20. Dòng họ giáp đệ thôn Hoa Kinh (TBHNH 2010)
DÒNG HỌ GIÁP ĐỆ THÔN HOA KINH (*)
HOÀNG THỊ MAI HƯƠNG
Quận Đống Đa thành phố Hà Nội
Qua cầu Mọc cổ kính, dong duổi theo phố Quan Nhân qua ao Ngòi Bút, rẽ vào cổng Tiền thôn Chính Kinh vài trăm thước thì tới giữa thôn, ta bắt gặp một chiếc cổng to không mái, rất bình dân song nổi bật dòng chữ Hán chân phương đắp nổi chắc khỏe, bề thế: “Nguyễn Thái Bảo từ môn”. Đó là nhà thờ ngài Thái Bảo họ Nguyễn có từ thời Lê (tục gọi là nhà thờ họ xứ cổng Phủ bởi thôn Hoa Kinh xưa có bốn ngõ, trong cửa Đình. Thọ Lão, Bồ Đề là cổng Phủ, tương truyền trước đây có phủ công chúa nên mới có tên như vậy)(1). Nhà thờ xưa rộng 2460 m2, trước cửa có một cái ao to, nay còn khoảng một sào song vẫn sừng sững năm gian gỗ tứ thiết(2) thờ ngài Thái Bảo, Đặc tiến phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc đời Lê Trung hưng (1533 - 1788), nay là thủy tổ của dòng họ Nguyễn Khắc ở Hưng Hà, Thái Bình và Quảng Trạch, Quảng Bình(3).
Bước vào “Nguyễn Thái Bảo từ môn” tôi càng kinh ngạc bởi chưa từng thấy nhà thờ một dòng họ nào lại bề thế, uy nghi chẳng thua kém một đình làng và được giữ gìn chu đáo nguyên dạng lâu đời như vậy. khoảng 600 trăm năm mà các bức đại tự, câu đối vẫn giữ được vẻ rạng rỡ chỉnh tề từ nhà Tiền tế đến Hậu cung với 8 câu đối, 5 bức đại tự và 6 sắc phong. Nét chữ rồng bay và đường khắc chạm tinh xảo sắc nét của người xưa vẫn lung linh. Hai đôi câu đối ở Hậu cung thật giản dị mà đầy kiêu hãnh về truyền thống trung nghĩa của các bậc tiền nhân họ Nguyễn Thái Bảo.
Câu thứ nhất: Sơn hà đới lệ quy tiền sử.
Văn võ y quan tự cố gia.
(Mặc cho sơn hà biến đổi vẫn hướng về sử cũ
Vẻ vang văn võ áo mũ vốn có tự nhà xưa)
Câu này do cháu đời thứ 13 Tú tài Nguyễn Xuyến (đỗ 2 khoa tú tài) và nguyên Đốc học Biên Hòa Phụng Nghi đại phu Lương Đình Dương Bá Chiêu cung tiến.
Câu thứ hai: Bách niên hân thích tùy cao hậu.
Vạn cổ huân khao vị thế thần.
(Trăm năm vui buồn theo vua mãi
Vạn cổ thơm tho vẫn tôi trung)
Câu này do Tri huyện huyện Vĩnh Bảo, cháu đời thứ 12 Nguyễn Nhạ (tú tài 4 khoa) bái tiến.
Ngoài ra trong nhà thờ còn trân trọng cất giữ 6 sắc phong thời Tự Đức, Khải Định ban cho các bậc tiền nhân trong dòng họ (các sắc phong từ cụ thủy tổ Thái Bảo đến đời thứ 6, khi cụ Tri huyện Phú Xuyên mất thì gia phả và các sắc phong bị thất lạc)
Nhưng điều đáng nói ở đây là căn cứ vào kết quả thẩm định, xác minh nhiều năm, ngày 30, 31 tháng 8 năm 2003 hai đoàn đại biểu của các nhà khoa học, giáo sư, tiến sĩ sử học, nhà báo, hội Nhà văn Việt Nam… đã về xã Tân Lễ vào nhà thờ họ Nguyễn Khắc Thái Bảo ở thôn Hải Triều huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình để dâng hương tưởng niệm bà Nguyễn Thị Lộ tại quê hương của Bà.
Họ đã minh oan cho bà và kết luận: Năm Giáp Thân 1464 Lê Thánh Tông ban chiếu tẩy oan cho Nguyễn Trãi và cho tìm con trai là Nguyễn Anh Vũ về làm Tri huyện Chương Đức và tìm mời em trai bà Lộ là Nguyễn Khắc Uẩn vào triều phong chức Thái Bảo tước Quận công.
Khi kết luận như trên họ chưa biết đến gia phả dòng họ Nguyễn Thái Bảo thôn Hoa Kinh do cụ Thiếu khanh Quang Xán đời thứ 10 năm Tân Mùi Cảnh Hưng thứ 31 (1771), tham khảo gia phả của Dực vận Tán trị Công thần Binh bộ Tả thị lang Nguyễn Tuấn ở thôn Giáp Nhất, xã Nhân Mục Môn - có cháu gái Nguyễn Thị Phương làm dâu đời thứ 7 họ Nguyễn Hoa Kinh- mà biên soạn lại gia phả. Thêm vào đó, trong sự trạng Thành hoàng ở đình Cự Chính chỉ rõ sự việc thời Lê Trung hưng, ghi chép cụ Thái Bảo là công thần thời đó và được vua ban cho gỗ xây dựng nhà thờ họ Nguyễn cùng một lúc với đình làng.
Trong gia phả họ Nguyễn Hoa Kinh có ghi:
“Cụ tổ họ Nguyễn làm quan đời Lê, trải nhiều triều đại rất mực kính cẩn, hết lòng tận tụy, phụng sự việc công, giữ gìn phép nước, kinh lược các trấn, rất được lòng dân… Tương truyền ở Thanh Hoa, Bồng Báo dấy loạn(4), Chúa Thượng(5) thân chinh ra trận, đường tiến quân qua thôn ta(6) voi ngự thình lình gục đầu phủ phục dưới gốc cây to, quân không tiến lên được. Chúa Thượng hạ lệnh tra xét. Dân thôn khiếp sợ chạy trốn. Một mình ông đến trước hàng quân xin bái yết. Chúa Thượng phán hỏi tên Thành hoàng và tên thôn ta. Ông đĩnh đạc tâu trình, lập tức Chúa Thượng hạ lệnh mở cửa đình, tự vào làm lễ. Lễ xong thay đổi cờ lệnh, thúc ba quân lên đường. Tiền quân bị lạc đường, Chúa Thượng đặc phái ông làm Tiên phong, nhằm thẳng Thanh Hoa mà tiến. Nhờ oai Trời, giặc giã dẹp yên. Tới ngày thắng trận, luận công xét thưởng, ông được phong Đặc tiến Công thần Tập ấm”
Dòng họ Nguyễn Hoa Kinh thiên về võ. Con trai trưởng của ông Thái Bảo là Anh liệt tướng quân Đô chỉ huy sứ Tẩm Phổ hầu Nguyễn Pha, cháu nội là Minh Nghị tướng quân Tổng binh sứ Dũng Thắng bá Nguyễn Quỹ; đời thứ 4 là Đặc tiến phụ quốcThượng tướng quân Kim Cẩm Y vệ chánh quản An Mỹ tử Nguyễn Bang. Đến đời thứ 6, 7, 8 lại chủ về văn chương, làm Tri huyện Phú Xuyên, Mỹ Lộc… Đời thứ 9 là Triều liệt đại phu Tán tự thừa chính sứ Tuyên Quang Nguyễn Khản; Thị nội Câu Kê Tả phiên án lại Nguyễn Hiển. Đời thứ 10 là Thực nghĩa hầu Tráng tiết tướng quân hiệu úy trị nhậm trấn Nghệ An Nguyễn Hãng; Thị nội Câu Kê Binh phiên phủ chúa Trịnh Nguyễn Xán; Chánh đội trưởng Tả Nhuệ kỳ Nguyễn Đán; Thị nội Thủ phiên Nguyễn Ý; Đời thứ 11 là Biền sinh Huyện thừa huyện Văn Chấn Nguyễn Thọ. Đời thứ 12 là Triều liệt đại phu Hàn lâm viện Thị giảng học sĩ Nguyễn Kỳ. Đời thứ 13 là 5 con trai ông Kỳ: ông Nguyễn Hoành (Tú tài), Nguyễn Khải (Tú tài 4 khoa) Hàn lâm viện Kiểm thảo hàm tòng Thất phẩm, Tri huyện huyện Kim Động, Nguyễn Nhạ (Tú tài 4 khoa) tri huyện huyện Vĩnh Bảo, Nguyễn Chiêu (Tú tài 9 khoa) Giáo thụ tỉnh Thái Bình - quyền Tri phủ phủ Thái Bình và Nguyễn Xuyến (Tú tài 2 khoa) Hàn lâm viện Đãi chế hàm tòng Cửu phẩm. Đời thứ 14 là Nguyễn Hài, Thừa biện tỉnh Hà Nội hàm tòng cửu phẩm. Đời thứ 15 là Nguyễn Hữu Đắc, Án sát sứ Hải Dương Hiệp tá Đại học sĩ đặc thụ Binh bộ Thượng thư - Tổng đốc…
Đây quả là một dòng họ sự nghiệp thịnh vượng, nối nhau đỗ đạt như đôi câu đối trong nhà thờ Thái Bảo họ Nguyễn do Đại học sĩ Quản lệnh công Binh bộ Thượng thư Cơ mật viện Đại thần trí sĩ Ninh Lãng Nam Trúc Khê Đoàn Đình Duyệt phụng năm Bảo Đại nguyên niên 1926:
Cự bảng cao đường diễn phái khoa danh truyền đỉnh giáp.
Đan thư thiết khoán Hoa Kinh huân vọng ái Minh thôn.
(Danh lớn nhà cao tiếp nối khoa danh truyền đỗ đạt
Lưu danh sử sách Hoa Kinh rạng rỡ mến thôn Minh)
Đây cũng nổi tiếng là dòng họ trải qua các đời giữ được nếp nhà cương trực nhân hậu.
Năm Vĩnh Thịnh thứ 9 (1713) mất mùa dõi kém, ông Nguyễn An (đời thứ 8) Tri huyện Mỹ Lộc cùng con rể là giám sinh Đào Phan cung tiến 1 vạn 5 ngàn bát Quan đồng(**) gạo để cứu dân.
Ông Nguyễn Hãng (1715 - 1790 đời thứ 10) làm Hiệu úy trị nhậm trấn Nghệ An “thường kết bạn với Quận Thạc (Hoàng Phùng Cơ danh tướng của Trịnh Tông), Quận Diễn (Phiên mục Tuyên Quang Hoàng Văn Đồng), Quận Tề, Quận Giai, cùng với bạn thân là Trịnh Hạc dựng quán chứa ván gỗ, quan tài ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, trấn Sơn Tây và phường Thạch Khối huyện Vĩnh Thuận để chu cấp cho những người nghèo túng, côi cút. Bà Vũ Thị Năng (vợ ông Nguyễn Kỳ) được phong hiệu Từ Độ vì bà hết lòng yêu thương những người nghèo túng đến nhờ vả, nào quần áo nào gạo tiền, có gì giúp nấy. Phàm xóm giềng có người qua đời, bà đều giúp đỡ tiền bạc, vải liệm. Gặp năm mất mùa đói kém bà chẩn cứu chu đáo. Dân làng hết lòng ca ngợi bà là người hiền đức. Năm Khải Định thứ 9 (1924) bà được truy tặng Tòng tứ phẩm cung nhân(7). Năm con trai bà thì hai con là tú tài 4 khoa, hai con nhị khoa và một con cửu khoa.
Sau khi tìm hiểu gia phả họ Nguyễn Hoa Kinh và thăm từ đường Nguyễn Thái Bảo ở phố Chính Kinh người viết bài này thiết nghĩ:
Chức Thái bảo đâu phải là nhỏ mà đức vua dễ dàng ban cho người hữu danh vô thực cốt tẩy oan, làm mát mặt người nơi chín suối. Có lẽ Lê Thánh Tông cho tìm Nguyễn Khắc Uẩn về hoàn lại chức cũ mà ông đã từng được phong là: “Thái bảo(8) đặc tiến(9) phụ quốc Thượng tướng quân Thượng trụ quốc” chăng?
Đây quả là một dòng họ sáng danh về lòng trung, đức khiêm nhường góp phần làm rạng rỡ gương mặt của người kẻ Mọc trên đất kinh kỳ xưa.
Chú thích:
(*) Một bức đại tự trong nhà thờ dòng họ nguyên văn là: “Hoa Kinh giáp đệ”. Do Tri phủ Đông Anh Hữu Phúc và Thanh quan trợ tá Hữu Hiến đồng bái tiến.
1. Cổng Phủ là cổng tiền của làng Hoa Kinh nằm trên con đường Lai Kinh xưa (con đường ra vào Kinh đô thuộc địa phận Kẻ Mọc có trên bản đồ).
2. Cổng Nhân Thọ (còn gọi là cổng Thọ Lão hay cổng Vàng) là cổng Hậu. Cổng Bồ Đề (nay thuộc chùa Bồ Đề).
Sau khi giúp Vua dẹp loạn ở Thanh Hoa, ông Thái Bảo được vua cho tu bổ, xây dựng lại nhà thờ dòng họ Nguyễn (vốn trước đó là nhà tranh) cùng một lúc với đình làng Hoa Kinh. Dân làng còn truyền nhau chuyện: Chúa Thượng cho trâu chở gỗ về làng, cứ cây gỗ nào có chữ Thái Bảo thì mang về nhà thờ họ Nguyễn. Cây nào có chữ Thành hoàng thì mang về đình làng.
4. Hàng năm chi Nguyễn Khắc ở Hưng Hà, Thái Bình vẫn lên nhà thờ tổ ở Chính Kinh mỗi dịp giỗ Thủy tổ..
5. Bồng Báo:
- Thôn Bồng, xã Bồng Dậu, tổng Văn Trường, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia.
- Thôn Báo Biến, tổng Thạch Tuyền, phủ Đà Trung đều thuộc trấn Thanh Hoa.
6. Chúa Thượng: chỉ vua Lê, chưa rõ đời nào.
7. Thôn ta: năm 1032 xa giá vua Lý Thái Tông đi qua đường Lai Kinh đến hương Tín Đỗ Đông giang, Thanh Oai để tịch điền. Khi về qua Nhân Mục thấy cảnh đẹp, bình yên mới ban cho tên Hoa Kinh. Năm 1841, do phạm húy mẹ Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa nên phải đổi là Minh Kinh. 1885 phạm húy vua Hàm Nghi là Minh, phải đổi là Chính Kinh. Hiện vẫn giữ được sắc phong.
8. Thái bảo là bậc thứ 3 trong hàng Tam thái (Tam công). Thái sư (Thái úy), Thái phó, Thái bảo là ba chức quan võ lớn nhất trong triều. Tiếp theo sau là Tam thiếu: Thiếu sư, Thiếu phó, Thiếu bảo.
9. Đặc tiến là vị công thần được tiến triều bằng công lao đặc biệt. Phụ quốc Thượng tướng quân là viên tướng có công lớn giúp nước. Thượng trụ quốc là cột trụ vững chắc của quốc gia. Bằng sắc và nghi trượng các triều đại do tàn dư của chiến tranh loạn lạc thời Lê mạt hủy hoại không còn lại gì cả. Chú thích trích trong gia phả.
(**) Bát quan đồng là cái bát lớn bằng đồng dùng làm đấu đong thóc gạo, dụng cụ đo lường hợp pháp của nước ta thời phong kiến, nhân dân gọi chệch là bát con rồng, sau này được làm bằng gỗ tiện, trên miệng đánh vòng mây hoặc kim loại để chống sứt mẻ. Một bát quan đồng gạo bằng 2 kg gạo như vậy số gạo cung tiến khoảng 30 tấn./.
(Thông báo Hán Nôm hoc, 2010, tr.170-176)