VI | EN
18. Mạc Thiên Tích - sự hòa nhập với dòng thơ Việt Nam qua “Chiêu Anh các” (TBHNH 1997)
TBHNH 1997

MẠC THIÊN TÍCH - SỰ HÒA NHẬP VỚI DÒNG THƠ VIỆT NAMQUA “CHIÊU ANH CÁC”

ĐỖ THỊ HẢO

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

“Chiêu Anh các” là hội thơ do Mạc Thiên Tích sáng lập. Ông là con của Mạc Cửu (1655-1735) vốn người Lôi Châu, Quảng Đông Trung Quốc. Mạc Cửu chống lại triều đình nhà Thanh, cùng với lưu dân nhà Minh bỏ trốn đến khai cơ lập nghiệp ở vùng đất Hà Tiên. Chúa Nguyễn (Tộ Quốc Công, Nguyễn Phúc Chu) tiếp nhận và phong cho chức Tổng binh. Lúc ban đầu, Mạc Cửu thần phục Chân Lạp, được vua Chân Lạp cho khai khẩn vùng đất Mang Khảm (tên cũ của Hà Tiên). Sau đó Chân Lạp bị Xiêm đánh chiếm, Mạc Cửu cùng gia đình bị bắt sang Xiêm, nhưng may mắn sao lại trốn thoát trở về Mang Khảm, và lúc bấy giờ bắt đầu quy phục chúa Nguyễn.

Con đường “Nam tiến” ngày một phát triền, dân chúng ngày một đông, đã tạo cơ sở cho Mạc Cửu có điều kiện vững vàng hơn. Lúc đó giữa Chân Lạp và Xiêm luôn xảy ra nhưng cuộc đụng độ, ngay trong nội bộ vương triều Chân Lạp cũng có sự xung đột phải nhờ đến sự giúp đỡ của các chúa Nguyễn. Với đường lối ngoại giao khôn ngoan và khéo léo, các chúa Nguyễn đã giúp cho thế lực Mạc Cửu ngày một ổn định và hoàn toàn gắn bó với xứ Đàng Trong của nước Nam, Mạc Cửu qua đời, trao quyền lại cho con.

Năm 1735 chúa Nguyễn phong cho Mạc Thiên Tích chức Hà Tiên trấn Tổng binh Đại đô đốc, Mạc Thiên Tích nhận chức phong ấy và thừa nhận mình ở trong hệ thống quan chức của Đàng Trong đồng thời tự thấy mình đã tìm được một chỗ đứng hợp với sở nguyện.

Lưu loát hưởng dư ơn nước thịnh,

Ê hề sẵn có của trời dành

Dân no thì đó là an lạc

Lựa phải chôn chân chốn thị thành

(Lộc trĩ thôn cư)

Rõ ràng đây là quan điểm muốn tìm một chỗ yên ổn để dung thân. Mạc Thiên Tích chấp nhận sự hòa nhập vào với những người dân Việt, vì chỉ có ở Việt Nam họ mới có cuộc sống no ấm, yên ổn thanh bình. Trong bài thơ chữ Hán “Lộc trí thôn cư”, cũng có câu:

“Đã trinh thiên động viên lộc tĩnh

Thanh tâm mỗi tiễn đạo hương linh”…

Dịch nghĩa:

Thích sự chất phác mộc mạc như hươu nai yên tĩnh.

Lòng thanh đạm thèm mùi lúa nếp lúa tẻ thơm tho.

Tuy gốc là người Trung Quốc, Mạc Thiên Tích đã tự coi mình là người Việt Nam và sự thực trong ý thức của ông, ông đã xử sự như vậy. Thời kỳ Mạc Thiên Tích trấn thủ Hà tiên, Xiêm vẫn tiếp tục gây ra những hiềm khích. Năm 1771 Xiêm đem quân đến đánh chiếm Hà Tiên, Mạc Thiên Tích phải bỏ chạy về Gia Định. Đến năm sau, Nguyễn Phúc Thuần đưa quân về cứu viện, Xiêm bị thua vì thế Mạc Thiên Tích lại được trở về Hà Tiên. Cho đến năm 1771 Tây Sơn đánh đuổi họ Nguyễn, Mạc Thiên Tích đem con của Nguyễn Phúc Ánh chạy trốn sang Xiêm. Nhưng triều đình nước này đã không đón tiếp họ một cách niềm nở cho lắm. Cuối cùng, để giữ lòng trung thành với chúa Nguyễn Nam Hà, năm 1780 Mạc Thiên Tích đã nuốt vàng tự tử, lúc đó ông 75 tuổi. Nay ở đền thờ Mạc Thiên Tích tại Hà Tiên, nơi gọi là Mạc Công miếu vẫn còn đôi câu đối ca ngợi ông:

Địa tịch hùng phiên tăng biệt bản

Kim thôn anh khí điện Xiêm thành.

Tạm dịch:

Dựng trấn nên công mở mang đất Việt,

Nuốt vàng tỏ chí rung động thành Xiêm.

Vậy nguyên do nào đã làm cho Mạc Thiên Tích có sự gắn bó đối với vùng đất Nam Hà này như vậy? Phải chăng đó là tâm lý chung của lớp lưu dân bất mãn và chống đối lại triều đình nhà Thanh, họ đã tới đây để tránh nạn, để thoát ly với ách thống trị của người mà họ cho là ngoại tộc. Chắc chắn dưới con mắt của những người dân Hoa Nam hồi ấy, nhà Thanh chỉ là một phường “Mãn”… rồi những triết lý về trung, nghĩa… của kẻ di dân cũng luôn ám ảnh họ, khiến cho họ ít hướng đến ngày trở về Tổ quốc. Thêm vào đó, đến vùng đất mới này họ vẫn gặp phải cảnh chiến tranh, vẫn phải đụng độ với bao cuộc tranh chấp. Thời gian đã cho họ nhận ra trong số các thế lực Xiêm, Chân Lạp và Nam Hà, thì nơi nào là chỗ dựa vững chắc nhất. Nhưng một lý do khá quan trọng là mảnh đất Hà Tiên tuy là một bộ phận của cõi Nam Hà nhưng là vùng đất đã thấm mồ hôi của bà con, họ hàng và chính bản thân dòng họ Mạc này. Chính vì lẽ đó mà Mạc Thiên Tích đã gắn bó mật thiết với vùng đất này và luôn tự hào với công lao của mình. Tự hào và nói ra điều này để khẳng định vị trí của mình đối với chúa Nguyễn và cũng để gián tiếp đương đầu với nhà Thanh ở phía bên kia; điều này đã thể hiện rất rõ trong bài “Kim dữ lan đào”.

Kim chỗ này là núi chốt then,

Xanh xanh dành trấn cửa Hà Tiên,

Ngăn ngừa nước dữ khôn vùng vẫy,

Che chờ dân lành khỏi ngửa nghiêm

Thế cả vững vàng trên Bắc hải

Công lao đồ sộ giữa Nam thiên

Nước yên chẳng chút lòng thu động

Rộng bủa nhàn xe tiếp bách xuyên.

Như vậy “nước dữ” trong bài thơ nà là chỉ ai? nếu không phải là nhà Thanh. Cũng trong bài thơ trên, Mạc Thiên Tích đã có những câu nói rất rõ quan điểm của mình.

E khi nổi trận nắng mưa

Sức lăm đánh Bắc tài lừa phò Nam

Thời có làm, dốc an muôn chúng,

Bồi thành dài mặt chống nước xa

Ghe phen chiến hạm vào ra

Thu đào vỡ mật Phục Ba kinh hồn.

Trong giai đoạn này họ Trịnh ở ngoài Bắc thế lực đã suy yếu lắm rồi, cho nên việc đánh Bắc ở đây chắc không phải là họ Trịnh, mà là đánh “nước xa”, đánh lại nhà Thanh, đánh cho họ phải kinh hồn.

Tất cả những lý do trên có thể là đúng, nhưng chưa hoàn toàn đủ, nếu chúng ta chưa xem xét đến sự kiện “Chiêu Anh các”. Chiêu Anh các được sáng lập năm Bính Thìn (1736), nó tập hợp những người ham chuộng thơ văn, cùng nhau xướng họa, ca ngợi đất Hà Tiên. Tư liệu cũ để lại cho biết: ở đây người ta cũng mở trường dạy học, không những dạy thơ văn mà còn luyện tập cả võ nghệ nữa.

Toàn bộ những người tham gia trong hội thơ “Chiêu Anh các”, con số nhất định là bao nhiêu thì chưa rõ, song trong sách Phủ biên tạp lục của Lê Quí Đôn có ghi: Mạc Thiên Tích làm nhiều bài thơ ca ngợi thiên nhiên và cuộc sống ở Hà Tiên – vùng đất mới khai phá này. Các nhà thơ trong “Chiêu Anh các” đã họa lại, nâng con số 10 bài lên tới 320 bài. Như vậy ngoài Mạc Thiên Tích ra còn có 31 người nữa tham gia vào cuộc họa thơ này. Lê Quí Đôn đã ghi đầy đủ danh sách các vị này trong đó 26 người là người Trung Quốc và chỉ có 6 người Việt tham gia.

Đó là số người họa thơ “Hà Tiên thập vịnh” Mạc Thiên Tích còn làm thơ vịnh bốn mùa; lấy tên là “Thụ đức hiên tứ thời khúc vịnh” sách Kiến văn tiểu lục cũng ghi tên 32 người Trung Quốc nữa tham gia họa lại thơ “bốn mùa” của Mạc Thiên Tích. Có thể xem “Hà Tiên thập vịnh” là những bài thơ tả cảnh Hà Tiên trong không gian, còn “Thụ đức hiên tứ thời khúc vịnh” là những bài thơ tả cảnh Hà Tiên trong thời gian. Nếu có điều kiện tìm hiểu sâu về hành trạng của những người trong hội thơ “Chiêu Anh các”, chắc chắn chúng ta sẽ biết được nhiều điều lý thú trong cuộc sống của họ trên đất Việt Nam.

Có một điều đáng chú ý là Mạc Thiên Tích cùng với những nhà thơ trong “Chiêu Anh các” không chỉ làm thơ chữ Hán mà còn làm được thơ Nôm. Những người Minh Hương, khách trú ở nước ta cũng có nhiều người theo học ở các trường của Việt Nam, họ tham gia thi cử, thậm chí có người được dự vào triều chính và đã giữ vai trò khá quan trọng trong một giai đoạn nhất định của lịch sử. Trần Tiễn Thành đã từng là đệ nhất phụ chính đại thần của triều Nguyễn, sau khi Tự Đức qua đời là một ví dụ. Song tác phẩm Nôm của những người Trung Quốc ở Việt Nam thì chưa thấy được công bố. Có lẽ trường hợp “Chiêu Anh các” là trường hợp độc nhất được ghi lại trong thư tịch và sử liệu.

Thơ Nôm xung quanh đề tài Hà Tiên của nhóm “Chiêu Anh các” không chỉ là loại tám câu bẩy chữ theo đúng luật Đường mà còn có cả thơ song thất lục bát. Đây là một điều hơi lạ, bởi lẽ ở những năm thuộc đầu thế kỷ XV, thơ Đường đã xuất hiện ở Việt Nam với Hàn Thuyên, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… còn lục bát và song thất lục bát thì chưa phải là đã phổ biến. Những Ngọa Long Cương vãn, Tư dung vãn của Đào Duy Từ, Tứ thời khúc của Hoàng Sĩ Khải, Truyện Huê tình của Nguyễn Phúc Đán đã ra đời nhưng chưa phổ cập. Còn những bản Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc… cũng đều xuất hiện sau thơ của nhóm “Chiêu Anh các” mà đứng đầu là Mạc Thiên Tích: Vậy họ đã hòa được với cuộc sống trên đất Việt như thế nào, đã tiếp thu được không khí văn thơ Nôm của thời đại như thế nào, để có thể sáng tác nên những tác phẩm rất Việt Nam như thế. Nhóm “Chiêu Anh các” dù đa số là “người Việt gốc Hoa”, thậm chí có cả người Hoa thuần túy, trong đó có người chỉ tham gia hội thơ một cách gián tiếp (họ ở tận Quảng Đông, Quảng Châu làm thơ gửi sang). Nhưng họ đã chấp nhận và tiếp thu được cái vốn tinh thần của đặc sắc Việt Nam.

Vốn bản địa ở đất Nam Hà này là gì? Nếu không phải là sức mạnh của nền văn hóa Việt Nam, do những con người Việt Nam phát huy truyền thống của mình trên quê hương mới, ở đó có công đóng góp của những con người như Mạc Cửu, Mạc Thiên Tích. Họ đã cùng với những lưu dân phương Bắc dựa trên cơ sở lực lượng đông đảo dân chúng Việt trên con đường Nam tiến, lập nên làng xóm, tổ chức cuộc sống mới, khai thác tài nguyên để tô điểm cho đất Hà Tiên thêm sức sống và thêm phần mỹ lệ. Mạc Thiên Tích và các nhà thơ “Chiêu Anh các” đã thực sự gắn bó với người dân đất Việt. Họ cảm thông, chăm chút và trân trọng cuộc sống đang lên ở vùng đất Hà Tiên hồi ấy. Họ thấy cuộc sống bình dị của nông thôn Việt Nam đã thực sự là cuộc sống của họ, nó gần gũi và quen thuộc làm sao.

Cách bên khe tiếng ngư ra rả

Gõ be thuyền ca vã đòi cung

Dưới vừng mấy trẻ mục đồng

Lưng trâu thổi địch gió lồng theo khe

Chiều đi về dùng dằng chẳng dứt,

Cùng lân la trưa mặt còn chơi.

(Bình An diệp thúy)

Tận đáy lòng họ thấy thật sự yên tâm và thanh thảnh.

Đã no say lại tình nhân nhượng,

Vì ở nơi cư thượng hữu khoan

Thảnh thơi đất thẳng bừa an,

Có dân làm lụng có làng ăn chơi…

(Lộc Trĩ thôn cư)

Họ đã chấp nhận nền văn hóa bản địa một cách mặc nhiên, dù cũng có lúc nào đó họ so sánh với cái quá khứ buồn rầu của họ.

Ngay từ những ngày đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã đối đầu với một thử thách lâu dài truyền kiếp, đó là những cuộc xâm lược của ngoại bang. Trong các làng xóm Việt Nam (kể cả vùng Hà Tiên) luôn luôn được lưu truyền những câu chuyện về anh hùng liệt nữ, ở mọi giai đoạn trong lịch sử Việt Nam. Mạc Thiên Tích và nhóm “Chiêu Anh các” không thể không tiếp thu tinh thần này, có điều thuận lợi là ít nhiều sự tiếp thu này lại phù hợp với tâm lý của họ. Họ đang căm giận nhà Mãn Thanh phải bỏ quê hương để đi tìm nơi dung thân mới. Không có gì đảm bảo rằng đến một lúc nào đó nhà Thanh sẽ không đi lùng sục tung tích của họ và giáng lên đầu họ một sự trừng phạt nặng nề, và như thế tốt nhất nên tự xem mình là một thành viên trung thực của cộng đồng mới này, phải hết sức bảo vệ cộng đồng, cùng với cộng đồng chia bùi sẽ ngọt, gắn bó với nhau cả về vật chất lẫn tinh thân. Họ đã chọn đúng đường và làm đúng hướng. Thời gian đã giúp họ bền vững thêm ý thức đó, sâu sắc hơn tâm lýu đó. Trong cuộc sống êm đềm ngày hôm nay, với những việc bình dị diễn ra hàng ngày ở làng quê Việt Nam.

…Cò đâu kể số muôn ngàn,

Trông mây vén ngút man man bay về

Đầy bốn bề kêu la tở mở

Lượn rồng rồng như vỡ chòm o­ng.

Bôi ngâm rồi phấn giữa không,

Sương ken đòi cụm tuyết phong khắp hàng…

Bỏ ngày khác chốn giang tần,

Cá tôm dỡn mặt, xa gần ỏi tai

Xót cõi người doi le bãi hạc

Nhớ đầm xưa lại nhắc ngọt ngào

Chi bằng cây cả tầm cao,

Co tay một giác ba sào chưa hay…

(Châu nham lạc bộ)

Những từ cửa miệng rất dân dã: tở mở, lượn rồng rồng, ỏi tai, doi le… vừa nôm na lại vừa gần gụi với cuộc sống đời thường cũng không ngạc nhiên khi thấy trong thơ văn của “Chiêu Anh các” còn có cả những câu đầy tinh thần cảnh giác.

Yêu nước nhà phải gài then chốt,

Dự phòng khi nhảy nhót binh đao

Đêm hằng canh trống truyền lao,

Miễn an đất chúa quản nào thân tôi.

(Giang thành dạ cổ)

Thơ Nôm của Mạc Thiên Tích thì như thế, thơ chữ Hán của ông cũng tràn đầy lòng tự tin:

Ngư long mạng giác xung nan phá,

Y cựu băng tâm thượng hạ quang

(Đông hồ ấn nguyệt)

(Loài cá, loài rồng khó quẫy phá nổi,

Tấm lòng trong suốt như băng vẫn chói chang)

Câu chuyện chúa Nguyễn ở Nam Hà có phải là vị chúa anh minh hay không, là vấn đề khác. Còn ở đây, rõ ràng là sự gắn bó của Mạc Thiên Tích với đất nước Việt Nam đã thể hiện khá đậm nét trong thơ của nhóm “Chiêu Anh các”. Đó là điều không thể nào bác bỏ được. Điều đáng suy nghĩ là vì đâu mà Mạc Thiên Tích cùng với nhóm “Chiêu Anh các” của ông đã có sự gắn bó mật thiết với quê hương Việt Nam như thế, nếu không phải là do sức mạnh cuốn hút của văn hóa Việt Nam trên miền đất mới này. Điều có thể khẳng định là hội thơ “Chiêu Anh các” đã hòa nhập được vào dòng chảy của thi ca Việt Nam đương thời.

Thông báo Hán Nôm học 1997 (tr.150-159)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm