19. Bài tán đối ở đền thờ Lý Phục Man của Lý Trần Quán (TBHNH 2010)
BÀI TÁN ĐỐI Ở ĐỀN THỜ LÝ PHỤC MAN
CỦA LÝ TRẦN QUÁN
TRƯƠNG SỸ HÙNG
Viện Nghiên cứuĐông Nam Á
Về nhân vật Lý Trần Quán, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có viết: “Ông người làng Vân Canh, huyện Từ Liêm (Hà Đông) năm 32 tuổi đỗ Đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất (1766) đời Cảnh Hưng.
Mùa hạ năm Bính Ngọ (1786), ông đang làm việc ở Lại Phiên, đi dụ phủ Tam Đới (nay thuộc tỉnh Vĩnh Phúc) lúc ấy đóng ở Yên Lãng. Khi quân Tây Sơn tiến sát kinh thành, Đoan Nam vương (Trịnh Khải) chạy sang phía tây, đến địa phận Yên Lãng tìm đến nơi ông ở nhằm lánh thân.Ông vội chạy ra cúi lạy đón chào theo lễ bề tôi; rồi mật sai thủ hạ là Nguyễn Trang, người làng Hạ Lôi bảo vệ chúa. Biết đây là chúa Trịnh, Trang bắt đưa ngay về kinh. Nghe tin có biến, ông tìm ngay, nhưng không gặp được nữa vì Trang đã đưa chúa đi xa rồi. Ông kêu trời thảm thiết, tự thề xin chết.
Bị Trang cưỡng bức đưa về cung, trên đường đi chúa Trịnh tự vẫn chết. Được tin, Lý Trần Quán phẫn uất lắm,về đến nhà trọ ông nói với chủ nhà: “- Ta là bề tôi làm hại chúa, không chết thì không giải được lòng trung này với trời đất.” Ông sai chủ quán sửa cho cỗ áo quan, rồi đào huyệt ở vườn sau, đặt quan tài vào huyệt, mặc áo mũ hướng về phía nam lạy hai lạy, bỏ áo mũ ra lấy vải trắng đội vào đầu, thắt dải vải to (như khâm liệm tử thi- TSH- chú thêm), nằm yên trong quan tài, mồm đọc câu đối:
Tam niên chi hiếu dĩ toàn
Thập phần chí trung vị tận.
Nghĩa là:
Hiếu ba năm đã vẹn
Trung mười phần chưa xong.
Rồi sau đó, ông dặn chủ nhà báo cho con ông biết mà viết câu đối ấy vào chỗ thờ, rồi sai chủ quán đậy nắp áo quan lấp đất lên. Việc xảy ra sau khi chúa mất hai ngày.
Sinh thời, ông là người có hiếu hạnh, giản dị, chất phác, nay chết theo nạn chúa, nghe tin ai cũng thương xót. Đầu đời Chiêu Thống, lục người tiết nghĩa, truy tặng ông chức Thượng thư, tước Quận công, phong Phúc thần hạng Trung”. Đáng quí hơn, cuối lời án, Phan Huy Chú lại thốt lên: “Than ôi! Người ta mà có thể chết vì tiết nghĩa được là gốc ở danh nghĩa; danh nghĩa có thể khích lệ được người là ở cương thường. Nếu cương thường không chính, thì con người thành thói cẩu thả xu thời, mà mất cả cái khảng khái chết theo nạn nước. Cái tệ hại ấy thậm chí như đất lở, ngói tan không còn duy trì được nữa.”
Tìm hiểu nguồn gốc xuất thân, Lý Trần Quán vốn xưa là con cháu họ Trần ở làng Thái Bạt (nay thuộc xã Tòng Bạt huyện Ba Vì, Hà Nội); chỉ đến khi ông về ở quê ngoại tại thôn Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức mới lấy họ Lý - theo họ mẹ. Năm 32 tuổi ông thi Hội, khoa Bính Tuất (1766) niên hiệu Cảnh Hưng thứ 27 đỗ Đồng Tiến sĩ, làm quan đến chức Đại học sĩ, giữ chức Tư nghiệp Quốc tử giám, Thiêm sai ty Binh phiên. Sử sách ghi tên ông là người hiếu hạnh, làm quan thanh liêm chính trực, sống giản dị chất phác, luôn giữ đạo trung quân.
Căn cứ vào hiện vật còn lưu giữ ở Quán Giá thì chỉ hơn một năm trước khi Lý Trần Quán về cõi vĩnh hằng; vào tháng 3 năm Ất Tỵ (1785) ông đã viết một bài tán đối cung tiến vào đền thờ Lý Phục Man, một anh hùng hào kiệt của dân tộc dưới triều Tiền Lý (541-545) ở hương Cổ Sở (nay thuộc xã Yên Sở, huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội). Bài văn viết theo thể phú biền ngẫu, dạng phú đối; mỗi vế một trăm chữ, nhằm ca ngợi công lao sự nghiệp của vị thần chủ Lý Phục Man. Các nho sĩ bình dân trong vùng xưa nay vẫn gọi đây là đôi câu tán đối. Gần 100 đôi câu đối kể cả nguyên tác và phục chế hiện tồn ở Quán Giá, phải kể là rất đa dạng về kích thước, hình mẫu trang trí mang dấu ấn từ thời Lê đến thời Nguyễn và cả thời dân chủ cộng hòa nữa, vì nội dung mỗi đôi câu đối một khác, số lượng chữ cụ thể của từng câu có độ dài từ năm chữ đến 37 chữ một vế. Mặt khác, toàn bộ khu di tích lịch sử văn hóa này đã từng bị hỏa hoạn thiêu đốt năm 1947, nên cái còn cái mất. Đặc biệt ở hai bài cũng là hai vế đối của Tiến sĩ Lý Trần Quán đề tặng là hay nhất, dài nhất và cũng chuẩn nhất về âm luật, về đại đối, tiểu đối. Tương truyền, cả hai bài của hai vế đối được thêu chữ trên hai tấm lụa rộng; treo giữa tiền đường ở đền hạ, ngay từ năm Ất Tỵ (1785). Phần trán của cung thờ ở chính điện là bức hoành phi khắc bốn chữ “Vạn cổ can thành” (萬古干城chứ không phải là Vạn cổ thiên thành 萬古千城 như sách Đình Việt Nam in năm 1998 đã ghi). Như trục đỡ đôi bên, hai vế đối làm nền ở cõi linh thiêng cho đôi hạc thờ, dù có bị cháy mất rồi cũng được tái tạo. Ảnh chụp toàn bộ khung cảnh trong sách của Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên năm1938, với từng nét chữ rõ ràng và khá nhiều bản sự tích đức thánh Giá đang được lưu giữ trong các tủ sách gia đình ở Yên Sở và Đắc Sở, Yên Thái... thể hiện sự trân trọng của nhân dân trong vùng với tác phẩm độc đáo của Lý Trần Quán. Tuy nhiên, vì “tam sao thất bản” nên đây đó trong từng văn bản có những chữ viết hơi khác nhau, ở đây chúng tôi căn cứ vào hai bức thêu để giới thiệu.
Bài tán này đã được thêu chữ bằng chỉ vàng, trên nền vải lụa đỏ chia thành hai tấm, treo cân đối hai bên. Theo các cụ trong làng cho biết thì đôi câu đối này là do hội đồng niên Nhâm Thìn (1952), xã Yên Sở mới phục chế lại như nguyên dạng.
Toàn bộ nội dung hai bài thể hiện hai vế đối như sau:
Vế I:
出文入武艇全才
軒昴氣宇勤王
于唐林于九德
蘩可舒錯可解
尋鼎勤崇勳
洿喔脊荷龍知
名姓稠膺寵錫
閫庭後庙庭重席矬
斗台儼若儀型
以多年方略
運此日經綸
玉燭光回四海
夷攻嶺掠珪璋
越幽華袞
遺書種種儘榮褒
三生偉烈英猷
南國乾坤在
Xuất văn nhập vũ đỉnh toàn tài.
Hiên ngang khí vũ cần vương.
Vu đường lâm vu cửu đức.
Phiền khả thư thác khả giải.
Tầm đình cần sùng huân.
Ô ốc tích hà long tri.
Danh tính trù ưng sủng tích.
Khổn đình hậu miếu đình trùng tịch toạ.
Đầu thai nhiễm nhược nghi hình.
Dĩ đá niên phương lược.
Vận thử nhật kinh luân.
Ngọc chúc quang hồi tứ hải.
Di công lĩnh lược khuê chương.
Việt u hoa cổn.
Di thư chủng chủng tận vinh bao.
Tam sinh vĩ liệt anh du.
Nam quốc càn khôn tại.
Vế II:
流水峙山鍾睡氣
赫奕威風顯聖
于李代于陳朝
夢其接神其凝
冕旒垂睿鑑
創叢祠粧寶像
歲匙丕享薦誠
香火餘兵火幾番更
旄鉞猶然聳慴
卒土擾攘
奠生宗作息
萶臺剩占壹區
故怙禽調哥管
樹隱旌旗
古所般都著見
萬祀駿聲馨號
西天日月長
Lưu thuý trĩ sơn chung thụy khí.
Hách dịch oai phong hiển thánh.
Vu lý đại vu trần triều.
Mộng kỳ tiếp thần kỳ ngưng.
Miện lưu thuỳ duệ giám.
Sáng tùng từ trang bảo tượng.
Tuế thời phi hưởng tiến thành.
Hương hỏa dư binh hỏa cơ phiên cánh.
Mao việt do nhiên tủng triếp.
Tốt thổ nhiễu nhương.
Điện sinh tông tác tức.
Xuân đài thặng chiếm nhất khu.
Cố hỗ cầm điều ca quản. thụ ấn tinh kỳ.
Cổ sở ban ban đô trứ kiến.
Vạn tự tuấn thanh hinh hiệu.
Tây thiên nhật nguyệt trường.
Tạm dịch:
(I)
Ra là tướng văn,
Vào là tướng võ.
Vượt trên mọi nhân tài đất nước,
Phò vua khí vũ hiên ngang.
Khi lên Đường Lâm(1)
Lúc qua Cửu Đức(2)
Khi thắng trận không hề bỏ lỡ,
Lúc gian truân bình tĩnh gỡ ra.
Tìm kiếm hiền tài gian khổ xông pha,
Nơi thôn dã mừng vui vua biết tiếng(3).
Mến tài nhiều trận lừng danh,
Dưới sân quân ngũ chỉnh tề.
Dáng nhị đẩu(4) tam thai(5) như in hình khuân mẫu.
Ba năm đánh Bắc, dẹp Nam(6) rõ tài thao lược.
Xoay vần thời cuộc, sắp đặt mối rường,
Như ngọn đuốc quý sáng trưng bốn biển.
Bọn giặc đến xục tìm mọi chỗ,
Lên núi xuống sông bòn đãi ngọc Khuê Chương(7).
Giang sơn lại một lần u uất,
Đã nước mất nhà tan thì hoa cổn còn đâu.
Sách tuy mất, lòng người không mất,
Vẫn nhớ ghi công trạng muôn đời.
Kiếp người(8) oanh liệt sáng ngời.
Sống cùng trời đất, đời đời nước Nam.
(II)
Ì ầm nước chảy(9)
Sừng sững núi cao(10)
Đã hun đúc nên điềm lành khí tốt.
Hiển thánh uy phong lẫm liệt.
Lúc ở thời Lý(11),
Khi qua triều Trần(12).
Lúc báo mộng liên tiếp mấy triều(13),
Khi biến hoá tụ về một điểm.
Mũ miện rủ che gương soi sáng toả,
Chốn âm u có miếu đẹp tượng tươi.
Bốn mùa lễ bái kính thành,
Hương khói quanh năm không dứt.
Có cờ mao phủ việt làm bao lũ khiếp kinh.
Mảnh đất thiêng đâu có chỗ dung thân đạo tặc(14).
Định yên cuộc sống, tạo lập cư dân,
Đời hạnh phúc đã dành riêng khu vực.
Đàn chim đến nhờ xây tổ ấm,
Ríu rít mừng vui hoà tiếng sáo lời ca.
Cây cao toả bóng mát rợp che,
Để hội làng giải cờ tung bay cùng tán lá.
Dòng giống đúng quê làng Cổ Sở(15),
Cả một vùng đều rõ đều tin.
Muôn năm danh tiếng còn in,
Sáng cùng nhật nguyệt nêu tên xứ Đoài(16).
Chú thích:
1. Vùng đất Sơn Tây xưa, nay thuộc Hà Nội.
2. Vùng đất xưa, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh.
3. Chỉ vua Lý Nam Đế.
4. Là Bắc Đẩu và Nam Đẩu.
5. Bậc tam công: là ba chức quan cao nhất của các triều đại xưa.
6. Ý nói đánh quân Tiêu Tư phương Bắc, quân Lâm Ấp phía Nam.
7. Khuê là viên ngọc trên tròn hoặc nhọn có đáy vuông. Chương là ngọc viên tròn. Đây là hai thứ ngọc quý mà bọn xâm lược thường tìm kiếm.
8. Trong đạo Phật nói con người ta có ba kiếp sống là kiếp trước, kiếp này và kiếp sau.
9. Tả cảnh nước sông chảy dài. Đây nói về sông Hát trước của đền thờ Quán Giá.
10. Chỉ núi Thầy.
11. Đây nói về triều Hậu Lý - Lý Thái Tổ.
12. Đây nói về triều Trần - Trần Thái Tông.
13.Ý nói đến hai lần báo mộng cho vua Lý và vua Trần.
14. Chỉ bọn trộm cướp, giặc giã.
15. Ý nói gốc tích Phục Man Tướng công ở Cổ Sở là tên cũ của Kẻ Giá.
16. Vùng đất phía Tây kinh thành tức xứ Đoài xưa.
17. Chúng tôi chân thành cảm ơn ông Nguyễn Bá Hân đã cộng tác phục chế văn bản./.
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.161-169)