20. Một Bồ Tát - Thần làng (TBHNH 2000)
MỘT BỒ TÁT - THẦN LÀNG
MAI HỒNG
TS. Viện Nghiên cứu Hán Nôm
Về thăm chùa Bảo Tháp, thôn Thượng Phúc, xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, ngoại thành Hà Nội, chúng tôi được nghiên cứu một cuốn thần phả khá đặc biệt, bởi lẽ cuốn thần phả này không chỉ ghi chép hành trạng của các vị thần làng khi sinh thời, cũng như sự hiển linh của các vị đó khi qua đời (hoá) như đặc tính chung của các chung của các bản thần phả, thần tích khác, mà văn bản này còn ghi chép công đức của một số vị Bồ tát chân tu vốn xuất thân từ một dòng dõi đế vương của nhà Lý và nhà Trần. Như chúng ta đã biết rõ, hai triều đại Lý Trần là một trong các thời phát triển rực rỡ nhất trong lịch sử văn hoá văn minh Đại Việt ta dưới thời phong kiến trên cả hai phương diện: Võ công, văn nghiệp. Thế mà ở thôn Thượng Phúc (xưa gọi là trang Hạ Thanh Oai) đã có hai vị Cao tăng: một là Quốc thúc nhà Lý, một cũng là quốc thích hoàng thân triều Trần về trụ trì chùa làng ở đây. Một vị thần làng là bà Hoàng thái hậu vợ vua Trần Minh Tông (1341-1329), là mẹ của vua Trần Hiến Tông. Bản thần phả này còn phản ánh được mối liên hệ lịch sử giữa các di tích văn hoá: chùa làng và đình làng khá điển hình, cùng nề nếp sinh hoạt văn hoá của một làng thuở xưa.
LỊCH SỬ CHÙA LÀNG THƯỢNG PHÚC
Chùa làng Thượng Phúc có tên là chùa Bảo Tháp (Bảo Tháp tự). Chùa Bảo Tháp được tạo dựng vào cuối thời Lý đầu thời Trần. Ta hãy đọc mấy đôi câu đối ở cột trụ cổng Tam bảo chùa:
1- Hộ quốc xuất gia, Bát đại thiên hoàng quang Lý diệp; Chân thân báo Phật, thiên thu địa mạch dưỡng liên hoa.
Nghĩa là:
1- Giúp nước rời nhà đi tu, tám đời vua, vẫn vẻ vang họ Lý; Chân tu viên mãn đắc đạo, ngàn năm mạch đất tô thắm đài sen.
2- Quốc thúc quốc sư, tân giáo truyền khai thập bát tử; Phật vương Phật tổ, linh thanh vĩnh điện trang hạ Thanh Oai.
Nghĩa là:
1- Chú của vua, Sư của nước, mở nền Phật giáo công lao triều Lý;
Vương thành Phật, Phật thành Tổ, tiếng anh linh vững ở trang Hạ Thanh Oai.
Xét trong Quốc sử, sách Toàn thư chép đến đời Lý Huệ Tông (1211-1224) đã là đời vua thứ bảy thuộc triều Lý. Huệ Tông không có con trai phải truyền ngôi cho con gái là Chiêu Hoàng. Chiêu Hoàng do tình thế phải nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Sự nghiệp đế vương của nhà Lý từ đó rơi vào tay nhà Trần. Lý Huệ Tông còn có một người em ruột tên là Lý Thầm đã xuất gia đầu thiền từ trước. Lý Thầm là chú ruột của Chiêu Hoàng, nên có lời “Quốc thúc quốc sư” như ở vế câu đối thứ hai đó. Vậy thì vị Hoà thượng ở chùa Bảo Tháp trang Hạ Thanh Oai thời ấy rất có thể là Lý Thầm.
Sang tới đời Minh Tông nhà Trần (1315-1329), (theo Thần phả) có một vị Cao tăng họ Hồ cũng dòng dõi Hoàng thân quốc thích, từ bỏ bổng lộc quan tước đầu Thiền tu Phật ở đây. Khi mới về chùa, Cao tăng này đã xuất tiền bạc riêng của mình để tu tạo chùa sở, chiêu tập hàng trăm trẻ mồ côi, cho ăn cho mặc, dạy bảo chúng học hành. Tiếng tăm của ông lan truyền khắp vùng.
Những trẻ côi cút, người quả phụ không nơi nương tựa đâu đâu cũng tìm đến để cậy nhờ ông. Ông không từ chối một ai. Bởi vậy có lúc miệng ăn lên rất đông, thóc gạo nhà chùa cạn kiệt, ông phải đi vay thóc gạo để nuôi người. Biết ơn ông, nhân dân xin tạc tượng sống để phụng thờ. Ông tu hành đắc đạo, đạt tới danh hiệu Bồ tát. Bởi long người đời kế đời ngưỡng mộ, dân chúng khắp vùng đã gọi tên chùa Bảo Tháp của ông trụ trì thành chùa Bồ Tát. Câu đối trước khám thờ Bồ Tát như sau:
- Do Hoàng thân, vi Tăng vi Thánh vi Bồ tát, lẫm lẫm anh thanh mạc trạng;
Tự Lý triều nhi Hồ nhi bản kỷ, nguy nguy tự điển như tân.
Nghĩa là:
Vốn từ dòng dõi nhà vua, là sư, là thánh, là Bồ tát có tiếng linh thiêng lẫm liệt chẳng đổi bao giờ?
Từ triều Lý đến triều Trần, triều Hồ đến đời ta diễn tích chữ nghĩa vẫn ngời ngời như mới.
MỐI LIÊN QUAN GIỮA CHÙA LÀNG VÀ ĐÌNH LÀNG
Theo Thần phả, văn tế, sắc phong và các tư liệu Hán Nôm khác ghi chép về khu di tích ở địa phương này cho thấy, vào đời vua Trần Hiến Tông (1329-1341), do gặp cơn binh biến bất ngờ (giặc đốt phá kho tàng ở kinh thành), Minh Từ Hoàng thái hậu một mình chạy về đây, bà vốn có lòng mộ đạo lại gặp được vị Bồ tát họ Hồ - Nhà sư vốn cũng là dòng hoàng thân quốc thích, vừa gặp đã quen thân, bà đã lưu lại chùa để giúp việc Bồ tát.
Ngay trong ngày gặp đầu, Bồ tát nhận ra Thái hậu là người có đức từ bi, ông tin tưởng và phó thác việc chùa cho Thái hậu, nên ông cho lập ngay hoả đàn đăng trì niệm Phật, sai chúng trẻ châm lửa hoả thiêu. Lửa cháy bốn bề rừng rực mà Bồ tát vẫn thản nhiên tụng kinh Đại tạng. Đó là ngày 14 tháng tư âm lịch. Hàng năm cứ vào ngày này dân chúng (9 phe) vùng Thanh Đàm (tên Thanh Trì cũ) náo nức kéo nhau về chùa giỗ Tổ.
Bảo nhau cứ lệ thường niên
Tháng Tư mười bốn thì lên lễ chùa.
Kể từ ngày ấy trở đi, Thái hậu đã trở thành Ni sư sớm hôm đèn nhang lễ Phật, kế tục sự nghiệp Bồ tát. Bởi thế nhân dân địa phương rất kính phục yêu mến Thái hậu. Họ xin bà cho lập sinh từ ngay mé trước chùa để phụng thờ bà muôn thuở về sau. Chưa đầy 3 năm, tình cảm giữa nhân dân và Thái hậu đang đằm thắm, bỗng có chiếu chỉ của nhà vua rước bà hồi kinh để nhà vua được phụng dưỡng Thái hậu. Trước lúc lên đường Thái hậu mời các vị phụ lão và nhân dân đến chùa để bà đãi yến. Trong lúc ăn uống đang vui, thì Thái hậu bị trúng gió, đột ngột qua đời. Hôm ấy, vào ngày 16 tháng Hai âm lịch, nhân dân thương tiếc Thái hậu, họ viết các câu đối thờ bà tại miếu, đơn cử như câu:
1- Đế hậu vị tha, sơn thế cao phong tiêu vũ trụ;
Thần uy Phật đức, độ nhân phúc lượng đẳng hà sa.
Nghĩa là:
Thái hậu sẵn lòng thương người, chỗ đứng có thể như núi cao gió lộng nổi bật trong trời đất.
Uy thần đức Phật cứu giúp người, phúc nhiều như cát, ở bãi bể bờ sông.
2- Trần triều Mẫu nghi, quang đại hội hoằng thiên dã đế;
Phúc lâm thiền định linh, thông ảo hoá Phật nhi tiên!
Nghĩa là:
Là bậc quốc mẫu thời Trần, gương sáng bao la bà Thánh là đế;
Phật phúc như cây trên rừng, có phép mầu, tưởng như hoá, là Phật mà lại là Tiền.
Nhà vua nghe tin đau xót, hạ chiếu cho dân trang Hạ Thanh Oai phụng thời Thái hậu làm phúc thần và phụng thờ đức Bồ tát. Sắc chỉ còn lệnh cho dân làng phải nghiêm cẩn tránh huý 2 chữ “Thuận” và “Minh”.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư (Kỷ nhà Trần) thì chữ “Thuận” là tên huý của Thuận Từ Hoàng thái hậu, là Hoàng hậu của Minh Tông, mẹ đích của Hiến Tông. Còn chữ “Minh” là tên huý của Minh Từ Hoàng thái hậu vốn trước là Minh Từ Thái phi họ Lê Hồ(1) (mẹ sinh của Hiến Tông). Những sự kiện này đều thấy chép ở trong văn bản thần phả.
Chúng tôi sẽ phiên âm, phiên dịch một số tài liệu Hán Nôm cần thiết ở sau để tiện tham khảo.
Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CÁC DI TÍCH
Với chùa Bút Tháp, với công đức của vị Cao tăng (Bồ tát) đời Lý, cùng với sự đóng góp của Minh Từ Hoàng thái hậu, thì các di tích ở địa phương Thượng Phúc này đã có một vị trí đáng kể trong lịch sử Phật giáo nước ta. Cũng như Nho giáo, Lão giáo mặc dù được du nhập từ ngoại lai, thế nhưng Phật giáo Việt Nam vẫn mang một sắc thái riêng biệt của mình. Ngoài việc thờ Bụt Tây Trúc, thì ở chùa Việt Nam còn thờ cả bụt Việt Nam, Bồ tát Việt Nam. Đây là điều đặc biệt của chùa làng Thượng Phúc được ghi chép vào văn bản thần phả đáng lẽ chỉ giành riêng chép sự tích thần làng.
Theo sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn, vào thời thắng giặc Minh, vua Lê Thái Tổ muốn thưởng công cho một người vốn làm quan coi việc hình luật triều Trần đã có nhiều công lao giúp đỡ vua từ buổi đầu dấy nghiệp ở Lam Sơn. Nhưng người ấy cứ một mực thoái thác không nhận phần thưởng nào mà chỉ xin vua cho được đi tu, trong khi đó có biết bao người tranh nhau kể tích khai công để được hưởng tước lộc vua ban. Do dự băn khoăn mãi, cuối cùng nhà vua cũng phải thể cho cái sở nguyện của người ấy. Trước tiên ông về tu ở chùa Khúc Thuỷ, Thanh Oai rồi sau ở đâu thì không rõ. Vậy thì, vị Bồ tát họ Hồ ở Thượng Phúc phải chăng đúng là người mà học giả họ Lê đã nhắc trong Kiến văn tiểu lục của mình rồi sao? Vì Khúc Thuỷ đối ngạn với Thượng Phúc qua một con cầu trên dòng Huệ Giang mà.
Một ý nghĩa khác nữa, mà thế hệ chúng ta nhất thiết phải nêu lên nhưng một bài học lịch sử cho nền giáo dục nước ta hôm nay, đó là hiện thượng vị Cao tăng họ Hồ tìm kiếm, thu nạp, nuôi dưỡng dạy dỗ các trẻ mồ côi, nuôi dưỡng những quả phụ trong thiên hạ là những hành vi từ thiện từ bi rất đúng lẽ đời mà hợp với ý Phật. Ngoài việc nuôi con trẻ mồ côi, cho chúng cơm ăn áo mặc, lại còn dạy trẻ học hành chữ nghĩa, thì Bồ tát và Thái hậu đều đóng cả hai vai trò: làm cha làm mẹ, thầy giáo và bảo mẫu. Những việc làm từ bi từ thiện phải chăng đang là một trong những mục tiêu toàn cầu đang dấy lên trong thời đại chúng ta mà tổ tiên người Việt đã khởi phát rất sớm, chí ít cũng cách đây sáu, bảy thế kỷ.
* Dịch nghĩa:
SÁCH PHẢ CỔ CHÉP VỀ VỊ HOÀNG HẬU THỜI TRẦN MINH TÔNG (Lễ bộ chính bản)
Hùng Vương xưa ở núi cao là vị thánh tổ mở vận khơi nguồn, non sông cơ nghiệp hai ngàn năm lẻ. Hùng Vương dựng nước, núi xanh vạn dặm. Xây nên cung điện đế đô; nước biếc mênh mông. Một dải mở lối vua thánh đế thần giúp người cứu vật, thống lĩnh non sông 15 bộ mà làm triệu tổ của dân Bách Việt.
Lại nói thời Trần Minh Tông xưa lấy con gái họ Hồ ở đất Diễn Châu tên gọi Thuận Nương (sinh ngày 12 tháng 5), tuổi vừa 16. Thuận Nương dung nhan hồn nhiên xinh đẹp do bởi phúc ấm tổ tiên ban cho. Nhà ở bên sông, gia phong nề nếp, đời đời nối dỗi trâm anh. Thật xứng môn đăng hộ đối, tài sắc uyên ương. Thuận Nương là một phụ nữ hoàn mỹ duyên dáng má phấn, môi son, mắt sáng tựa nước hồ thu, mặt ngọc tóc mây, thập phần xuân sắc. Sắc đẹp chim sa cá lặn, trăng thẹn hoa nhường.
Tự thuở lấy chồng, về sau sinh hoạ 10 người con vừa trai vừa gái đều là những người hiếu thảo. Vua cha hết lòng dạy dỗ, con cái chẳng bao giờ ghen ghét đố kỵ nhau. Bấy giờ Thượng hoàng Minh đế băng hà, Thái tử kế vị lên ngôi Hoàng đế (tức Hiến Tông), Trong bối cảnh sau cuộc chiến tranh chống giặc Nguyên đầy gian khổ khốc liệt vừa giành thắng lợi, uy thế nước ta còn đang chấn động thiên hạ, thì giặc Chiêm Thành(2) tập kích đốt phát kho lẫm ở kinh thành. Hoàng thái hậu giữ gìn túi châu ngọc một mạch chạy về đạo Sơn Nam Thượng (sau đổi là thành Thăng Long), đúng tới trại Thượng Phúc, trang Hạ Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên thì Thái hậu dừng chân. Hoàng thái hậu nhìn thấy có một ngôi chùa (tục gọi là chùa Bảo Tháp). Bà bèn nảy ý mộ đạo xuất gia, để làm kế náu mình thời loạn. Thái hậu dạo ngắm bốn phía xung quanh chùa đều thấy cảnh trí phong cảnh hữu tình. Thế là Thái hậu vào chùa thụ giới sư tổ Thiền tăng họ Hồ (tên gọi Bà Lam). Ngài là bậc chân tu đắc đạo thời bây giờ. Ngay ngày hôm đó ngài lập hoả đàn đăng trì thiền hoá, khi ấy nhằm ngày 14 tháng 4, dân làng xôn xao sợ hãi. Từ đây Thái hậu sớm chiều lo toan đèn nhang hương khói dâng Phật tổ. Nhân dân cùng Thái hậu xuất tiền trùng tu chùa điện Thượng Phúc. Từ đấy nhân dân nơi sở tại đều hiểu rằng, họ cùng được an cư lạc nghiệp là nhờ ơn đức của Thái hậu, rồi họ xin lập sinh từ để phụng thờ Thái hậu mãi mãi về sau, bà vui lòng nhận lời. Trong ngày hôm đó thuyết yến tiệc mời các cụ phụ lão và nhân dân tới dự. Khi ấy Thái hậu bảo rằng: “Các ngươi hãy trân trọng nhớ lời dặn của ta, mãi vạn năm trang khu của ta phỉa phụng thờ cao tăng”. Nói đoạn, bà bèn lấy 30 nén vàng trao cho các cụ già mua thêm ao vườn để chu cấp cho công việc tế tự sau này. Bấy giờ đương tiết thượng tuần tháng 8 mùa thu. Vừa lúc có sứ giả mang chiếu thư của nhà vua tới vấn an Thái hậu và đưa xe loan tới thỉnh cầu bà hồi kinh để nhà vua mở tiệc vui mừng. Cũng đúng lúc ấy, gió mây đùng đùng nổi lên, trời tối đen mù mịt, lại thấy có đám mây 5 mầu rực rỡ từ mặt đất bốc lên, mọi người ngước mắt trông đã thấy Thái hậu tách khỏi đám mây ngũ sắc, bay đến bên bờ sông thì biến mất. Tức bà đã hoá. Khi ấy nhằm ngày 16 tháng 2, nhân dân khiếp sợ, bèn làm sớ tâu về triều. Nhà vua cho dân chúng gia thần ở khu Thượng Phúc, trại Hạ Thanh Oai cùng mỹ nữ rước sắc chỉ về quê tu tạo cung điện để phụng thờ Thái hậu.
Đến đời Hoàng triều nhà Lê, Tự Vương (chùa Trịnh) tiến phong đăng trật cho Minh Từ Hoàng thái hậu là: Huệ hoà gia hạnh, như ý đoan trang, thuần nhất thục diệu, Trinh Thuận phu nhân. Và từ đó khi hành lễ thì các đồ mũ khăn, quần áo sắc phục màu hồng, màu tía nghiêm cấm không được dùng.
Khi Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh, ngài mang 10 vạn tinh binh đi đánh giặc.
Quan quân vừa tiến đến đất huyện Thanh Oai, phủ Ứng Thiên, đạo Sơn Nam Thượng thì chạm trán với quân Minh. Vương cho quân nghỉ tại đền thần. Đêm đến Vương sai người cầu đảo thần phù hộ, chờ khi thắng trận sẽ phong sắc cho thần. Hôm sau Vương mang binh xuất trận. Quả nhiên quân ta đại thắng, giặc Minh đại bại. Bắt được tướng giặc Liễu Thăng, tại kinh đô ca khúc khải hoàn, Thái Tổ khao thưởng tướng sĩ. Có một tướng tâu rằng: “Sở dĩ ta quét sạch giặc Minh, chính là có sự ngầm giúp của thần linh nơi đây”. Thái Tổ bèn phong tặng cho sắc thần và mỹ tự: Phổ tế cương nghị anh linh. Ban sắc cho làm thượng đẳng phúc thần, vĩnh viễn cùng tồn tại với núi sông muôn thuở. Trao cho dân Thượng Phúc trại Hạ Thanh Oai sửa sang miếu điện để thờ tự Thái hậu.
Từ đó về sau đều linh thiêng hiển hách, cho nên đời đời đế vương đều gia phong mỹ tự.
Các tiết ngày sinh ngày hoá của thần, cấm ngặt dân chúng không được dùng 2 chữ “Thuận, Minh). Chuẩn cho khu Thượng Phúc, trang Hạ Thanh Oai phụng thờ bà.
Ngày sinh thần 12 tháng 5, chính lệ lễ ở trong dùng cỗ chay, mâm phẩm quả, bánh trái các màu, lễ dùng ở ngoài lợn đen, rượu, ca hát các trò vui tuỳ thích. Phép đốt mã phải mang ra bãi sông mà hoá tống thì tốt lành.
Ngày thần hoá 16 tháng 2 chính lệ. Lễ dùng như ngày sinh. Cấm đốt vàng mã và các trò chơi.
Một lệ làm lễ giỗ Tổ sư tại chùa vào ngày 14 tháng 4. Dùng cỗ chay. Bàn dưới lợn đen, xôi rượu.
Hồng Phúc năm thứ nhất (1572) tháng Giêng ngày tốt
Hàn Lâm viện Đông Các đại học sĩ Bề tôi
Là NGUYỄN BÍNH vâng mệnh soạn
Vĩnh Hựu năm thứ 6 (1740) tháng 8 ngày lành
Nội các bộ Lại sao như bản chính xưa.
DUỆ HIỆU CỦA THẦN
Tổng số mỹ tự sắc phong của các triều đại tăng là 104 chữ.
BÀI VĂN TẾ HOÀNG THÁI HẬU
Minh Tự huệ hoà, gia hạnh như ý, đoan trang thuần nhất, thục diệu trịnh thuận, phổ tế cương nghị, anh linh thuận mục, hiến chương diễm khánh, đôn kính thuần lễ, thuần lệ hoà mỹ thuần khiết, hy thế dung nghi, công tác thi hiền hạnh dung đức, trinh tĩnh đốc thực, hoà nhu thanh lệ phong diễn, từ huệ khoan thứ, uyên chinh trang túc trình liệt, ôn từ ý đức, hữu phong gia phạm, ôn hoà nhuận trạch, thuỳ khánh thanh khiết, huy gia hậu tảo, thuần hy cảnh hà tuy hưu, Hoàng thái hậu Đại vương vị tiền.
Dập đầu, ngẩng đầu ngóng trông Thượng hoàng Minh Tông Hoàng đế bệ hạ cùng về hâm hưởng!
(Sắc mục toàn thôn kính cẩn sao lục)
Chú thích:
(1) Thần chép là họ Hồ
(2) Lúc này đâu có giặc Chiêm Thành tới đốt phá?
Thông báo Hán Nôm học 2000, tr.162-172