20. Giới thiệu tấm bia Chợ Quan tại xã Trường Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh (TBHNH 2011)
GIỚI THIỆU TẤM BIA CHỢ QUAN TẠI XÃ TRƯỜNG LƯU, HUYỆN CAN LỘC, TỈNH HÀ TĨNH
VŨ XUÂN HIỂN
Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Trong đợt sưu tầm năm 2011 tại tỉnh Hà Tĩnh, chúng tôi đã tiến hành điều tra và in dập một số lượng thác bản văn bia đáng kể. Trong số bia in dập được phải kể đến những tấm bia như Nguyễn Thám hoa gia phả ký, Nhâm Thìn khoa Tiến sĩ đề danh bi ký... Những bài ký ghi trên bia của vùng đất Hà Tĩnh phần lớn được sáng tác bởi các bậc túc Nho trên văn đàn cổ điển Việt Nam, uyên thâm trên cả hai bình diện Nho học và thực tiễn. Trong số những văn bản được sưu tầm tại thực địa, chúng tôi quan tâm nhất tấm bia hiện đặt tại chợ Quan, xã Trường Lưu, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Đây là tấm bia khắc bài ký của Nguyễn Huy Oánh, đại thần và là nhà văn, nhà thơ thời Lê - Trịnh.
1. Một số tìm hiểu về Nguyễn Huy Oánh và bài ký chợ Quan
Nguyễn Huy Oánh (1713-1789) đỗ đầu kỳ thi Hương tại trường thi Nghệ An kỳ thi Nhâm Tý (1732), đỗ thi Hội, đỗ Đình nguyên (Thám hoa) khoa thi Mậu Thìn (1748), phục vụ triều đình Lê - Trịnh, làm đến chức Thượng thư Bộ Hộ. Năm Nhâm Dần (1783), ông cáo lão về trí sĩ ở hẳn quê nhà (làng Trường Lưu, tổng Lai Thạch, huyện La Sơn, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, nay là xã Trường Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh).
Chợ nông thôn, đặc biệt trong giai đoạn thế kỷ 18, phản ánh rõ rệt đời sống kinh tế-xã hội và văn hóa của dân cư làm nghề nông. Hình thức tự sản, tự tiêu là cơ bản, phục vụ những nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày của người nông dân. Bên cạnh đó, đi chợ là một hình thức giao lưu văn hóa mang đặc điểm đặc trưng rõ rệt của khung cảnh xã hội phong kiến với những mối quan hệ ràng buộc và tôn vinh dòng họ, đồng thời mang tính hướng ngoại trong một khuôn khổ địa lý nhỏ hẹp với một số dòng họ cùng tồn tại và sinh sống phát triển.
Có thể nói, cùng với sinh hoạt cộng đồng như tế lễ, hội tại một khu vực dân cư trong khuôn khổ địa lý-văn hóa nhất định, sinh hoạt chợ là một loại hình phổ biến trong giai đoạn phong kiến trung kỳ, nơi mà dân cư trong một khu vực địa lý nhất định, với những mối quan hệ rất gần gũi, như dòng họ, xóm giềng, thông gia... đặc biệt là những gia đình có người làm quan, đỗ đạt, là những dấu ấn tự hào và thậm chí là tự tôn trong cả dòng họ, thậm chí mang ảnh hưởng về vật chất và tinh thần đến cộng đồng làng xã.
Bài ký của Nguyễn Huy Oánh thể hiện rõ nhân sinh quan Nho giáo trong thời kỳ trung đại phong kiến Việt Nam, đó là sự kết hợp giữa việc quản lý mang tính chất triều đình (hành chính) với việc quản lý mang tính chất đặc trưng làng xã Việt Nam. Ông viết: "Từ tháng tới, lấy ngày mùng bốn, mười bốn, hai bốn, mùng tám, mười tám, hai tám hàng tháng, nghĩa là lấy ngày mùng bốn và ngày mùng tám làm phiên mở đầu họp chợ hàng tháng..."
Với những dữ kiện này, Nguyễn Huy Oánh đã chọn những thời điểm tốt nhất trong nông lịch để định phiên họp chợ với một điển hình của chợ nông thôn Việt Nam.
Điểm thứ hai, trong bài ký, Nguyễn Huy Oánh đã tiên liệu sự phát triển của thị trường nông thôn Việt Nam trong thế kỷ XVIII, với nền tảng là ý thức hệ nông thôn, vừa là bầu không khí tình làng nghĩa xóm, nhưng vô cùng sôi động, có yếu tố cạnh tranh và lợi nhuận của thị trường "Có người ồn ào muốn bán, có kẻ kiên nhẫn chờ đợi..."
Điểm thứ ba, thể hiện quan điểm của Nguyễn Huy Oánh về việc lập chợ, với mục đích phát triển kinh tế vùng, giao lưu kinh tế, văn hóa với các khu vực lân cận, theo quan điểm kinh tế mở trong thời kỳ phong kiến "Khuyến khích khách buôn, khoan thứ thương nhân, tỏ lòng nhân đức của triều đình..."
Nguyễn Huy Oánh là một nhà nho, một đại quan trong triều đình, đã từng qua nhiều chức vị cao trong triều phong kiến, nhưng một trong những quan điểm nhân văn của ông là lòng yêu làng nước, đồng bào được thể hiện qua văn bản ký chợ Quan ở chính quê hương ông. Bài ký bia chợ Quan thấm đượm tình người của nền Nho giáo truyền thống, đồng thời phản ánh tính đấu tranh quật cường của những người dân trong công cuộc mở mang bờ cõi đất nước trong thế kỷ 18, khi mà đất nước trong quá trình định hình về địa lý và quyền lực dân tộc - quốc gia trong suốt dải đất miền Trung. Việc định hình các quần thể dân cư làng xã, song song với nó là xây dựng thiết chế quản lý hành chính - kinh tế là một quy luật tất yếu trong giai đoạn này ở Hà Tĩnh cũng như các tỉnh khu vực miền Trung, và được phản ánh rất rõ nét trong những tác phẩm như Quan thị bi ký.
2. Giới thiệu về bia chợ Quan:
Bia dựng năm Cảnh Hưng thứ 17 (1756), khi Nguyễn Huy Oánh đang làm Tán trị Thừa chính sứ xứ Sơn Nam. Trong thời gian ông trị nhậm, tại quê nhà, trong diện tích đất dinh cơ nhà ông, có một khoảng đất gọi là Cồn Lều, diện tích rộng rãi, bằng phẳng, giáp đường đi lối lại của tứ xứ, là nơi rất thuận lợi cho việc lập chợ. Vì vậy, Nguyễn Huy Oánh thuận cho lập chợ ở nơi đó, có sức đóng góp của nhân dân các thôn lân cận. Theo Nguyễn Huy Oánh, chọn Cồn Lều làm nơi họp chợ vì nó thuộc hướng Thanh Long (hướng Đông), là hướng tốt nhất cho vật giá, của cải, dân chúng. Cũng tại nơi này, Nguyễn Huy Oánh đã dựng trướng làm lễ cải táng cho cha mình (Nguyễn Huy Tựu, 1690-1750), vì vậy, đây cũng là một lý do cho việc chọn đất dựng chợ. Trong bài ký, ông viết: "Xây chợ ngay trên cái nền dựng trướng cũ, ắt là làm sáng rõ niềm cung kính suốt đời với cha mẹ vậy".
Đây là tấm bia đá khắc trên hai mặt, khổ 105x50cm, đặt ở giữa chợ Quan hiện nay (như đã dẫn). Tấm bia đặt giữa lối đi của hai hàng chợ bán tạp hóa, và ngày nay hầu như không có sự quan tâm của những người đi chợ cũng như các nhà quản lý văn hóa. Tấm bia khắc toàn bộ bài ký bằng chữ Hán và dấu triện "Thạc đình cư sĩ" - biệt hiệu của Nguyễn Huy Oánh.
Tuy nhiên, do nhiều lý do của lịch sử, tấm bia đã bị vỡ phần phía trên, một số chữ đã mất, không đọc được một cách rõ rệt. Những chỗ chữ bị mất, chúng tôi tham khảo và sử dụng mục 13 bia Chợ Quan, Văn bia Hà Tĩnh, Sở Văn hóa Thông tin Hà Tĩnh, 2007 (tr.82-88) bằng những chữ in nghiêng (phần chữ bị mất trong thác bản sưu tầm). Rất mong các nhà nghiên cứu và độc giả xem xét bổ sung một cách hữu dụng nhất.
Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu bài ký như sau.
Dịch nghĩa:
Bài ký viết trên bia tại chợ Quan(1)
Chợ Quan, tên cũ gọi là Cồn Lều, nằm trong cơ ngơi của ta. Đây là mảnh đất có hướng Thanh Long(2) vào loại nhất, là một khu gò bằng phẳng thẳng thắn, ngay ngắn, bốn phương thông suốt. Ngày trước khi ta còn trẻ mở trường dạy học, thường giảng bài, ôn luyện sách vở ở đó. Học trò tụ hội về lớp, có khi đông tới trăm người, thế mới biết nơi này rộng rãi đến chừng nào. Ngày đó ta đã có ý lập chợ ở nơi đó. Đến mùa xuân năm Mậu Thìn(3), ta đỗ Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh(4). Đến năm Kỷ Tỵ(5), Canh Ngọ(6) ta lại có việc quân phải đi, không có ngày nào để suy nghĩ về việc này. Rồi trong nhà lại có tang, vào tiết Trung Nguyên năm Nhâm Thân(7), dựng trướng che linh cữu(8), cất nhà tế cũng tại nơi này. Việc tế lễ đã hoàn tất, nên dựng chợ ở trên nền cũ đó.
Lúc bấy giờ dân của bốn thôn Trường Lưu, Sơn Nê, Đông Tây, Đông Tây và Gia Hưởng(9) cùng nhau góp sức để xây dựng chợ. Bắt đầu từ tháng tới, lấy ngày mùng bốn, mười bốn, hai mươi bốn, mùng tám, mười tám, hai mươi tám hàng tháng làm ngày họp chợ, vậy là lấy ngày mồng bốn tháng tám này là ngày họp phiên chợ đầu tiên. Ôi, với việc xây chợ trên đất này để mình ta trục lợi(10) chăng? Xây chợ trên nền cũ mà đã từng dựng trướng tế lễ, hẳn là để sáng rõ niềm cung kính suốt đời với cha mẹ. Trong quản lý chợ, chỉ xét hỏi điều gian trá, chứ không đánh thuế(11), tất là tỏ rõ lòng bao dung với dân. Người sang hay người hèn, chỉ việc vào chợ mà xem thì biết tục lệ và thị hiếu của người đời. Không kể người lớn hay trẻ con, sáng sớm đã chen chân vào chợ, thế mới biết thế thái như thế nào. Cửa vào đời như chợ, lòng người như dòng nước, lặng lẽ thu nhận điều tốt để tạo nên bước đầu lập chí. Có kẻ rêu rao ồn ào, có người lặng lẽ chờ đợi để bán hàng, đứng bên họ mà suy ngẫm thì có thể tìm cách sửa mình. Hàng hóa tràn lan, gạo thóc la liệt, có thấy đó mới biết sự giàu có của thiên hạ. Mua bán thuận tiện, người bán hàng thỏa mãn, đó chính từ lòng nhân đức của bậc vương giả. Đó phải chăng là cớ để lập chợ ư? Huống chi cầu Quan(12), bến mới, lối ngõ, đường thông được cùng làm một lúc, thì không chỉ cảnh sắc quê hương(13) ngày một đổi mới, mà còn khiến cho hàng chục năm sau, người qua lại sẽ nói: Chợ này được dựng vào năm ấy; rồi hàng trăm ngàn năm sau sẽ có người nói: Chợ ấy là công tích của ông ấy.
Đấy chính là cái chí hướng của ta. Nhân đó, nhờ người khắc bài này vào bia đá. Lại viết bài thơ rằng:
“Song Ngư(14) giáng khí mạch về Tân(15)
Bốn bề phong cảnh tựa ngày xuân
Hang mai mây sớm tô tranh vẽ
Non cách chim chiều điểm áng văn
Quý gạo khinh vàng dân tục tốt
Trọng buôn, thương bán tỏ lòng nhân
Ba lần một bữa vui mời bạn
Mua rượu gặp khi đãi khách quen(16)
Ngày 21 tháng Mười năm Cảnh Hưng thứ 17(17)”.
Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ Tam danh khoa Mậu Thìn(18) Thám hoa lang, chức Hoằng tín đại phu Thượng Bảo, tự là Tự Khanh, Thự Tham chánh tên Nguyễn Huy Oánh, biệt hiệu là Thạc Đình cư sĩ soạn tại nhậm sở Sơn Nam.
Chú thích:
(1) Chợ Quan: Chợ tại làng Trường Lưu xã Lai Thạch huyện La Sơn cũ, nay là thôn Trường Lưu xã Trường Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.
(2) Thanh Long: Tên chòm sao 7 ngôi trong Nhị Thập Bát Tú (Hai mươi tám vì sao). Chòm sao Thanh Long ở về hướng Đông. Thanh Long được coi là biểu tượng của điềm lành, chủ về: thê thiếp, bạn bè, vật giá, của cải, dân chúng. Theo thuật phong thủy, công trình xây dựng phía trước nên hướng về phía nam, hành hỏa (Chu Tước); phía trái từ trong nhìn ra nên hướng phía tây, hành kim (Bạch Hổ); phía phải nên hướng phía đông, hành mộc (Thanh Long); phía sau nên hướng về phía bắc, hành thủy (Huyền Vũ).
(3) Năm Mậu Thìn: Năm 1784, năm Nguyễn Huy Oánh đỗ Thám hoa.
(4) Tiến sĩ cập đệ Đệ tam danh: Tức Thám hoa lang.
(5) Năm Kỷ Tỵ: Năm 1748. Nguyễn Huy Oánh làm Phụng sai Tham mưu đạo Thanh Hoa.
(6) Năm Canh Ngọ: Năm 1749. Nguyễn Huy Oánh làm Hiệp đồng Nghệ An, cùng Phạm Đình Trọng vây đánh cuộc khởi nghĩa nông dân Nguyễn Hữu Cầu tại Bào Giang. Cũng trong năm này, cha ông là Nguyễn Huy Tựu mất, ông về quê chịu tang cha.
(7) Tức rằm tháng Bảy năm 1752, có lẽ là khi Nguyễn Huy Oánh làm cải táng cho cha.
(8) Nguyễn văn "liễu xa" chỉ xe chở quan tài (Sử ký).
(9) Tên các thôn ở xã Lai Thạch, huyện La Sơn (nay là xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh).
(10) Nguyên văn "võng lợi" (Mạnh Tử), nghĩa là vây lưới (bắt cá) để trục lợi. Sách Mạnh Tử viết: "Hữu tiện trượng phu yên, tất cầu lũng đoạn nhi đăng chi, dĩ tả hữu vọng nhi võng thị lợi, nhân giai dĩ vi tiện" (Kẻ trượng phu hèn hạ, chỉ mong khi có rối loạn thì trèo lên trên chỗ cao để ngó trước ngó sau buông lưới trục lợi, người đời đều cho loại ấy là bỉ tiện).
(11) Nguyên văn "ki dị phục nhi bất chinh". Theo sách Kinh Lễ, để phòng gian tặc vào trong thành, triều đình quy định dân phải mặc một loại trang phục nhất định để nhà chức trách dễ quản lý kiểm soát khi đi lại.Theo sách Mạnh Tử "quan ki nhi bất chinh": các cửa ô qua lại trong thành chỉ xét hỏi chứ không đánh thuế.
(12) Cầu Quan: Chỉ cầu Chợ Quan trong khu vực chợ Quan
(13) Nguyên văn "Phần Du" địa danh quê hương của Hán Cao Tổ, sau được dùng để chỉ quê hương nói chung.
(14) Song Ngư: Tên một hòn đảo ở vùng biển thuộc trấn Nghệ An cũ. Theo thuyết phong thủy xưa, đảo Song Ngư thuộc vào nhánh Thanh Long của thế đất chợ Quan.
(15) Hướng Tân: Theo thuyết phong thủy (hậu thiên) hướng Tân (Sơn Tân), thuộc hướng Tây chếch Tây Bắc.
(16) Nguyên văn "gia tân" là con chim sẻ, được coi như khách của người vì hay bay nhảy cạnh nhà gia chủ. Trong bài ký này "gia tân" được hiểu như khách vãng lai.
(17) Tức năm 1756 đời vua Lê Hiển Tông (1740-1786).
(18) Tức năm 1748.
Tài liệu tham khảo:
- Văn bia Hà Tĩnh - Sở Văn hóa và Thông tin Hà Tĩnh, 2007./.
(Thông báo Hán Nôm học 2011, tr.609-616)