VI | EN
20.Văn miếu Hà Nội qua chùm thơ vịnh đời Nguyễn (TBGNH 2002)
TBHNH2002

VĂN MIẾU HÀ NỘI QUA CHÙM THƠ VỊNH ĐỜI NGUYỄN

LÃ MINH HẰNG

Viện Nghiên cứu Hán Nôm

       Văn miếu Quốc Tử Giám với tư cách là trường đại học đầu tiên của Việt Nam, đã trở thành một điểm du lịch tiêu biểu mà các du khách khi đặt chân tới Việt Nam, tới Hà Nội không thể không một lần đến thăm quan. Ngày nay, Văn miếu nằm giữa thủ đô Hà Nội, bốn mặt đều là phố. Cổng chính quay về phía Nam và nằm trên phố Quốc Tử Giám, phía Bắc giáp phố Nguyễn Thái Học, phía Tây là phố Tôn Đức Thắng và phía Đông là phố Văn Miếu. Sách Thăng Long cổ tích khảo hội đồ ghi trước đây “Văn Miếu nằm ở phía Tây Nam thành Thăng Long thuộc địa phận thôn Minh Giám, huyện Thọ Xương”. Thời Pháp thuộc, Văn Miếu thuộc làng Thịnh Hào, tổng Yên Hạ, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông.

       Văn Miếu được xây dựng đời Lý Thánh Tông niên hiệu Thần Vũ 2 (1070). Đây là nơi phụng thờ chí thánh tiên sư Khổng tử Văn Tuyên Vương cùng chư vị tiên hiền. Đây cũng là trường đại học đầu tiên của nước ta với cấp học cao nhất trong hệ thống giáo dục thời phong kiến. Các Giám sinh được lựa chọn vào đây phần lớn là con em của tầng lớp quý tộc và một số ít là con em thuộc tầng lớp bình dân nhưng có thành tích học tập xuất sắc.

       Trải bao đời nay Văn Miếu vẫn là biểu tượng của Thăng Long - đất ngàn năm văn vật. Cũng đã có rất nhiều các bài thơ vịnh, các trước tác viết về Văn Miếu được ghi lại trong thư tịch cổ như: Văn Miếu khảo, Thăng Long cổ tích khảo, Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ... Nói đến thơ vịnh Văn Miếu không thể bỏ qua chùm thơ vịnh Hà thành Văn Miếu được ghi lại trong Hán Nôm thi văn tạp lục.

       Hán Nôm thi văn tạp lục là cuốn sách chép tay, chữ viết thảo, khổ 14,5 x 21,5 cm, gồm 50 trang. Sách mang ký hiệu VN.153 của Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm. Đây là tập thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm của nhiều tác giả khác nhau như Trịnh Sâm, Phạm Văn Nghị, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Duyên Ba, Trần Thế Long.. Về thơ chữ Hán có thơ vịnh đền, miếu, hang, động, vịnh mùa hè... có phú chùa Phi Lai, có văn sách bàn về đạo Phật... về thơ chữ Nôm có thơ vịnh hang Lèn, vịnh Văn Miếu Hà Nội, thơ tập Kiều, vịnh cái cối xay, hoả lò, vịnh Hồ Tây... Các bài thơ ở đây không được sắp xếp theo một trật tự nhất định mà khá tự do gặp đâu ghi đấy đúng theo tính chất của một cuốn “tạp lục”: thơ và phú, thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm lẫn lộn.

       Đáng chú ý hơn cả là chùm thơ Nôm vịnh Văn Miếu gồm 8 bài, và cả 8 bài đều được làm theo thể thất ngôn bát cú. Bài 1 có tên là Vịnh Hà thành Văn Miếu do Nguyễn Di Dân làm. Các bài sau lần lượt của các tác giả Nguyễn Duyên Ba (Hà Nội), Nguyễn Di Dân (Hà Đông), Phạm Lê Thúc và Phạm Văn Thích (Hà Nội), Nam Đình Mạc Xuân Lan, Bắc Ninh Nguyễn Văn Bắc và Quảng Ngãi Trần Thế Long. Các tác giả đều dựa vào câu ra hoạ (câu đầu bài 1) của Nguyễn Di Dân để làm thơ đối lại. Bởi vậy trong 7 bài thơ sau, câu phá đề đều là “Ngàn năm văn vật đất Thăng Long”.

       Bằng cứ về văn tự cho phép ta nghĩ đến khả năng đây là chữ Nôm thuộc giai đoạn sau của thời kỳ phát triển. Ví dụ các chữ đắp (+), đá (+), rạng (+), gió (+) đều được viết dưới dạng chữ Nôm tự tạo. Đặc biệt xu hướng xác chỉ hoá về nghĩa – một đặc điểm của chữ Nôm giai đoạn sau – còn được thể hiện rõ ở chữ Nôm rộng (+), chữ Nôm ghi được viết gồm bộ trúc và chữ (+), có nhiều chữ Nôm được viết bằng hai con chữ khác nhau như : ++, chữ đứng thì được viết là +và bộ +. Lại nữa, ở câu 7 bài 2 có ghi “Hơn tám trăm năm cơ chỉ cũ”. Chúng ta đều biết Văn Miếu Hà Nội được xây dựng năm 1070, như vậy có thể khẳng định chùm thơ này được sáng tác vào những năm cuối của thế kỷ XIX.

       Khảo sát địa danh lịch sử cũng cho ta thêm những chứng cứ tin cậy về niên đại của các tác phẩm. Qua đợt cải cách hành chính thời Minh Mạng (1831), tỉnh Hà Nội được thành lập gồm phần đất của kinh thành Thăng Long cũ và trấn Sơn Nam thượng (gồm đất của tỉnh Hà Đông và Hà Nam sau này). Cuối thế kỷ 19, sau hai lần thành Hà Nội thất thủ, chính phủ Nam triều (1884) phải ký hoà ước với Pháp cắt phần đất của kinh thành Thăng Long cho Pháp xây dựng phủ toàn quyền Đông Dương. Tỉnh lị của Hà Nội lúc đó dời về làng Cầu Đơ (Hà Đông). Sau nhiều lần chia bổ đất đai, tỉnh Hà Nội tách thành hai tỉnh Hà Đông và Hà Nội. Trong văn bản thấy ghi tách biệt hai đơn vị hành chính Hà Đông và Hà Nội (Hà Nội Nguyễn Duyên Ba và Hà Đông Nguyễn Di Dân), do vậy văn bản này có sớm nhất cũng vào thời điểm mà Hà Nội và Hà Đông đã tách thành hai đơn vị hành chính riêng rồi.

       Dưới đây xin giới thiệu chùm thơ này để độc giả tham khảo:

Bài thứ nhất:

Vịnh Hà Thành văn miếu

Nguyễn Di Dân

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Văn Miếu di truyền dấu tổ tông

Đứng với non Nùng tường vách cũ

Trải từ triều Lý lửa hương(1) nồng

Ngàn chồi cổ thụ mờ đàn hạnh(2)

Đòi(3) dãy tàn bia nhớ bảng rồng(4)

Thành quách nhân dân dầu thế mới

Miếu còn e cũ đạo còn chung.

Bài thứ hai:

Hà Nội Nguyễn Duyên Ba

(kỳ nhị)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Quốc tuý(5) là nơi có phải không

Lễ nhạc xây nền quy củ(6)

Cung tường rạng vẻ nước non rồng

Xuân thu trải mấy hương còn đượm

Phong vũ đòi cơn đạo vẫn sùng

Hơn tám trăm năm cơ chỉ(7)

Làng Nho qua đó đứng mà trông.

Bài thứ ba:

Hà Đông Nguyễn Di Dân

(kỳ tam)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Thánh miếu nào ai chẳng kính sùng

Hoàng Lý từ đàn xây đắp rộng

Tố vương(8) thần tượng lửa hương nồng

Khuê văn(9) vẻ rạng in sông Nhị

Tiến sĩ bia cao ngất núi Nùng

Còn nước còn non còn lễ nhạc

Mặc dầu Á(10) mới Âu phong(11).

Bài thứ tư:

Hà Nội Phạm Lê Thúc

(kỳ tứ)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Mấy bậc cung tường thử đứng trông

Dãy đá nhà Lê bia giáp bảng(12)

Tường vôi đời Lý cột Nho(13) phong

Hương bay bến Nhị nghĩ sông Tứ(14)

Gió thổi non Nùng tưởng núi Đông(15)

Ướm hỏi miếu này còn chữ Hán

Làng Nho bể hoạn biết hay không.

Bài thứ năm:

Hà Nội Phạm Văn Tích

(kỳ ngũ)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Miếu Khổng(16) này ai có nhớ không

Đất Bắc xưa gây nền giáo dục

Trời Nam nay vẫn nết Nho phong

Mênh mông bể giáo làn sông Nhị

Rậm rạp rừng Nho vẻ núi Nùng

Công đức còn ghi lăng miếu cũ

Ngàn thu lừng lẫy khắp phương Đông.

Bài thứ sáu:

Nam Đình Mạc Xuân Lan

(kỳ lục)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Trỗi dậy con tiên đến cháu rồng

Rồng vẫn chứa gan dòng nước Nhị

Lân còn nhả ngọc áng mây Nùng

Trải bao chiếu phượng(17) tiến in nén

Điệp mấy cung loan điểm sắc hồng

Chuông khánh khua ran đâu đó tỉnh

Sau ngày thêm nức tiếng Nam phong.

Bài thứ bảy:

Bắc Ninh Nguyễn Văn Bắc

(kỳ thất)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Miếu vũ nguy nga vẫn kính sùng

Bia đá rõ ràng ghi thánh tích

Bảng vàng toả chói cánh trời Đông

Rừng Nho nước thẳm nhuốm sông Nhị

Bể Thánh mây tuôn phép núi Nùng

Trải Lý, Trần, Lê trứ cổ sắc

Treo gương lễ nghĩa thế gian trông.

Bài thứ tám:

Quảng Ngãi Trần Thế Long

(kỳ bát)

Ngàn năm văn vật đất Thăng Long

Nhìn thấy nền Nho phút chạnh lòng

Bia cũ Lý triều hàng chữ tạc

Nền xưa Khổng Thánh dấu rêu phong

Tiếng chuông Chu Tứ(18) in sông Nhị

Nét vẻ Ni Sơn(19) lạt núi Nùng

Hỡi khách vũ đài qua lại đó

Cung tường ngày trước nhớ hay không.

Chú thích:

(1) Lửa hương (hay hương lửa): Lời nguyền.

(2) Đàn hạnh: nền cũ nơi Khổng tử giảng học, ở trước Khổng miếu tại Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.

(3) Đòi (từ cổ) nghĩa là nhiều.

(4) Bảng rồng: bảng ghi tên người thi đỗ.

(5) Quốc tuý: tinh tuý (cái hay) của đất nước.

(6) Quy là cái thước vẽ hình tròn và củ là thước vẽ hình vuông. Quy củ ở đây dùng với nghĩa là mực thước. Chữ củ nguyên bản viết là đoản 短, chúng tôi cho là người sao chép đã viết lầm với chữ 矩.

(7) Cơ chỉ: nền móng.

(8) Tố vương: tước phong của Khổng tử do vương triều phong kiến Trung Hoa ban tặng.

(9) Khuê văn: Khuê là một ngôi sao trong nhị thập bát tú. Sau này sao Khuê dùng để biểu tượng cho văn học. Trong bài khuê văn có nghĩa là Khuê văn các.

(10) Á vũ: Mưa Á.

(11) Âu phong: gió Âu.

(12) Dãy đá: dãy bia. Hàng bia trong Văn Miếu được xây dựng thời Lê; năm Giáp Thìn niên hiệu Hồng Đức 15 (1484).

(13) Nho phong: chữ Nho trong câu này (và cả ở câu 8) đều viết nhầm thành chữ Phật. Theo luật bằng trắc thì ở đây phải đọc vần bằng; hơn nữa đọc Nho sẽ đúng hơn về mặt nghĩa.

(14) Sông Tứ: con sông ở tỉnh Sơn Đông (xưa là đất nước Lỗ) Trung Quốc. Con sông này chảy qua đất Khúc Phụ quê hương Khổng tử. Nơi đây Khổng tử thường dẫn học trò ra để giảng giải đạo lý. Sông Tứ được dùng để chỉ văn hoá nước Lỗ, nguồn gốc của đạo Nho.

(15) Núi Đông: Đông Sơn, quê hương Khổng tử.

(16) Miếu Khổng: miếu thờ Khổng tử.

(17)Chiếu Phượng: chiếu chỉ của nhà vua.

(18)Chu, Tứ là tên hai con sông ở Trung Quốc. Sông Chu: sông thuộc tỉnh Sơn Đông Trung Quốc; bắt nguồn từ Thái Sơn, phía Tây Bắc nhập với sông Tứ.

(19) Ni Sơn: tên ngọn núi ở nước Lỗ, nơi Khổng tử sinh.

Thông báo Hán Nôm học 2002, tr.178-185

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM - VIỆN NGHIÊN CỨU HÁN NÔM

Địa chỉ: 183 Đặng Tiến Đông - Đống Đa - Hà Nội
Email: hannom.vass@gmail.com
Tel: 84 24. 38573194
Chịu trách nhiệm nội dung: Viện Nghiên cứu Hán Nôm