18. Giới thiệu bài Cổ pháp chân long sự tích - Một bản thần tích về Lý Công Uẩn (TBHNH 2010)
GIỚI THIỆU BÀI CỔ PHÁP CHÂN LONG SỰ TÍCH - MỘT BẢN THẦN TÍCH VỀ LÝ CÔNG UẨN
DƯƠNG VĂN HOÀN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Thần tích là những tư liệu ghi chép về lai lịch, sự tích, hành trạng, công đức,... của các vị tôn thần, thành hoàng được thờ tự tại đình, đền, nghè, miếu... ở các địa phương. Thông thường một bản thần tích chữ Hán bao gồm ba phần chính: 1) phần mở đầu kể về lai lịch, bối cảnh ra đời của vị thần; 2) phần chính giữa thuật lại sự tích, hành trạng của đức thánh; 3) phần cuối ghi chép về các nghi thức thờ cúng vào các kỳ lễ tiết.
Không giống như các bản thần tích thông thường vừa nêu, bản thần tích của thôn Thọ Hội xã Đặng Lễ huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên(1) lại mang nhiều đặc điểm khá độc đáo, không chỉ về mặt nội dung mà còn ở cả kết cấu và cách thức trình bày văn bản.
Bản thần tích này là sự chắp ghép của hai đơn vị tác phẩm ở hai thể tài hoàn toàn khác nhau. Trong đó, một bài mang tên Cổ pháp chân long sự tích 古法真龍事跡 và một bài đề là Lý triều công đức bi văn 李朝功德碑文.
Về bài thứ nhất, đây là một bài thơ lục ngôn trường thiên(2) theo vần trắc dài 56 câu, ghi chép về sự tích của vua Lý Thái Tổ(3), song không thấy ghi người soạn là ai. Văn bản bài này cũng được trình bày khá đặc biệt(4), đó là phần chính văn và phần chú thích đều được ghi với cỡ chữ như nhau, nhưng có phân biệt chút ít là phần chính văn thì được viết đài lên trên một chữ, ngược lại phần chú thích thì viết bằng, tuy nhiên cách viết này cũng không nhất quán. Về mặt nội dung, dù được viết hết sức súc tích, ngắn gọn, song bài thơ đã gợi nhắc được rất nhiều sự tích mang tính huyền ảo, kỳ bí đậm chất dân gian và ghi lại được hầu hết các địa danh gắn liền với cái nôi phát tích của vương triều Lý. Bài thơ thể hiện sự tài hoa, điêu luyện của tác giả trong việc kết hợp nhuần nhuyễn các tư liệu chính sử với các huyền tích dã sử có liên quan.
Còn bài thứ hai, là bài văn bia viết vào năm Hoằng Định thứ 5 (1605), nhưng văn bản không nói rõ họ tên tác giả, mà chỉ cho biết thông tin về tác giả là “Tứ Canh Thìn khoa Tiến sĩ xuất thân, Kiệt tiết Tuyên lực công thần, phụng vãng Bắc sứ, tiến Kim Tử vinh lộc đại phu soạn”. Về bài văn bia ấy, sau khi chúng tôi tra cứu dựa trên những chỉ dẫn về nhân vật và nội dung của văn bia thì được kết quả đó chính là bài văn khắc trên tấm bia Cổ Pháp điện tạo bi古法殿造碑 đặt ở Đền Đô do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan soạn. Tuy nhiên khi đối chiếu với văn bia gốc và bản rập của Viện Nghiên cứu Hán Nôm thì văn bản đã lược bớt hẳn đoạn nói tiểu sử của 7 vị vua nhà Lý sau Lý Thái Tổ, có lẽ bởi địa phương chỉ thờ Lý Thái Tổ làm thành hoàng, nên thần tích đã bỏ không chép các vị vua khác chăng?
Do tấm bia trên đã có vài bản dịch, cộng với khuôn khổ của bài viết không cho phép, dưới đây chúng tôi chỉ xin được giới thiệu toàn văn bài Cổ Pháp chân long sự tích và coi như là một chút lòng thành của cá nhân gửi tới Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
Phiên âm:
Cổ Pháp chân long sự tích(5)
Bắc Giang Dịch Bảng hương,
Kỳ tự hiệu Lục Tổ.
Đại Đường Trinh Quán gian,
Định Không tăng lưu trú.
Quật khởi đắc hương bài,
Thủy khứ thập khẩu cổ.
Gia Phù uất uất sinh,
Vượng khí kì thục ngự!
Phù Chẩn thập cửu trì,
Phong Khê nhất điều lộ.
Ác tai! Đường Cao vương,
Tạc trì không yểm chú.
Thái Thanh Đinh thị tăng,
Trụ trì Song Lâm tự.
Phù Chẩn điền cổ trì,
Điềm Giang chủng mộc thụ.
Pháp lịch tàng phù đồ,
Linh phù trấn yểm xứ.
Kế hữu bản tự tăng,
Kim tượng mai tiền hộ.
Dĩ đãi hà thanh kỳ
Tương truyền thế phụng thủ.
Bột bột “Ngưu miên” phần,
Địa linh vi bảo hộ.
Tiêu Sơn nhạc giáng thần,
Đĩnh sinh Lý Thái Tổ.
Cảm Tuyển khuyển thành văn,
Song Lâm trùng triện tự.
Đồng ngao trưởng lão gia,
Hiển Khánh Đại vương mộ.
Thái long hiện mộc miên,
Vũ hạc phi đương lộ.
Thiên mệnh tự hữu quy,
Vương giả nguyên bất tử
Tam Cức Hộ Quốc ông,
Lục Tổ Khánh Văn phụ.
Khai Quốc tăng tư bình,
Kiến Sơ thần dạ tố.
Đại chí nghiệm thi văn,
Thiên đức như sấm ngữ.
Thử nguyệt hội thuần hy,
Đại Lê vi Thiên tử.
Nhất bát hóa thế gian,
Tam bách truyền bảo tộ.
Kiến Sơ thần nhân thi
[Thi] vân:
“Nhất bát công đức thủy.
Tùy duyên hóa thế gian,
Quang quang trùng minh diệu
Nhật ảnh một đăng san
Ngư gia xuất Trần hi
Thái Đường thuộc phấn du
Dương Lôi kinh hòa thử
Sơn hà ủy cố khư”
Bát lăng gian khâu thổ
Quá khách tâm du du
Viện bút ký tiền sự".
Tạm dịch:
Sự tích chân long châu Cổ Pháp
Hương Dịch Bảng lộ Bắc Giang(6),
Có ngôi chùa tên Lục Tổ(7).
Năm Trinh Quán nhà Đại Đường,
Sư Định Không đến ở đó(8).
Đào dưới đất được thẻ hương,
Rơi xuống nước mười miếng cổ(9).
Đất Gia Phù phát ùn ùn,
Vượng khí này ai ngự nổi!
Làng Phù Chẩn mười chín ao,
Đất Phong Khê đắp một lộ.
Ghê gớm thay! Đường Cao vương,
Đào ao rỗng hòng yểm chú(10).
Năm Thái Thanh sư họ Đinh,
Đến trụ trì Song Lâm tự(11).
Ở Phù Chẩn lấp ao xưa,
Chốn Điềm Giang trồng miên thụ(12).
Làm lịch phép giấu phù đồ,
Đưa bùa thiêng trấn yểm chỗ(13).
Nối chùa này có vị tăng,
Đúc tượng vàng chôn trước cửa.
Đợi bao giờ nước sông trong
Truyền đời nhau cùng thờ giữ.
Mộ “Trâu ngủ” phát ùn ùn,
Đất linh thiêng làm bảo hộ
Núi Tiêu Sơn có giáng thần
Sinh ra vua Lý Thái Tổ(15).
Chó Cảm Tuyển lông có vằn
Sâu Song Lâm ăn thành chữ.
Nhà trưởng lão chó đồng kêu,
Mộ Đại Vương tiếng vang rõ(17).
Ở cây gạo hiện rồng vàng,
Trên đường đi hạc bay múa(18).
Có mệnh trời ắt tự về,
Bậc vương giả vốn bất tử(19).
Tam Cức gặp Hộ Quốc ông,
Cha Khánh Văn chùa Lục Tổ(20).
Chùa Khai Quốc tăng phẩm bình,
Thần Kiến Sơ đêm mách ngỏ(21).
Chí cả ứng nghiệm thơ văn,
Đức trời sánh như sấm ngữ(22).
Tháng tý hội khắp quần thần
Thay Lê lên làm thiên tử(23).
Một bát hóa duyên thế gian
Ba trăm năm truyền bảo tộ(24).
Thơ thần nhân chùa Kiến Sơ
Thơ rằng:
“Một bát nước công đức,
Hóa duyên khắp thế gian.
Vằng vặc soi ánh sáng,
Bóng trời khuất núi xa.
Nhà Trần nghề chài lưới,
Thái Đường nhuốm màu cây.
Lôi Dương thành ruộng lúa,
Sông núi gởi gò xưa”
Đất gò tám lăng còn đó
Khách thăm lòng những bùi ngùi
Mượn bút để ghi chuyện cũ.
Chú thích:
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.146-160)