VI | EN
20 . Lê Sao và dòng họ của ông qua ba tấm bia tại di tích từ đường họ Lê ở Phạm Xá, Đinh Xá, Bình Lục, Hà Nam (TBHNH 1998)
TBHNH 1998

LÊ SAO VÀ DÒNG HỌ CỦA ÔNG QUA

BA TẤM BIA TẠI DI TÍCH TỪ ĐƯỜNG HỌ LÊ

Ở PHẠM XÁ, ĐINH XÁ, BÌNH LỤC – HÀ NAM

MAI HỒNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

1- Ai cũng biết Lê Sao là một trong 93 vị công thần khai quốc thời Lê Lợi đánh đuổi quân Minh. Thứ bậc các công thần thời kỳ này, Lê Sao đứng vào số 19 và trong danh sách những người tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ngày 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418) thì Lê Sao đứng vào số thứ tư (sau Lê Khang(1), Lê Luân, Lê Nanh, đứng trước Lê Lễ (tức Đinh Lễ) và bao nhiêu công thần khác.

Như vậy, vị trí Lê Sao đâu phải là thường trong hàng ngũ những công thần khai quốc ở thời kỳ kháng chiến oai hùng của dân tộc Đại Việt đánh đuổi giặc Minh hung bạo ở đầu thế kỷ XV? Thế nhưng sử sách thời ấy như: Đại Việt sử ký toàn thư, Lê triều thông sử (Đại Việt thông sử), Lam Sơn thực lục, Trung san Lam sơn thực lục…(2) chép về Lê Sao lại vô cùng khiêm tốn và rất kiệm lời khiến cho hậu thế gặp rât nhiều khó khăn khi nghiên cứu về ông.

Gần đây nhân trong các chuyến đi công tác điền dã ở Hà Nam, chúng tôi đã thu thập được một số tư liệu, Hán Nôm, cụ thể là đã dập được ba tấm bia có liên quan tới vị khai quốc công thần Lê Sao và dòng họ của ông trên mảnh đất Hà Nam này:

2- Trước hết xin được giới thiệu qua về một số truyền thuyết về họ Lê ở địa phương này. Theo những người họ Lê ở đây là hậu duệ của vị khai quốc công thần Vinh Quốc công Lê Sao và những ông già bà cả ở thôn Phạm Xá, xã Đinh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam cho hay, vào khoảng đầu thế kỷ XVI có một vị quan Thái Bảo, Quận công tên là Lê Duy Đạo cùng phu nhân hiệu là Tiên Đào công chúa về đây khai hoang lập ấp, xây từ đường phụng thờ tổ tiên họ Lê kể từ cụ tằng tổ (4 đời) Hoằng Dụ vương Lê Trừ; Tổ khảo (ông nội) Vinh Quốc công Lê Duy Sao và hiển khảo (cha) Thái uý Phú Quốc công Lê Thọ Vực. Buổi đầu về đây lập ấp, bà Tiên Đào khai khẩn mở rộng ruộng đồng, qui hoạch dân cư theo phép tỉnh điền thời cổ, bốn bên tám phía là dân làng Đinh ở, Tứ diện giai Đinh Xá địa phận còn dân làng Phạm ở vào chính giữa. Cho nên dân làng Phạm Xá coi ông bà Quận công là vị thần Nguyên mộ (vị Thành hoàng chiêu dân lập ấp). Đặc biệt đối với bà Công chúa Hoa Đào, bà đã dạy dân cày cấy, giúp đỡ cưu mang người nghèo. Nhớ ơn bà dân làng Phạm Xá lập miếu riêng để thờ bà ngay cạnh đình làng và kỵ húy hai chữ HoaĐào mà đọc chệch là Huê và Điều. Sinh thời ông bà Quận công còn có đầm sen 7 mẫu để ông Quận và Công chúa sớm chiều ngoạn cảnh. Ở tại miếu thờ bà nay vẫn còn đôi câu đối.

Nhất thốc lâu đài tăng tráng lệ

Ức niên cư lý mộc an ba.

Dịch nghĩa:

Một khóm lâu đài thêm tráng lệ

Vạn năm thôn xóm đội ơn sâu.

Từ đó trở đi, linh thiêng hiển hách, dân thôn ai gặp sự chẳng lành, đến kêu cửa miếu đều được ứng nghiệm, các triều đại đế vương đều có sắc phong lệnh chỉ cho dân thờ tự. Nhưng do năm tháng đổi thay, bể dâu binh hỏa, từ đường họ Lê vốn nguy nga to rộng đã bị rêu phong hư nát dần; gia phả, thần phả, sắc phong các đời cũng bị mai mọto thất truyền. Bởi vậy, vào những năm 40 của thế kỹ XX này con cháu của công thần khai quốc Lê Sao đã hội họp cùng nhau tu tạo miếu mạo từ đường, dựng bia ghi tạc tên tuổi, công tích tiên nhân, tiên hiền của nhà mình để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Chính nhờ vào công việc làm ấy của họ mà nay chúng ta có được những tư liệu cơ bản để nghiên cứu về Lê Sao và dòng họ của ông ở thôn Phạm Xá, xã Đinh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Đó là chúng tôi muốn nói tới ba tấm bia dựng ở từ đường dòng họ Lê ở đây.

3- Hiện nay chúng tôi đã dập được 3 tấm bia tại từ đường họ Lê, thôn Phạm Xá, xã Đinh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam. Sau đây chúng tôi xin lần lượt miêu tả về ba bài văn bia đó:

Bia thứ nhất (B1): Tên là Phạm Xá Lê tộc từ đường bi ký (bài ký bia từ đường họ Lê ở Phạm Xá). Bia không ghi tên người soạn, dựng ngày 2 tháng 12 năm Bảo Đại 18 (1943). Kích thước 87 x 56cm; 13 hàng chữ: trung bình mỗi hàng 30 chữ.

Nội dung chính của bia nói về nguồn gốc họ Lê này vốn là dòng dõi của vua Lê Thái Tổ xuất xứ từ làng Lam Sơn, huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hóa ngày nay) do người cháu bốn đời của Lê Trừ (anh trai thứu của Lê Lợi được phong Hiển Nghiệp hầu sau khi chết được truy phong Hoằng Dụ vương), là Lê Duy Đạo làm quan đến Đô uý Thượng thư bộ Công, Thái bảo, tước Huấn Quận công cùng vợ là Tiên Đào công chúa tới trang Phạm Xá làm nhà ở và dựng từ đường thờ phụng tổ tiên kể từ cụ tằng tổ Lê Trừ, ông nội Lê Duy Sao, cha đẻ là Lê Thọ Vực. Về sau, người cháu ba đời của ông Lê Duy Đạo lập bia này để ghi tên tự tên hiệu, chức tước ngày giỗ, nơi chôn cất phần mộ, vị trí lăng miếu, thần hiệu, xứ sở số ruộng đất của 5 vị tiên liệt được phong làm phúc thần của họ Lê ở đây để lưu truyền vĩnh cửu cho con cháu phụng thờ. Đời tổ thứ nhất: Hiển Nghiệp hầu Lê Học Cục, thụy là Hương Đại vương Lê Trừ, (giỗ ngày 5 tháng 3). Đời tổ thứ hai: Bình Ngô khai quốc công thần, Thượng thư, Thượng trụ quốc, Đặc tiến Kim tử Vinh lộc Đai phu, Thái uý Vinh Quốc công Lê Duy Sao; Bao phong Trung đẳng phúc thần, sau thăng lên Thượng đẳng Đại vương. Mộ táng tại xã Hào Lương(3), theo hướng Bắc Nam, (giỗ ngày 11 tháng 5). Đời tổ thứ ba: Trung Hưng nguyên huân (công lao bậc nhất) công thần Phụ quốc Thượng tướng quân, Thái uý, Phú Quốc công Lê Thọ Vực, thụy là Chiêu Trang Đại vương. Mộ táng tại xứ Miếu Nội xã Hào Lương theo hướng Bắc Nam, (giỗ ngày 16 tháng giêng). Tổ đời thứ tư (tổ khảo): Phò mã Đô uý Công bộ Thượng thư, Thái bảo Huấn Quận công Lê Duy Đạo, tên thụy là Giới Liêu Đại vương. Mộ táng tại xã Tái Kênh huyện Bình Lục theo hướng Đông Tây, (giỗ ngày 2 tháng 4), dựng lăng tại xã Tái Kênh. Huấn Quận công Phu nhân tên húy là Hoa Đào, tên thụy Tiên Đào Công chúa, (giỗ ngày 5 tháng 8). Văn bia còn cho biết số ruộng đất tại khu lăng của Huấn Quận công Lê Duy Đạo là 1 mẫu 8 sào 7 thước 5 tấc và ruộng hương hỏa (tự điền) của miếu là 40 mẫu. Từ miếu thờ ông bà Huấn Quận công và Tiên Đào Công chúa tới từ đường họ Lê dân chúng khơi một con kênh lòng rộng 5 mét thuyền rồng có thể ra vào thuận tiện, lại mở một con đường dài hơn 30 trượng rộng 5 mét để đi lại từ từ đường họ ra bến sông.

Nhận xét về văn bản B1:

Bài văn bia này là đã ghi lại những nét chân thực và cơ bản về lịch sử của một dòng họ vốn là trong hoàng tộc triều Lê Sơ. Lịch sử ba bốn đời kế tiếp nhau cứu nước lập công hiển hách: Cụ (Lê Trừ), ông (Lê Duy Sao), cha (Lê Thọ Vực), con (Lê Duy Đạo). Nhưng cũng có một vài chi tiết mà văn bia chép nhầm cần phải đính chính như sau:

(1) Ngay câu đầu tiên của bài văn chép: Ngã tổ Lê Học Cục Đại vương, nãi Lê Thái Tổ thân huynh chi tử. Dịch nghĩa là: Cụ tổ họ ta là Lê Học Cục Đại vương, chính là người con của anh ruột của Lê Thái Tổ. Người đọc sẽ hiểu ngay ông Lê Học Cục là cháu gọi Lê Lợi là chú ruột. Khi đọc tới hạ văn người ta thấy Học Cục là đời tổ thứ nhất và Lê Sao là đời tổ thứ hai. Vậy ông Học Cục (tức Lê Trừ) là cha đẻ của ông Lê Sao. Lê Trừ là anh ruột của Lê Thái Tổ. Đó là điêu lầm thứ nhất của văn bia.

(2) Nếu chúng ta tính năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) đời vua Lê Lợi đến năm dựng bia năm Bảo Đại thứ 18 (1943) tức là 515 năm. Vậy mà người dựng bia xưng hô với Lê Duy Đạo (cháu 3 đời của Lê Sao) là ông nội (tổ khảo) khiến cho người đọc sẽ hiểu nhầm người dựng bia là cháu 5 đời của Lê Sao? Đó là điều nhầm thứ hai của văn bia mà người đọc cần lưu ý.

Bia thứ hai: (B2): tên là Phạm Xá Lê tộc từ đường tả bảng bi (văn bia Tả bảng tại từ đường họ Lê ở Phạm Xá). Không ghi tên tác giả soạn bia, không ghi năm tháng, nhưng qua trang trí hoa văn tự dạng hệt như B3. Nên chúng tôi cho rằng B2 có cùng niên đại với B3. Khuôn khổ 72 x 50cm, 18 hàng chữ, mỗi hàng 30 chữ. 30 chữ x 18 hàng = 540 chữ.

Nội dung: chép lệnh chỉ của Nguyên soái Tổng quốc chính Tĩnh Vương (Trịnh Sâm) đề ngày 17 tháng 2 năm Cảnh Hưng 33 (1772) cho bọn Chánh Phó đội trưởng Lê Giai, Lê Thạc, Lê Năng, Lê Hữu Dũng, Lê Tất Tài, Lê Nhượng vốn là con cháu trưởng chi trong Hoàng tộc vua Lê quyê ở Lam Sơn, làm nhà ở quê ngoại trang Phạm Xá xã Đỗ Xã huyện Duy Tiên, bởi vì tiền tổ của họ là Thái úy Vinh Quốc công Lê Sao lại là anh ruột của vua Lê Lợi cùng thủ xướng khởi nghĩa Lam Sơn, Bình Ngô khai quốc công thần. Lê Sao lại sinh ra Thái úy Sùng(4) Quốc công Lê Thọ Vực, người có nhiều công lao đánh giặc và rước Lê Thánh Tông lên ngôi. Lê Thọ Vực lại là người có công lớn trong các cuộc chinh phạt Ai Lao và Bồn Man dưới thời Lê Thánh Tông, là người trung quân ái quốc biểu hiện ở lời thề với nước non mà quốc sử và văn bia còn ghi lại: Gươm mài thề với non sông, dù non mòn mãi chỉ còn bằng hòn đá mài, bằng dải áo, cũng nguyện cùng với đất nước chia vinh sẻ nhục. Lê Thọ Vực lại sinh ra Thái bảo Huấn Quận công Lê Duy Đạo, Thừa Chánh sứ ty Tham nghị Lê Phương. Con cháu của những vị này nay đã đông đúc, mặc dù có người đi ở quê ngoại, hoặc quê mẹ, hoặc ở quê vợ, thì dân các địa phương ấy đều phải tuân như lệnh chỉ, miễn trừ binh phu tạp dịch cho tất cả con cháu họ Lê ở đây được bình đẳng như Lam Sơn. Nhằm sáng tỏ sự kế nghiệp đời đời của con cháu và công đức của cha ông họ ngày trước, nếu vi phạm sẽ có phép nước trừng phạt.

Kế đó, bia chép hai bảng danh sách Tả bảng tiên nhân gồm 18 vị, Hữu bảng tiên hiền gồm 51 vị.

Nhận xét văn bản B2:

Đây là tấm bia khắc in nguyên văn tờ lệnh chỉ của chúa Tĩnh Vương Trịnh Sân gọi là đám con cháu của Khai quốc công thần Lê Duy Sao ra cho làm chức Chánh Phó đội trưởng và giao cho quan lại các địa phương nơi có con cháu Lê Sao cư trú được miễn mọi phu phen binh dịch cho họ một cách bình đẳng như chính quán. Nội dung lệnh chỉ đã khẳng định thêm công lao của Lê Sao trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thời Lê Lợi. Kế tới là con ông Lê Thọ Vực, cháu nội ông là Lê Duy Đạo, cha truyền con nối kế nghiệp hiển vinh.

Bia thứ ba (B3): nhan đề Phạm Xá Lê tộc từ đường chính tế văn (văn tế chính tại từ đường họ Lê ở Phạm Xá). Bia dựng năm Bảo Đại thứ 20 (1945). Kích thước 70 x 50cm, có 24 hàng chữ, mỗi hàng trung bình 32 chữ.

Nội dung: chép bài văn tế chính thức của con cháu họ Lê ở thôn Phạm Xá xã Đinh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam để khấn cả tới tên húy, thụy hiệu, chức tước của tiên nhân tiên hiền của tộc họ này trong các dịp tế lễ kỵ chạp. Điểm đặc sắc của bài văn bia này là ngoài bốn vị tổ như Lê Trừ, Lê Sao, Lê Thọ Vực và Lê Duy đạo mà B1, B2 đã nói tới, thì ở B3 này còn cho chúng ta biết một danh sách tiên nhân tiên hiền của tộc họ này là 130 vị trong đó có 27 vị là công hầu khanh tướng (kể từ đời Lê Trừ) gồm có 1 tước Vương, 2 Quốc công, 2 Quận công, 12 tước Hầu và 2 tước Tử. Bia văn tế còn mách bảo cho ta biết thêm tên tuổi một số các vị công hầu khanh tướng khác của họ Lê Phạm Xá mà 2 văn bia trên chưa có như: Phò mã Lan Khê hầu Lê Thọ Sơn; Chỉ huy sứ Lan Khê hầu Lê Nhân Lương; Văn Phái tử Lê Doãn Hồ; Yên Phong hầu Lê Doãn Cầm; Phò mã La Vân hầu Lê Duy Giám; Thái bảo Hy Quận công Lê Duy Vĩnh; An Thái hầu Lê Hữu Khánh; An Lạc hầu Lê Tùng Thiện; Hương Nghĩa hầu Lê Duy Phương v.v…

Một vài nhận xét B3.

Bài văn bia này là bản khai công tích của những người thuộc dòng họ Lê Trừ, Lê Sao suốt chặng đường lịch sử 400 năm phụng sự vương triều Lê Trịnh mà chủ yếu là vương triều nhà Lê (tộc họ của mình). Vậy nên kể từ khởi tổ Lê Trừ, Lê Sao cho tới 27 công hầu khanh tướng sau này đã nói lên một dòng tộc luôn sản sinh những người hiền tài cho đất nước, chưa kể đến những người lên ngôi hoàng đế sau này kể từ Lê Anh Tông là cháu 5 đời của Lê Trừ thuộc dòng Lê Khang anh trai cả của Lê Sao. Vì vậy nó thật sự có giá trị đối với việc tìm hiểu những đóng góp của chi họ này cho đất nước, và là niềm tự hào chính đáng của dòng họ Lê ở đây.

4- Nhận xét chung về ba bài văn bia:

Các văn bia này chúng đã cung cấp cho ta những tư liệu rất cần thiết và cơ bản để nghiên cứu về Lê Sao và dòng dõi của ông trên mảnh đất Hà Nam mà các sử sách còn thiếu vắng. Như chúng ta đều biết, Lê Sao là một trong 3 người con trai của Lê Trừ, thế mà sách Lê triều thông sử của Lê Quí Đôn chỉ chép tên 2 người con trai của Lê Trừ: con trưởng là Lê Khang và con thứ là Lê Thọ, không nói gì tới Lê Sao một vị công thần khai quốc lớn như vậy ở thời Lê Lợi đánh đuổi quân Minh, thì các văn bia này nói rõ Lê Sao là con của Hoằng Dụ vương Lê Trừ. Lê triều thông sử chép: Lê Trừ được phong Lam Quốc công, tên thụy là Cung Hòa, thì ở B1 và B3 cho ta biết thêm về phẩm tước của Lê Trừ là Hiển Nghiệp hầu, tên là Lê Học Cục, B1 chép tên thụy là Hương Đại vương. Nhất là B2 đã in toàn văn lệnh chỉ của chúa Tĩnh Vương Trịnh Sâm. Lệnh chỉ của chúa Trịnh chính là sự khẳng định, đánh giá và là sự thù đáp của một triều đại đối với công trạng của một dòng họ vốn xuất phát từ trong hoàng tộc nhà Hậu Lê từ khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa Lam Sơn đánh đuổi giặc Minh, qua thời Trung Hưng diệt Mạc cho tới thời mạt diệp là đời Hiển Tông, cha truyền con nối giữ nghiệp công hầu khanh tướng cùng lo việc giữ nước cứu dân. Sự thù đáp đền ơn đối với bậc công thần khai quốc, thì không có điều gì chí lý bằng câu nói trong lệnh chỉ của chú Trịnh: Dĩ minh thế nghiệp biểu tiền huân. Nghiên cứu và tôn vinh một dòng họ có công với nướ như thế thì ở bất cứ thời đại nào cũng là việc đáng làm, nhất là khi hiện nay Đảng ta chủ trương xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc và nhấn mạnh đạo lý “uống nước nhớ nguồn” không được quên những người đã có công với dân với nước.

Chú thích:

1. Lê Khang là con trai cả của Lê Sao.

2. Lam Sơn thực lục hiện nay ở Thư viện Viện Hán Nôm có 7 văn bản khác nhau: trong đó, 5 bản vốn có từ lâu của Viện, 1 bản do Nguyễn Diên Niên phát hiện ở Thanh Hóa năm 1971 – Nxb Thanh Hóa, năm 1976 và bản của cụ Hoàng Xuân Hãn tặng Tổ quốc năm 1979 do GS.Trần Nghĩa dịch giới thiệu – Nxb. KHXH năm 1992 tên là Trùng san Lam sơn thực lục.

3. Hào Lương: thuộc huyện Thụy Nguyên, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hoa (tỉnh Thanh Hóa ngày nay).

4. B1 và B3 đều chép là Phúc Quốc công.

Thông báo Hán Nôm học 1998 (tr.159-167)

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm