19. La Hán và những bài thơ vịnh chân dung La Hán tại chùa Thiên Vương, Đà Lạt.
LA HÁN VÀ NHỮNG BÀI THƠ VỊNH CHÂN DUNG LA HÁN TẠI CHÙA THIÊN VƯƠNG - ĐÀ LẠT
NGUYỄN HÀ
Học viên Cao học Hán Nôm - ĐH KHXH và NV, ĐH Quốc gia Hà Nội
I. Ai đã một lần ghé Đà Lạt không thể không đến chiêm lễ, vãng cảnh chùa Thiên Vương. Đây là ngôi chùa do tổ chức Phật giáo Hoa tông quản lý nên người ta thường gọi là Chùa Tàu. Nhưng thực ra, ngôi chùa có tên đầy đủ là Thiên Vương cổ sái(1) 天王古剎, được đắp nổi trên cổng tam quan thứ nhất dẫn vào chùa.
Chùa Thiên Vương nằm cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5 km về hướng Đông Nam thuộc địa phận phường 10. Chùa tọa lạc trên đồi thông xanh bốn mùa sương phủ, tạo nên bức tranh đặc sắc do thiên nhiên ban tặng, cuốn hút du khách bốn phương hứng thú tìm về. Chùa này do Hòa thượng Thọ Dã(2) xây dựng năm 1958 tại khu vực gần nhà thờ Chính Tòa phường 3, nhưng năm 1959 lại dời về phường 10 Đà Lạt. Trải qua thời gian dài, ngôi chùa đã hư hỏng và xuống cấp trầm trọng nên được trùng tu năm 1988 trang nghiêm tráng lệ như hiện nay. Cấu trúc toàn bộ ngôi chùa phân thành ba khu vực chính: 1. Tiền điện có tên gọi là Từ Tôn bảo điện, thờ tượng Di-lặc và bốn vị Thiên Vương; 2. Chính điện có tên gọi Quang Minh bảo điện, thờ Tây phương tam thánh Phật; 3. Tượng đài đức Phật Thích-ca Mâu-ni lộ thiên, an trí trên đỉnh đồi nằm phía sau Chính điện. Mỗi khu vực đều có khắc đắp nhiều câu đối, đại tự, văn bia bằng chữ Hán trông thật thiêng liêng và đậm tính thẩm mỹ. Đặc biệt, khi tham quan cảnh chùa, du khách không thể không chiêm lễ 18 bức họa La-Hán cùng những bài thơ Thiền khắc kèm trong lòng bức họa.
II. Chân dung 18 vị La hán bằng đá sơn màu của Thiền sư Trúc Thiền đời nhà Thanh được an trí hai bên tường điện Quang Minh. Mỗi bức họa có kích thước chiều ngang 70cm, chiều cao 170cm, được đặt lồng vào những khung hình chữ nhật trên hai vách tường Đông, Tây trong điện. Theo khảo sát, chúng tôi được biết mười tám bức họa này của tác giả Trúc Thiền bài trí ở một số chùa tại Trung Quốc. Các Phật tử Hoa kiều đã dày công sao lại và mang về Việt Nam để tôn trí xung quanh ngôi tháp tại chùa Huê Nghiêm, số 187/3 Trần Kế Xương, quận Phú Nhuận, thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, những bức tranh này cũng được các nghệ nhân dựa vào lối vẽ truyền thần mà khắc lại cung trí ở chùa Thiên Vương-Đà Lạt. Mặc dù được sao lại từ nguyên bản nhưng mỗi bức họa vẫn thể hiện được nét truyền thần độc đáo của tranh Thiền Phật giáo. Nếu chỉ có 18 hình ảnh ấy không thôi thì không có gì đáng nói. Điều đáng quan tâm ở đây là trong 17 bức họa đầu tiên, bức nào cũng có kèm theo một bài thơ để tán tụng dung tướng và hạnh nguyện tu hành của từng vị La Hán. Trong 18 khung tượng La hán có 17 bài thơ, trong đó 16 bài được viết theo thể 4 chữ 8 câu và một bài 7 chữ 8 câu của tác giả Trúc Thiền. Kiểu chữ khắc trên tranh theo hai lối: chân phương và hành thảo. Vì vậy, chúng ta có điều kiện đối chiếu nếu có những chữ không rõ nét hay nhầm do nghệ nhân sao chép lại.
III. Trúc Thiền (1824-1900), là vị Tăng sỹ đời nhà Thanh. Sư họ Vương, quê quán tại Lương Sơn (nay là làng Lương Bình, thành phố Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên). Xuất gia tại chùa Báo Quốc, nhưng vân du học tập tại các vùng Ngô, Việt. Ông khéo họa cảnh sơn thủy cây cỏ, nhân vật, và thường mang tác phẩm của mình đi biếu tặng. Ông Phương Cương, Từ Phủ thường giao du đàm đạo với ông. Ngoài khả năng hội họa, Trúc Thiền còn có tài làm thơ. Và, chính tài năng này đã lưu lại cho chúng ta ngày nay những bài thơ Thiền tuyệt bút. Những năm cuối đời, ông thích họa những bức tranh lớn, làm cho các sỹ lâm lúc bấy giờ kính nể. Ông còn có tài năng nữa là khắc triện rất độc đáo(3).
IV. A-la-hán hay gọi tắt là La-hán, tiếng Phạn là Arahat, tiếng Pali là Arahant, là một trong bốn quả vị của Thanh Văn và cũng là một trong mười danh hiệu của Như Lai. A-la-hán còn có tên gọi khác, như: A-lô-hán, A-la-ha, A-ra-kha, A-lê-kha, Yết-ra-hát-đế. Dịch ý là Ứng Cúng, Ứng Chân, Sát Tặc, Bất Sinh, Vô Sinh, Vô Học, Chân Nhân. Chỉ bậc Thánh giả đã đoạn tận Kiến hoặc và Tư hoặc trong Tam giới, chứng đắc Trí tuệ cùng tột, đủ Thánh cách để nhận lãnh mọi sự cúng dường, tôn kính của thế gian. Quả vị này có trong cả hai hệ Đại và Tiểu thừa Phật giáo, nhưng phần nhiều đều giải thích từ này theo nghĩa hẹp của nó, tức chỉ cho quả vị tối cao chứng đắc trong Phật giáo Tiểu thừa. Nếu bàn theo nghĩa rộng thì A-la-hán là chỉ cho quả vị cao nhất trong cả Đại và Tiểu thừa Phật giáo. Trong “Pháp Trụ Ký” của tác giả Nan-đề-mật-đa-la (Nandimitra)(4) có trình bày rất rõ về danh tính, trú xứ và sứ mệnh của 16 vị La-Hán Ấn Độ. Các Ngài đã đạt được Tam minh, Lục thông và Bát giải thoát, vâng thừa giáo chỉ của đức Phật, trụ tại thế gian để hộ trì chánh pháp và làm lợi lạc quần sanh. Đó là các vị:
1. Tân-đầu-lô-bạt-la-đọa-xà (S: Pindolabharadvàja), vị tôn giả này cùng 1000 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại Tây Ngưu Hóa châu.
2. Ca-nặc-ca-phạt-sa (S: Kanakavatsa), vị tôn giả này cùng với 500 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại nước Ca Thấp Di La thuộc phương Bắc.
3. Ca-nặc-ca-bạt-ly-đọa-xà (S: Kanakabharadvàja), vị tôn giả này cùng 600 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại Đông Thắng Thân châu.
4. Tô-tần-đà (S: Subinda), vị tôn giả này cùng với 700 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại Bắc Cu Lô châu.
5. Nặc-củ-la (S: Nakula), vị tôn giả này cùng 800 vị A-la-hán phần lớn cư trú tại Nam Thiệm Bộ châu.
6. Bạt-đà-la (S: Bhadra), vị tôn giả này cùng 900 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại Đam Một la châu.
7. Ca-lý-ca (S: Kàlika), vị tôn giả này cùng với 1000 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại Tăng Già Trà châu.
8. Phạt-xà-la-phất-đa-la (S: Vajraputra), vị tôn giả này cùng với 1100 vị A-la-Hán, phần lớn cư trú tại Bát Thứ Noa châu.
9. Thú-bác-ca (S: Jìvaka), vị tôn giả này cùng với 900 vị A-la-hán, phần lớn cư trú trong núi Hương Túy.
10. Bán-thác-ca (S: Panthaka), vị tôn giả này cùng với 1300 vị A-la-hán cư trú tại cõi trời 33.
11. La-hỗ-la (S: Ràhula), vị tôn giả này cùng với 1100 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại Tất Lợi Dương Cù châu.
12. Na-già-tê-na (S: Nàgasena), vị tôn giả này cùng với 1200 vị A-la-hán, phần lớn cư trú tại núi Bán Độ Ba.
13. Nhân-yết-đà (S: Angaja), vị tôn giả này cùng với 1300 vị A-la-hán, phần lớn cư trú trên núi Quảng Hiếp.
14. Phạt-na-bà-tư (S: Vanavàsin), vị tôn giả này cùng 1400 vị A-la-hán, phần lớn cư trú trên núi Khả Trụ.
15. A-thị-đa (S:Ajita), vị tôn giả này cùng với 1500 vị A-la-hán, phần lớn cư trú trên núi Thứu Phong.
16. Chú-đồ-bán-thác-ca (S: Cùdapanthaka), vị tôn giả này cùng với 1600 vị A-la-hán, phần lớn cư trú trên núi Trì Thục.
Cũng theo Pháp trụ ký, sau khi kinh điển được truyền dịch sang chữ Hán, 16 vị A-la-hán này được nhiều danh họa Trung Quốc họa thành tượng mang dáng dấp của các vị Thần tiên và được thờ trong các tự viện Thiền tông. Trong số các họa sỹ là tác phẩm của bộ tranh tượng A-la-hán lúc bấy giờ, phải kể đến tên tuổi các họa sư nổi tiếng thời Đường Tống, như Thiền sư Quán Hưu (823-912), Trương Huyền, họa sỹ Pháp Nguyện, Pháp Kính, Tăng Diêu... Các tác phẩm của Quán Hưu hiện nay còn lưu giữ trên bức tường Thiên Phật động tại Đôn Hoàng thuộc tỉnh Cam Túc, Trung Quốc. Sau đó, Sa-môn Giác Phạm và đại văn hào Tô Đông Pha dựa vào những bức họa này mà làm thơ ca tụng. Lúc đầu chỉ có 16 vị La-Hán, nhưng khi sang Trung Quốc người ta thêm ngài Khánh Hữu thành vị thứ 17 và ngài Tân-đầu-lô thành vị thứ 18. Thực ra, ngài Khánh Hữu chính là Nan-đề-mật-đa-la, tức tác giả của cuốn Pháp trụ ký; còn Tân-đầu-lô chính là Tân- đầu- lô-bạt-la-đọa-xà, tức vị La-Hán được nhắc đến đầu tiên ở trên. Sở dĩ có các hiện tượng này là do người ta không am tường kinh điển, không am hiểu tiếng Phạn nên dẫn đến những sai lầm như thế. Vì vậy, lúc đầu chỉ có 16 vị La-Hán, rồi dần dần tăng lên thành 18 vị. Từ đời Nguyên trở đi, tại Trung Quốc cũng như Việt Nam, con số 18 này mặc nhiên được mọi người chính thức công nhận, con số 16 chỉ còn lưu giữ trong sử sách mà thôi. Ngoài ra, còn có nơi ghi thêm Tôn giả Ca-diếp và Quân-đồ-bát-hoan thành 18 vị. Tại Tây Tạng, ngoài 16 vị nêu trên, người ta còn ghi thêm Đạt-ma-đa-la và Hòa thượng Bố Đại; có người thêm hai tôn giả Hàng Long và Phục Hổ; có người thêm Phu nhân Ma-da và Di-lặc thành 18 vị như các chùa Trung Quốc và Việt Nam tôn thờ hiện nay.
V. Tại Việt Nam, nhiều pho tượng La hán được khắc đắp, chạm trổ rất công phu, tôn thờ ở những ngôi chùa nổi tiếng. Đơn cử một số chùa miền Bắc, như chùa Tây Phương huyện Thạch Thất, chùa Trăm Gian (Quảng Nghiêm thiền tự) huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây; chùa Dâu huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Đặc biệt, tượng La-Hán chùa Tây Phương tôn tạo năm Cảnh Thịnh, được mọi người đánh giá là những pho tượng đẹp nhất nước ta và cũng là đối tượng khơi nguồn cảm hứng cho nhiều văn nhân thi sỹ sáng tác. Ở những nơi không có điều kiện tô tượng thì người ta cũng khắc đắp hoặc họa vẽ bằng tranh, như chùa Quán Sứ tại Hà Nội; chùa Huê Nghiêm ở thành phố Hồ Chí Minh; chùa Linh Phước ở thành phố Đà Lạt, Vĩnh Minh tự viện ở huyện Đức Trọng tỉnh Lâm Đồng... Tôn trí tượng A-la-hán có thể nói là mô-típ thờ tự khá phổ biến ở các tự viện Phật giá tại nước ta từ Nam chí Bắc.
VI. Để giới thiệu cùng bạn đọc, chúng tôi phiên âm và dịch thơ 10 bài tiêu biểu nhất trong tổng số 17 bài thơ vịnh chân dung A-la-hán của Thiền sư Trúc Thiền được tôn trí tại chùa Thiên Vương cổ sái - Đà Lạt.
1. Tôn giả Tân-đầu-lô-phả-la-nọa-xà (S: Pindolabharadvàja).
Tiền thân Ẩm Quang, | Mai hài kỷ lưỡng, |
Hậu thân Tuệ Lý. | Trúc trượng nhất căn. |
Tây Trúc, Linh Thứu, | Khả phóng hạ trước, |
Thức phi lai thử. | Vĩnh trụ Thánh nhân. |
| |
Thân trước ẩm Quang,(5) | Giày cỏ mấy đôi, |
Thân sau Tuệ Lý. (6) | Một cây gậy trúc. |
Tây Trúc - Linh Thứu, | Buông bỏ hết được, |
Bay đến nơi này. | Trụ mãi Thánh nhân. |
2. Tôn giả Ca-lý-ca (S: Kalika).
Hám thạch trắc tất, | My mao tha địa, |
Vu yên dĩ tức. | Dĩ thủ vãn chi. |
Duy thị Thượng nhân, | Cự vân giản trạch, |
Phi ngữ phi mặc. | Thị thử ty ty. |
| |
Nghiêng gối tựa đá, | Lông mày phết đất, |
Bình thản nghỉ ngơi. | Dùng tay nâng lên. |
Đấy bậc Thượng nhân, | Nói chi chọn lựa, |
Chẳng im chẳng nói. | Chỉ sợi tơ này. |
3. Tôn giả Thú-bác-ca (S.Jivaka).
Phiến thủ khử nhiệt, | Nhiệt tức nhiệt trung, |
Y thủ tế hàn. | Hàn tức hàn lý. |
Vân vô hàn nhiệt, | Kim bất phục khoáng, |
Thị ngoại đạo thiền. | Băng nhưng tại thủy. |
| |
Quạt dùng khử nóng, | Nóng ở trong nóng, |
Áo mặc che lạnh. | Lạnh sống trong lạnh. |
Nói không nóng lạnh, | Vàng không lại quặng, |
Ấy ngoại đạo thiền. | Băng là do nước. |
4. Tôn giả La-hỗ-la (S.Rahula).
Kháng mi trừng mục, | Hỷ vi nộ đối, |
Nhược hữu sở nộ. | Nộ diệc hỷ nhân. |
Tá vấn Phật tử, | Họa sư trước bút, |
Nộ sinh hà xứ ? | Nhậm kỳ truyền thần. |
| |
Nhíu mày trợn mắt, | Vui đối lập giận, |
Tướng như giận dữ. | Giận chính nhân vui. |
Xin hỏi Phật tử, | Họa sư phóng bút, |
Giận sinh từ đâu ? | Cốt ở truyền thần. |
5. Tôn giả Nhân-yết-đà (S.Angaja).
Y phi bá nạp. | A Lợi Tra Ca, |
Trượng phù nhất tiết, | Nhược hữu sở ký. |
Phạn thư bối chật. | Ký tắc bất vô, |
Chú mục hoành hung | Nhi phi văn tự. |
| |
Cầm một chiếc gậy, | Thần chú A - lợi, |
Mặc áo cà sa. | Có điều ghi ra. |
Kinh Phạn một quyển, | Ghi thì ắt có, |
Mắt chẳng rời xa. | Chẳng phải chữ mà! |
6. Tôn giả A-thị-đa (S.AJita).
Bão tất độc tọa, | Tả chiên đàn đổ, |
Đáp nhiên nhược vong. | Hữu lợi đao cát. |
Tâm thị Bồ tát, | Hà oán hà ân ? |
Mạo thị quỷ vương. | Bình đẳng giải thoát. |
| |
Ngồi riêng ôm gối, | Trái ướp hương thơm, |
An nhiên quên mình. | Phải như dao bén. |
Tâm là Bồ-tát, | Nào ân oán gì? |
Hình dáng quỷ vương. | Bình đẳng giải thoát. |
7. Tôn giả Ca-nặc-ca-phạt-tha (S.Kanakavatsa).
Ngũ uẩn, lục thứ, | Dữ mộc thạch cư, |
Chân huyễn dị đồng. | Mao sinh thủ túc. |
Thụ thử nhất chỉ, | Hà bất tiễn chi, |
Phi bỉ Thiên Long. | Thùy tiễn thỉ lộc ? |
Năm uẩn, sáu thực, | Sống cùng cây đá, |
Chân huyễn dị đồng. | Lông mọc chân tay. |
Dựng một ngón tay, | Sao không cắt tỉa, |
Thiên Long đâu phải! | Mà cạo heo nai! |
8. Tôn giả Phạt-xà-la-phất-đa (S:Vajraputra).
Hiêu liêu kỳ diện, | Dĩ kinh trịch địa, |
Lăng căng kỳ thân. | Tham học sự ngật. |
Trung hữu tướng hảo, | Phật thượng bất cư, |
Thục thức thử nhân. | Nhi huống phi Phật. |
| |
Mặt mày ủ rũ, | Tham học đã xong, |
Thân tựa ốm đau. | Ném kinh xuống đất. |
Ẩn trong tướng tốt, | Phật còn chẳng học, |
Ai biết nhân này? | Huống gì phi Phật! |
9. Tôn giả Bán-thác-ca (S:Phanthaka).
Liễu nhất thiết pháp, | Thị hốt luân địa, |
Tham như thị kinh. | Thị quang minh tạng. |
Thủy lưu thạch lãnh, | Lập ý tảo trừ, |
Phong quá hoa hinh. | Thị vị lý chướng. |
| |
Hiểu rõ các pháp, | Chỉ đời hỗn tạp, |
Kinh học tỏ tường. | Hiện tạng quang minh. |
Nước chảy đá lạnh, | Dùng ý tẩy trừ, |
Gió thoảng hoa hương. | Ấy là nghịch lý. |
10. Đức Trọng Hàng Long.
La hán đương niên tằng giản khai, |
Thiệp Công tân trúc mộng trùng lai. |
Họa thiền siêu diệu Tăng Diêu bút, |
Bi kệ trầm hùng Ma Cật tài. Vũ hậu cung triều chấn lâm cốc, Phong tiền đông ảnh huyễn lâu đài. |
Nạp lương tương đối thành thanh vịnh, Đồng phó Lăng Già sơn thượng hồi. |
|
La hán năm xưa mở suối nguồn, Thiệp Côn (7) dựng cốc mộng về luôn. |
Tăng Miên(8) diệu bút tranh thiền họa, Ma Cật(9)vang danh tiếng kệ hùng. |
Mưa dứt tiếng trùng rừng suối rộn, |
Ráng treo đỉnh núi ánh hồng tuôn. Bên nhau dạo bước thơ thành khúc, |
Rời đỉnh Lăng Già(10)nắng chiếu suông. |
VII. Hầu hết các bài thơ trên tập trung mô tả tư thái, lịch kiếp và hạnh nguyện của từng vị La-hán. Tự thân mỗi bài thơ đã thể hiện bút pháp sinh động để người đọc hình dung được nét vẽ truyền thần của hình ảnh từng vị La-hán. Thân thể gầy guộc và tướng mạo dị kỳ là những biểu tướng của nhân sinh, nhưng đằng sau mỗi nhân thân dị dạng ấy là kho tàng trí tuệ và ẩn hiện tâm thái giải thoát tuyệt hảo, làm chỗ nương tựa vững chắc cho những ai tìm về thực tại. Mỗi bài thơ là nét đặc tả từng tư thế, từng gương mắt, từng dáng dấp, thần thái của từng vị La-hán. Đây cũng là một bộ phận thơ Thiền có ý nghĩa trong thể tài văn học Trung Quốc và Việt Nam. Ngoài phương pháp đặc tả chân dung của từng vị La-hán, tác giả còn gửi gắm vào đó một tình cảm riêng để tán thán hạnh nguyện tu hành của các vị Tổ sư mà với bổn phận là đàn hậu học, tác giả đã thể hiện tấm lòng ngưỡng mộ và tôn kính.
Những bài thơ vịnh chân dung La-hán đều sử dụng ngôn ngữ bóng bẩy, sinh động để hình tượng hóa giáo lý vô ngã của đạo Phật, nhằm dẫn dắt con người thoát khỏi vòng đối đãi của Nhị nguyên. Ngôn ngữ nhà Thiền sử dụng vừa mang tính khẳng định vừa mang tính phủ định để chỉ rõ thực tướng của các pháp vốn không sinh không diệt. Cái hay của thơ Thiền nằm ở chỗ người đọc thưởng thức được tầng sâu thẳm của chúng một sức sống siêu thoát, một thế giới thâm viễn mà không thể dùng ngôn ngữ hay ý niệm đời thường để lột tả hết nội dung tác giả muốn thể hiện. Ngôn ngữ được sử dụng ở đây như những ý niệm tạm mượn làm phương tiện để chuyển tải thực tại sống động nằm ngoài thế giới sinh diệt vô thường. Tầng nghĩa “Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” trong tư tưởng Thiền tông có chức năng gợi mở mà không gợi tả thực tại cuộc sống. Để cảm được cái hay của những bài thơ trên, ngoài việc độc giả sở hữu một số vốn Hán ngữ nhất định, cần phải có một tâm hồn tĩnh lặng và không chấp trước mới thể hội được nghệ thuật “Ý tại ngôn ngoại” của các Thiền sư. Với bút pháp biểu đạt bằng nhiều hình tượng, Thiền sư Trúc Thiền đã lột tả được chân dung và hành trạng của 17 vị La-hán qua tranh vẽ của ông. Thông qua đó, tác giả cũng thể hiện được ngôn ngữ Thiền ly niệm nhằm nói lên thực tướng của các pháp hiện hữu ở cuộc đời.
Chú thích:
(1) Chữ 殺sái còn có âm là sát, nhưng khi phiên âm Hán Việt vì sự khiếm trang nên chúng tôi tạm dùng chữ Sái. Vì vậy, gọi tên ngôi chùa là Thiên Vương cổ sái, cũng như ở Yên Tử có ngôi chùa gọi là Bảo Sái.
(2) Hòa thượng Thọ Dã là một tu sĩ Phật giáo người Hoa. Thuở nhỏ, Ngài tu học ở Trung Quốc. Vào những năm đầu của thập niên 50 thế kỷ trước. Hòa thượng sang Việt Nam, dừng chân tại thành phố Sài Gòn. Nơi đây, Ngài xây dựng chùa Huê Nghiêm trang nghiêm và tráng lệ. Năm 1958, Hòa thượng lên tham quan thành phố Đà Lạt. Nhận thấy nơi đây cảnh vật hữu tình với thế núi trùng trùng bao phủ, Ngài đã cất một ngôi chùa nhỏ và đặt tên là Thiên Vương cổ sái.
(3) Chấn Hoa pháp sư, Trung Quốc Phật giáo nhân danh đại từ điển, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, ấn loát lần 2 năm 2002, tr.209.
(4) Tôn giả Nan-đề-mật-đa-la (còn có tên là Khánh Hữu) người Tích Lan, ra đời khoảng 800 năm sau Phật niết-bàn. Theo Pháp trụ ký (Fachu-chi), thì Ngài chỉ lược thuật lại kinh Pháp trụ ký do Phật thuyết giảng mà thôi.
(5) Tên gọi khác của Tôn giả Ca Diếp
(6) Tên vị Tăng người Ấn Độ, Ngài sang Trung Hoa năm 326
(7) Tên của ngài Hàng Long, văn bản khắc nhầm là Tịnh Công
(8) Tên một danh họa đời Đường.
(9) Tên tự của nhà thơ Vương Duy (699-759) đời Đường. Khi có thai mẹ ngài mộng thấy ngài Duy Ma Cật nhập thất nên sau đặt tên là Ma Cật. Ngoài sở trường làm thơ, ông còn có tài hội hoạ độc đáo.
(10) Tên ngọn núi ở nước Sư Tử (đảo Tích Lan). Lăng Già tên một thứ ngọc báu, còn gọi là bất khả đáo, nên lấy tên ngọc báu mà đặt cho tên núi. Phật thường giảng thuyết kinh Đại thừa ở núi này, gọi là kinh Lăng Già.
Tài liệu tham khảo:
1. Từ Di (chủ biên), Phật Quang đại tư điển, Phật Quang xuất bản xã, năm 1988.
2. Chấn Hoa pháp sư, Trung Quốc Phật giáo nhân danh đại từ điển, Thượng Hải từ thư xuất bản xã, ấn loát lần 2 năm 2002.
3. Nguyễn Hà, Bước đầu tìm hiểu thơ văn chữ Hán tại chùa Thiên Vương-Đà Lạt, Trường Đại học Đà Lạt, năm 2002.
4. Pháp trụ ký, Hán tạng tập 49, tr.12.
5. Phật Tổ thống kỷ, quyển 33, Hán tạng tập 49, tr.319.
6. Phật Thuyết Di Lặc Hạ Sanh Kinh, Hán Tạng tập 14./.
Thông báo Hán Nôm học 2006 (tr.196-199)