19. Bản châu bộ của một làng “lấy mật nước làm ruộng” (Thủy Tú - Hương Phong - Hương Trà - Thừa Thiên Huế) (TBHNH 2011)
BẢN CHÂU BỘ CỦA MỘT LÀNG “LẤY MẶT NƯỚC LÀM RUỘNG” (THUỶ TÚ - HƯƠNG PHONG - HƯƠNG TRÀ - THỪA THIÊN HUẾ)
TRẦN ĐÌNH HẰNG
Phân Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế
Hiện nay, ở làng Thủy Tú vẫn còn lưu giữ một số tài liệu thành văn quan trọng mà qua đó, có thể làm sáng tỏ nhiều vấn đề lịch sử - văn hoá của một ngôi làng “thuỷ diện thế vi điền” có một không hai ở vùng đất Kinh sư. Bản văn tế cho biết khá tường tận về các vị khai canh của làng, đó là các ngài:
1/ Đặc tấn phụ quốc, Thượng tướng quân, Cẩm Y vệ, Đô chỉ huy sứ, Tổng binh Đô đốc, tặng Tào Vận Thượng tướng quân, trước phong Dực bảo Trung hưng, gia tặng Đoan Túc trận hầu Lê quí công (huý danh Văn Búa), thụy Trung Thành phủ quân tôn thần.
2/ Đặc tấn phụ quốc, Thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ, Cai tri phó tướng, kiêm Tuần bị Hải môn, trước phong Dực bảo Trung hưng, gia tặng Đoan Túc đông hầu Nguyễn quí công, thuỵ Trung Trực phủ quân tôn thần.
3/ Đặc tấn phụ quốc, Thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Đô chỉ huy sứ, Cai đội, trước phong Dực bảo Trung hưng, gia tặng Đoan Túc lương hầu Nguyễn quí công, thụy Hồng Đoan phủ quân tôn thần.
Qua tìm hiểu bản Châu bộ Gia Long của thôn Thủy Tú (tổng An Vân, huyện Hương Trà, đề ngày 29/8/Gia Long thứ 12), có thể thấy được công lao đặc biệt đó của các bậc tiền nhân: “...do Tiên nhân tổ phụ đời trước của làng chúng tôi có công lao giúp rập phò vua vào khai quốc tại xứ Thuận Hoá. Sau công cuộc khai quốc, làng chúng tôi được ban cấp cho quyền được lấy mặt nước thế ruộng (thuỷ diện thế vi điền), ranh giới như sau: Phía trên từ làng Bình Trị, phía dưới đến xứ Can Lô; phía đông gần biển, phía tây gần núi; phía nam giáp ruộng làng Thanh Lam, phía bắc giáp xứ đất Cồn Nôm...”.
Theo đó thì trong giới hạn mặt nước được khoanh vùng như vậy, hằng năm, làng Thủy Tú cho thuê đóng các sở sáo, các sở nghề hớn (thuộc về Đại nghệ) và những mặt nước còn lại thì tiếp tục cho thuê làm nghề Tiểu nghệ, như lưới, câu, te-xẻo (?)v.v... Nguồn thu thuế từ đây một phần nạp quốc thuế thường niên (bao gồm cả việc thuê đầm Vịnh Xưởng) là 449 quan; còn lại bao nhiêu “thì làng chúng tôi hội đồng quân cấp lương điền khẩu phần cho toàn dân và chi tiêu việc công của làng”. Do vậy mà toàn bộ đời sống kinh tế tạm gọi là “truyền thống” của làng Thủy Tú đều “nhờ mặt nước ấy mà sinh sống, vì ngoài mặt nước ấy, dân làng chúng tôi không có ruộng đất gì cả và cũng hưởng thụ mặt nước trên này như nguyên tắc ruộng đất có trưng khẩn của các làng khác”.
Vào thời Gia Long, hạng nhất trong “thủy diện thế vi điền” ở đây bao gồm các sở sáo, các nghề hớn và xứ nước Vịnh Xưởng, tổng cộng là 33 sở, nộp quan thuế 449 quan. Các sở “ngư nghệ” ở đây cũng được phân định theo từng cấp độ chi tiết, có định vị rõ ràng, có khi là cả những thông tin “tứ cận” tựa như trong thể thức địa bộ đối với các làng xã nông nghiệp đương thời. Trong 33 sở đó, có thể thấy được cơ cấu phân bổ như sau:
*. 20 sở sáo chánh, thuế 404 quan (4 sở hạng Nhất, 10 sở hạng Nhì, 6 sở hạng Ba).
*. 12 sở nghề hớn (gọi là Khẩu Để), thuế 40 quan (2 sở hạng Nhất, 4 sở hạng Nhì, 6 sở hạng Ba).
*. Một xứ nước Vịnh Xưởng, thuế 5quan.
*. Ngoài ra, còn có 68 sở phụ.
Chính vì sự phân định ranh giới thượng - hạ, đông - tây chưa được chặt chẽ như vậy nên trong quá trình quản lý, khai thác mặt nước của một cộng đồng làng xã quá nhỏ, trải dài trên một địa bàn quá rộng, tất yếu nảy sinh nhiều vấn đề, nhất là trong việc giải quyết các mối quan hệ nội tại với các làng xã cận cư trong vùng. Do vậy, mới có sự chỉnh lý, bổ sung dần qui chế quản lý, điều hành của làng Thủy Tú thời Minh Mạng. Chúng tôi cũng đã tiếp cận được bản Châu bộ thời Minh Mạng của làng Thủy Tú, đề ngày 15/5 năm Minh Mạng thứ 15 (1834), qua đó, có thể cho thấy được sự điều chỉnh, bổ sung cần thiết, trong những bối cảnh cụ thể, cả về những điều khoản nội dung cũng như địa bàn cụ thể.
Có thể nói bản Châu bộ thời Gia Long là bản “địa bộ” đặc biệt quan trọng, khẳng định và là cơ sở pháp lý cho quyền quản lý, khai thác trên một diện tích mặt nước rộng lớn của làng Thủy Tú, mặc dù đây không phải là một làng ngư thuần tuý. Tuy nhiên, qua thời gian, vấn đề phức tạp lại nảy sinh, chính từ sự kiện tụng của các làng xã lân cận. Cho đến tháng 3 năm Minh Mạng thứ 11 (1830), các làng xã Thanh Lam và An Truyền (đều thuộc huyện Phú Vang) đồng loạt phát đơn tranh kiện với làng Thủy Tú về các khu vực ao đầm trong cương vực làng xã của họ với quyền khai thác mặt nước của làng Thủy Tú.
Từ đó, làng Thủy Tú mới được xem xét, tiến hành tu chỉnh lại Châu bộ để “chánh ngạch tịch địa phận rõ ràng”, với những nội dung chính như sau:
2. 1. Địa phận nước của làng Thủy Tú:
- Phía trên: giáp với bờ đất xứ ruộng công Thuận Tài của làng Bình Trị, tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà và bờ đất bến đò ngang, và lấy bờ sông làm giới hạn.
Giáp với bờ đất xứ ruộng công Địa Ban xứ Cồn Hô của hai làng Vân Quật Thượng, Hạ giáp, cùng bờ đất bến đò ngang của làng ấy và bờ sông làm giới hạn.
Giáp với sở nghề hớn tên là Chàng Hàng và sở nghề sáo tên là Chàng Hàng thuộc mặt nước của ấp Thủy Điền Thượng, tổng Phước An, huyện Quảng Điền và đối ngang qua hai bên tả hữu là bến đò ngang của làng Bình Trị và làng Vân Quật, đã có tờ đối nhận hiệp phù nhận giới hạn.
- Phía dưới: giáp với bờ đất xứ Can Lô, Ba Lôi của ấp Hà Úc, tổng Diên Trường, huyện Phú Vang, lấy bờ đất xứ ấy và bờ sông làm giới hạn.
Giáp với bờ đất tư điền tên Hà Đá, thuộc địa phận ấp Trừng Hà, tổng Mậu Tài, huyện Phú Vang, lấy bờ đất và bờ sông làm giới hạn.
Giáp với mặt nước của làng Hà Trung, tổng Diên Trường, huyện Phú Vang, đối ngang qua hai bên tả hữu là bờ đất Can Lô của ấp Hà Úc và bờ đất xứ Hà Đá của ấp Trừng Hà làm giới hạn.
- Phía đông: giáp cửa biển Thuận An.
- Phía tây: giáp chân núi, thuộc hai ấp Dương Lăng Thượng, Hạ, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, lấy chân núi và bờ sông làm giới hạn.
Giáp chân núi, thuộc ấp Thạch Hàn, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, lấy chân núi và bờ sông làm giới hạn.
- Phía nam: giáp với mặt nước đầm làng Thanh Lam, tổng Dã Lê, huyện Phú Vang. Lấy bờ đất xứ Tăng Huy của làng An Truyền thông vào bờ đất xứ Mũi Hàn làng Xuân Ổ lập mốc làm giới hạn.
Giáp với mặt nước đầm làng An Truyền, tổng Vĩ Dạ, huyện Hương Trà. Lấy bờ đất xứ Sải Bần thẳng đến bờ đất xứ Tân Huy lập mốc làm giới hạn.
Giáp với hai xứ ruộng tư điền là Cồn Trâu, Cồn Dài thuộc địa phận làng Triều Thủy, tổng Vĩ Dạ, huyện Hương Trà, trồng mốc làm giới hạn.
Giáp với bờ đất xứ ruộng Cồn Điền tên là Mũi Hàn của làng Xuân Ổ, tổng Kim Long, huyện Hương Trà, lấy bờ đất và bờ sông làm giới hạn.
- Phía bắc: giáp với những xứ tên là ong Vẽ, Oan Ương, Cồn Mồ, Làng Phan thuộc điạ phận làng Thai Dương Thượng, tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà, lấy bờ sông làm giới hạn.
Giáp với xứ Bạch Sa Cao Động thuộc địa phận làng Thai Dương Hạ, lấy bờ sông làm giới hạn.
2. 2. Phân loại:
Cho đến đợt chỉnh lý châu bộ thời Minh Mạng thì số “ruộng nước các sở sáo, các sở nghề hớn, xứ Vịnh Xưởng, cộng 99 sở”, bao gồm 86 sở sáo, 12 sở nghề hớn và sở Vịnh Xưởng, với tổng ngạch thuế hàng năm lên đến 609 quan, được phân thành các hạng cụ thể như sau:
- 86 sở sáo: 3 sở hạng nhất, 10 sở hạng hai và 73 sở hạng ba.
- 12 sở nghề hớn: 2 sở hạng nhất, 4 sở hạng hai và 6 sở hạng ba.
- Sở Vịnh Xưởng.
Riêng các sở sáo hạng 3, bản Châu bộ liệt kê 56 sở, mức thuế hằng năm ở mỗi sở là 4 quan.
Giới hạn của sở Vịnh Xưởng đến đây được xác định lại rõ ràng:
*. Phía đông giáp bờ đất xứ Cồn Nại thuộc địa phận làng Thái Dương Hạ, tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà.
*. Phía tây giáp với bờ đất xứ Bạch Sa Hải Chử tên là Vĩnh Xương của làng Thái Dương Thượng tổng Kế Mỹ huyện Hương Trà.
*. Phía nam giáp liền mặt nước làng Thủy Tú, giáp với Cồn Nại của làng Thái Dương Thượng, tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà.
*. Phía bắc giáp với xứ Bạch Sa tên là Tấn Lộc và xứ ruộng công Hội Đồng của làng Thái Dương Thượng, tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà, và giáp xứ đất Đồng Điền của làng Thái Dương Hạ, tổng Kế Mỹ, huyện Hương Trà.
Ngoài ra, cũng do hiện tượng bồi lắng của vùng phá Tam Giang mà cũng đã có tới 12 sở sáo được chiết trừ ngạch thuế bởi nước cạn, không trưng khẩn được (Cửa Đình, Hói Ông Cảnh, Hói Bằng Mè, Mom Lác, Vịnh Bột, Hói Lạch, Hói Rào Cá, Hói Lăng, Vịnh Điệp, Vịnh Bồn, Cồn Dài, Cồn Sài).
Kèm theo ở phần cuối bản Châu Bộ thời Minh Mạng là sự chứng thực ranh giới, mốc giới của lý trưởng các làng xã cận kề đối với làng Thủy Tú (gọi là giấy hiệp phù nhận giới). Có thể căn cứ vào đây để thấy được phác đồ chiếm hữu, quản lý và khai thác mặt nước phá Tam Giang và sông Hương của làng đương thời.
3. Thay lời kết
Làng Thủy Tú “thuỷ diện thế vi điền” trong thời hiện đại lại càng nghiệt ngã hơn bởi trong “truyền thống”, đây là một ngôi làng hoàn toàn không có ruộng đất nông nghiệp và cư dân cũng không sinh sống trên một nền tảng nghề nghiệp căn bản nào. Có thể nói là kể từ sau năm 1975 và kéo dài cho tới những năm 1980, trong chương trình hợp tác hóa, hầu như mọi quyền lợi về khai thác mặt nước của ngôi làng đặc biệt này đều bị thu hồi và bù lại, họ cũng được phân phối một quĩ ruộng đất từ nguồn sống căn bản của các làng xã nông nghiệp lân cận trong vùng, như Thanh Phước, Triều Sơn.
Cho đến hiện nay, Thủy Tú chỉ còn lại thực sự là một làng nhỏ ở ngã ba Sình, chịu sự phân hoá nghiệt ngã, ngày càng mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá từ bối cảnh một ngôi làng ven đô. Truyền thống gần như bị chặt đứt đoạn, gói gọn lại trong bản văn tế, hai tấm bản đồ chi tiết và hai bản châu bộ thời Gia Long, Minh Mạng về quyền khai thác mặt nước, trở nên thuần tuý là một hiện vật bảo bối chứa đựng đầy nỗi niềm hoài vọng của cả một cộng đồng luôn phải trở trăn trong cuộc mưu sinh, sinh kế thời hiện đại.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.602-608)