VI | EN
19. Vũ Duy Thanh - người khắc khoải nỗi đau đời (TBHNH 2000)
TBHNH2000

VŨ DUY THANH- NGƯỜI KHẮC KHOẢI NỖI ĐAU ĐỜI

ĐỖ THỊ HẢO

Tiến Sĩ. Viện Nghiên cứu Hán Nôm

Ông người làng Kim Bồng huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình, Sinh giờ Tý ngày 9 tháng 8 năm Đinh Mão, niên hiệu Gia Long 6 (1807); và mất ngày 5 tháng 4 niên hiệu Tự Đức 12 (1859), khi đang làm quan trong triều, hưởng thọ 53 tuổi(1).

Có thể nói cuộc đời Trạng Bồng Vũ Duy Thanh là một chuỗi những nghịch lý, phải chăng ông trời đã thử thách con người trước khi trao cho họ trọng trách ở đời. Từ nhỏ ông vốn thông minh, sách chỉ đọc qua một lần là nhớ. Mười bốn mười lăm tuổi đã làu thông kinh sử, hạ bút thành chương, văn tài nổi tiếng khắp vùng. Vậy mà 35 tuổi Vũ Duy Thanh mới đỗ Tú tài, đến thi Hội lại hỏng lên hỏng xuống. Niên hiệu Tự Đức 4 (1851), nhà vua cho mở Chế khoa, đặc cách cho những người đỗ phó bảng khoa trước được thi, Ông mới đỗ đầu được ban Đệ nhất giáp cát sĩ cập đệ, đệ nhị danh (tức Bảng nhãn). Chế khoa là khoa thi đặc biệt đầu tiên của triều Nguyễn vì thế Bảng nhãn ở Chế khoa được coi tương đương với Trạng nguyên ở chính khoa, cho nên dân gian vẫn gọi Vũ Duy Thanh là Trạng, lúc đó ông đã 45 tuổi(2).

Lý tưởng của nhà nho xưa là đi học – thi đỗ - làm quan. Họ mong gặp được “vua anh minh” để dốc sức phò tá, lưu lại tiếng tốt cho đời. Nếu không họ sẵn sàng treo ấn từ quan, trở về vui thú điền viên, đem đạo thánh hiền dạy dỗ dân chúng, lẽ “xuất” “xử” của nhà nho là như thế. Vũ Duy Thanh là con người nhập thế, nhưng ông sống trong thời buổi loạn lạc, cho nên đến lúc chết ông vẫn mang theo nỗi khắc khoải đau đời.

Cuộc đời làm quan của Vũ Duy Thanh quá ngắn ngủi, 8 năm trời với chức Tế tửu (đào tạo nhân tài cho đất nước), hàm tứ phẩm - đến lúc qua đời (1858), song ông cũng tiến cử được những người tài như Ông Ích Khiêm, anh em Bùi Phụng… Những ngày làm quan trong triều, Vũ Duy Thanh đã phải đối mặt với thực trạng xã hội hết sức khốc liệt. Đê vỡ các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên… dân tình đói kém, tháng 4 năm 1853 ông dâng sớ xin triều đình phát 10.000 hộc thóc kho cho vay và bán ở Thanh Hoá để cứu tế. Những năm 1854, 1855, liên tiếp xảy ra những sự kiện khiến triều đình Tự Đức nghiêng ngửa:

An Phong công Hồng Bảo (anh khác mẹ của Tự Đức) mưu lật đổ, việc không thành, buộc phải thắt cổ trong ngục. Cuộc khởi nghĩa Mỹ Lương do Cao Bá Quát lãnh đạo được khắp nơi hưởng ứng, Tự Đức đã đàn áp nghĩa quân thật tàn bạo. Cao Bá Quát bị bêu đầu tại khắp các tỉnh Bắc Kỳ, sau đó băm nát ném xuống sông, thủ lĩnh những cuộc nổi dậy khác ở Vĩnh Yên, Sơn Tây, Hải Dương cũng đều bị xử tử. Nhưng mỗi họa lớn lúc này lại là nạn ngoại xâm rình dập. Ngày 26 tháng 9 âm lịch năm 1856, lính Pháp bắn phá tan nát các đồn luỹ ở khu vực Sơn Trà – Đà Nẵng, rồi đổ bộ lên bờ phá huỷ toàn bộ số đại bác bố phòng ở đó. Ngày 25 tháng 1 năm 1857, đại diện vua Pháp là Montiguy đến Đà Nẵng yêu cầu gặp triều đình Huế, Tự Đức lúc ấy phần thì lo sợ, lại lúng túng chưa có kế sách gì nên đành cự tuyệt và trút giận vào việc bài trừ đạo Gia Tô, tạo thêm cớ để thực dân Pháp vũ trang xâm lược Việt Nam. Cao trào bắt đầu từ cuộc đàn áp sự chống đối của các cố đạo ngoại quốc và giáo dân tỉnh Nam Định của Tự Đức. Lý Thừa, Phạm Văn Phụng, Bùi Văn Tống, Dương Văn Thuật cùng những người theo đạo Gia Tô đã liên lạc với cố đạo Pháp nổi lên chống lại Triều đình Huế, họ hoạt động ở hầu hết vùng duyên hải Bắc Kỳ. Vũ Duy Thanh rất ghét tà giáo, ông đã làm bài sớ (Bồng Châu thi tập - Quyển 3) phê phán tệ hại của đạo Gia Tô và kiến nghị triều đình phải tẩy trừ cho bằng sạch vì tà giáo là kẻ dẫn đường cho đội quân xâm lược.

Tháng 7 âm lịch năm 1858, mười hai tàu chiến của thực dân Pháp bắn phá các pháo dài đồn luỹ ở cửa biển Đà Nẵng, mở màn cuộc viễn chinh xâm lược Việt Nam, mà không vấp phải sự kháng cự nào đáng kể. Trước tình hình đất nước trong cơn “nước sôi lửa bỏng”, Vũ Duy Thanh liên tục có những điều trần. Ông kiến nghị nên tổ chức lại việc học, cốt tuyển chọn được nhân tài cho đất nước. Cần phải cải cách chính sự, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. Đặc biệt về quân sự phải đặt quân luật thật nghiêm, mộ thêm quân nghĩa dũng ở các hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi, ban ân huệ cho họ hàng gia quyến họ. Vũ Duy Thanh càng tỏ ra “rất mới” và rất hiểu tác dụng của súng ống, thuốc đạn phương Tây, ông bàn cả đến cách chế súng bắn không có khói (tuyệt yên), bắn không có tiếng kêu (tuyệt hưởng). Thậm chí ông còn xin đầu quân đánh giặc. Ông vua “thi sĩ” Tự Đức rất khen, song cũng để đấy mà không thực hiện.

Trong tấm bia mộ Trạng Bồng Vũ Duy Thanh của Vũ Phạm Khải có đoạn viết: “Trờ về ông ngày đêm, cả khi ăn lúc ngủ, miệt mài nghiền ngẫm binh thư, ưu tư hiện trên nét mặt. Ông bớt một phần lương bổng gỗ sắt, chế thử tàu thuyền theo kiểu “Thuỷ chiến hoả công”…

Khoa cử ngày xưa có thể đào tạo nên những người rất giỏi thơ phú, song những tri thức về khoa học kỹ thuật thì bỏ trống, Vũ Duy Thanh là một trường hợp khá đặc biệt. Ông chưa một lần được tiếp xúc với những cái “lạ” của phương Tây như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Tri Phương… nhưng ông cảm nhận được sức mạnh của kỹ thuật hiện đại. Có lẽ vì thế ông đã dốc tâm huyết tìm tòi bắt chước cách làm tàu máy chạy bằng hơi nước cỡ lớn do Vũ khố mua của phương Tây năm 1840 để chế thử “Thuỷ xa mộc thành”. Ông không phải là người phát hiện ra than đá ở Việt Nam [bởi tháng Chạp âm lịch năm Kỷ Hợi (1839) lần đầu tiên Minh Mệnh đã cho khai thác mỏ than ở núi An Lãng thuộc huyện Đông Triều], nhưng ông là người kiến nghị Tự Đức, cho khai thác than ở Hòn Gai. Rốt cuộc những đề xuất của Vũ Duy Thanh nếu không rơi vào quên lãng thì cũng: “Giao cho con cháu giữ bản thảo để sau lục dụng” chứ không được thực hành.

Cái chết của Vũ Duy Thanh và con trai ông cho đến nay vẫn còn là ẩn số, nhưng nó lại là tất yết đối với một con người đầy tài năng, hết lòng vì nước, mà “sinh bất phùng thời” như ông.

Đôi câu đối của bảng nhãn Phạm Thanh viếng ông thật cảm động.

Nhân bảo đương vi thiên hạ tích

Hoạn tình năng động cửu trùng liên.

Tạm dịch:

Người mất đi thiên hạ đều tiếc nuối,

Làm quan thanh bạch trời cũng xót thương.

Hiện nay Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu giữ hai tác phẩm của Vũ Duy Thanh, đó là:

- Bồng Châu thi văn tập (ký hiệu A, 1043) gồm 3 quyển. Quyển 1 có 124 bài thơ, nội dung tiễn tặng bạn bè, mừng thi đỗ, mừng thọ, vịnh cảnh thiên nhiên và di tích Hoa Lư… Quyển II là văn tập, gồm 21 bài trướng như mừng Phan Hy Tăng được thăng Quang Lộc Tự Khanh mừng bạn về hưu… Quyển III gồm 18 bài tạp ký, phê phán bài Linh Tế tháp ký của Trương Hán Siêu, bài xích đạo Gia Tô, bác bỏ những tà giáo, dị đoan…

- Bồng Châu Vũ tiên sinh thi văn (ký hiệu VHV 422), tập hợp những bài thơ, phú, luận, văn sách của Vũ Duy Thanh trong các kỳ thi. Có bài chiếu của Tự Đức nhân việc mở chế khoa, và văn tế, câu đối đám tang bố vợ ông, câu đối mừng ông đỗ Bảng nhãn…

Chúng tôi nghĩ rằng đây là những tác phẩm vô cùng quý giá cần được khai thác và giới thiệu rộng rãi.

Vũ Duy Thanh ra đi, ở cõi vĩnh hằng ông vẫn mang theo nỗi khắc khoải đau đời, và người đời không chỉ trước kia, hôm nay mà cả mai sau sẽ mãi mãi nhớ đến ông.

Chú thích:

(1) Năm sinh và năm mất của Vũ Duy Thanh có nhiều tài liệu chép khác nhau, sách Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân viết (1806-1861). Bài “Người biết có mỏ than Hòn Gai trước nhất” – Đào Trinh Nhất viết (1807-1861). Chúng tôi căn cứ vào ngày tháng trên bia mộ Vũ Duy Thanh.

(2) Chiếu của Tự Đức nhân mở Chế khoa - Bồng Châu Vũ tiên sinh thi văn, ký hiệu VHV.422, Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.156-161

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm