc được núi Vạn Tường [muôn điều lành] cùng ngọn Quế Phong [núi quế],

Ngoằn ngèo hình ruột dê long mạch uốn khúc lớp lớp nối nhau

Trăm dòng đều chảy sang đông chầu về nguồn

Ba trăm lẻ sáu năm sánh với cõi tiên.

Phía nam tiếng rằng:

Chính nam Phù Ninh hộ trạch thần,

Dịch thế nam nữ xuất đa nhân.

Thiên đức phú quý mãn ốc

Thành bát phương hội nữ thường xuất quân.

Nghĩa là:

Hướng chính nam Phù Ninh có thế “thần hộ trạch”

Đời đời sinh ra nhiều con trai con gái

Đức trời phú quý đầy nhà

Trở thành nơi tám phương tụ hội phụ nữ luôn sinh vua.

Phía tây có tiếng rằng:

Viễn vọng khan thiên trụ,

Cao thế nam nữ vương tướng thủ.

Thiên đức phú quý dữ viễn thế

Quân vương thọ mệnh cửu thập cửu.

Nghĩa là:

Xa trông thấy [thế đất hình] cột trời

Bao đời trai gái đều là tay vương tướng

Đức trời phú quý cho nhiều đời

Vua được sống lâu đến 99 tuổi.

Phía bắc có tiếng rằng:

Chính bắc Phù Minh đương bạch hổ,

An lạc nam nữ thường vô khổ.

Đại đại thiên đức trường thọ khang

Thế thế quân vương kỳ Lục Tổ.

Nghĩa là:

Chính bắc Phù Minh là bạch hổ

Trai gái sống yên vui không bao giờ biết khổ

Đời đời hưởng đức trời lâu dài an vui

Đời đời vua chúa báo đền Lục Tổ.

Sư ghi lại và làm bài kệ bên mộ rằng:

Đông hữu Vũ Long hạng,

Nam hữu Vũ Long bi.

Tây hữu Hạc Lâm quán

Bắc hữu Trấn Hải trì.

Nghĩa là:

Đông có ngõ Vũ Long

Nam có vũng Vũ Long

Tây có quán Hạc Lâm

Bắc có ao Trấn Hải.

Lâu sau nói rằng: nội ba tháng nữa, quan Thân vệ lên làm trụ cột [đất nước], xã tắc được yên vui”.

(18) Nguyên chú: “- Khi Thái Tổ còn nhỏ, mải chơi đùa vui vẻ với lũ trẻ, đến đêm không dám về, trèo lên trên cây gạo, thầy trò tìm đến dưới gốc cây thấy khí đỏ sáng trời, có rồng thần quấn ở chỗ đấy. Thái Tổ tụt xuống, dưới chân có chữ “vương” [vua] thành vết sẹo. Một hôm, lên kinh thành làm phu dịch, gặp trời mưa, mỗi bước đều in dấu chân. Lính áp giải đuổi bắt, đuổi đến Đông Ngàn Thiên Đức giang, bỗng có hai con chim hạc bay sà xuống, quan quân kinh ngạc dừng lại xem, vì thế mà vua chạy thoát”.

(19) Nguyên chú: [câu này nói trong] “bài Cổ Pháp ký của Thọ An hầu”?

(20) Nguyên chú: “Tam Cức thuộc Yên Phong. Thái Tổ từ khi được hạc cứu thoát chạy đến Tam Cức, khi quan quân đuổi gấp, gặp một bác thợ cày đang cày ruộng, vua kể sự tình, bác thợ cày nói: “anh mau cởi áo cùng cày ruộng giống ta thì ai nhận ra được”, khi quân đuổi đến quả có hỏi bác thợ cày, bác thợ cày đáp là không biết. Quan quân quay về, bác thợ cày bí mật đón vua về nhà, đào hầm để giấu, bên trên để chum nước, vua trốn ở dưới. Bấy giờ quan Thái sử [trong triều] bói rằng: “người này đã ở trên đất và dưới nước”, nhân đó đoán rằng: “kẻ đó sợ quá mà chết đuối dưới sông ngòi rồi”, vì vậy mà thoát được. Sau này Thái Tổ lên ngôi, phong bác thợ cày làm Hộ Quốc vương. Nay ở Tam Cức có miếu Hộ Quốc vương, ngoài miếu có hang là nơi vua trốn.

- Khi vua lên ba tuổi, mẹ là Phạm thị ẵm đến nhà Khánh Văn, Khánh Văn nuôi làm con, lấy họ Lý. (Dẫn theo Quốc sử)”.

(21) Khi Thái Tổ còn tiềm long [chưa lên ngôi], có nhiều thày tăng ở chùa Khai Quốc thấy ngài có tư chất anh tú kì lạ và bảo rằng: “Đứa bé này cốt tướng bất phàm, sau này ngoảnh mặt về nam [chỉ vua] ắt là nó đấy”.

- Xưa, vua du học ở chùa Kiến Sơ cạnh miếu Phù Đổng. Một hôm, đùa nghịch lấy bút viết ba chữ lớn “lưu viễn châu” [đi đầy nơi châu xa] lên bức tượng Hộ Pháp. Nửa đêm, thần nhân báo mộng cho sư Vạn Hạnh nói rằng: “Đa tạ thiền sư, nay phụng mệnh vua đi đầy châu xa xin làm lễ bái biệt”. Khi tỉnh dậy, trông thấy trên mình tượng Hộ Pháp có chữ của đứa bé họ Lý, liền sai người tẩy đi, thì tượng bỗng nhiên tự hủy. Nay trong chùa không có tượng Hộ Pháp”.

[Theo người dịch có lẽ tượng làm bằng đất, rửa bằng nước thì bị hỏng mà thôi]

(22) Nguyên chú: “Khi vua còn bé, mắc lỗi nhỏ bị sư thày trói để nằm dưới đất, nhân đó làm bài thơ rằng:

"Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên,

Nhật nguyệt song hành đối ngã miên.

Dạ thâm bất cảm thân trường túc,

Duy khủng sơn hà xã tắc điên”

Nghĩa là:

Trời làm màn gối, đất làm chăn,

Nhật nguyệt cùng ta ngủ thiếp liền.

Đêm thâu chẳng dám đưa chân duỗi

Luống sợ sơn hà xã tắc nghiêng.

Khí tượng đế vương đại khái như thế.

- Câu nói ở mộ Đại Vương là: “Thiên đức phú quý” [đức trời giàu sang], sau này dổi tên châu Cổ Pháp thành phủ Thiên Đức, thực là ứng nghiệm”.

(23) Tháng tý là tháng 11. Sau khi Lê Ngọa Triều băng hà, chúa nối còn nhỏ nên tháng 11 năm Kỷ Dậu [1009], Lý Công Uẩn khi đó làm Thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ được quần thần suy tôn làm vua, thay nhà Lê.

(24) Sau câu này văn bản con chép câu “Nhật ảnh một đăng sơn/san”, người dịch cho rằng có sự nhầm lẫn, bởi câu này ở dưới cũng chép. Xin nêu ra để tìm hiểu thêm.

(25) Nguyên chú: .

“Vua [Lý] Huệ Tông tên là Sảm, ban ngày lên núi khuất bóng. Vả lại tổ tông đời trước của vua Trần Thái Tông làm nghề chài lưới.

Thái Đường thuộc xã Hoa Lâm huyện Đông Ngàn nay là xã Mai lâm huyện Đông Anh. Thôn Thái Đường là quê của Phạm thị mẹ vua Lý. Quốc sử nói các vua Lý làm lễ bái Tiên hậu [Mẹ vua Lý, tức bà Phạm Thị Ngà] ở Thái Đường Hoa Lâm, ngoài ruộng có di chỉ “bát vị”[tám vị vua nhà Lý].

Lôi Dương thuộc Đông Ngàn, là lăng hậu duệ của Lý Thái Tổ, nay có miếu “bát vị” ở đó”.

[Câu thơ trên muốn nói, nhà Lý đến vua Lý Huệ Tông là chấm dứt. Vua Lý Huệ Tông không có con trai, nhường ngôi cho con gái là Lý Chiêu Hoàng, đi tu ở chùa Chân Giáo, sau bị Trần Thủ Độ ép phải chết. Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh, tức vua Trần Thái Tông].

(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.146-160)

Dương Văn Hoàn
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm